36. 1968, Năm Mậu Thân
I- TRÌNH BÀY + NHẬN ĐỊNH
1968, Năm Mậu Thân
Stephen B. Young
Đối với người Việt Nam và cả những người Á Châu dùng âm lịch, ngày Tết là một chỉ dấu báo hiệu khởi đầu cho một năm mới mà mọi việc trong vũ trụ đều đổi thay. Vào đúng lúc giao thừa, bắt đầu chu kỳ của 12 tháng mới, sinh khí Âm và Dương lại bắt đầu. Dương khí đã bị Âm khí lấn át làm cho ngày tối thêm và lạnh thêm vào mấy tháng trước ở mùa Đông, mau chóng trỗi dậy, cho khí trời sinh động, người ta đã gọi là mùa Xuân.
Mỗi năm, sự tuần hoàn trong vũ trụ có sắc thái riêng rẽ, ảnh hưởng đến vận mệnh của từng cá nhân về những chuyển biến hệ trọng xẩy ra trong năm. Mỗi năm mang một tên riêng, không phải là một chuỗi những con số tiếp nối như Tây phương, mà là những biểu tượng của tạo hóa. Tại Việt Nam, những nhà chiêm tinh thường hay đoán vận mệnh căn cứ vào ngày tháng năm sinh theo Âm lịch bởi vì sinh lực của năm sinh là điều tiền định ở sinh mệnh của mỗi con người.
Năm Thân là năm dương thịnh, năm của phái Nam làm nên đại cuộc. Năm Thân 1788, một Tướng lãnh Việt Nam đã đánh bại đạo quân xâm lược của Trung Hoa nhằm chiếm Việt Nam để thiết lập chế độ bù nhìn của họ. Sau chiến thắng đó, vị Tướng đã lên ngôi Vua để đưa Quốc gia đến tự chủ. Cũng năm Mậu Thân 1428, một nhà lãnh đạo quân sự khác của Việt Nam đã chiến thắng sau 10 năm kháng chiến chống lại sự xâm lược và đô hộ của triều đại vua Nhà Minh bên Tầu.
Lợi dụng sự kiện lịch sử ấy, năm Mậu Thân 1968 bắt đầu từ nửa đêm 30-01-1968 Hà Nội đã đưa cuộc chiến Việt Nam vào biển máu bằng cách mở các cuộc tấn công ồ ạt vào các Thành phố, Thị trấn Miền Nam Việt Nam vào thời điểm mà Hà Nội tin là Miền Nam không phòng thủ, bảo vệ. Cả Ellsworth Bunker cũng kinh ngạc ở cuộc tấn công này.
Áp dụng đúng quy luật chiến tranh, lợi dụng yếu tố bất ngờ, khi các mục tiêu quân sự chủ quan và thiếu cảnh giác, Hà Nội đã mở ra cuộc tổng công kích vào dịp Tết nhằm nâng cuộc chiến tranh du kích lên một bước cao hơn. Hà Nội đã đưa các đơn vị bộ binh của họ vào nhà và các đường phố ở Thị trấn cũng như ở Thành phố.
Sau Tết MT 1968, tình huống đã thay đổi. Cuộc leo thang chiến tranh vào dịp Tết trước đó làm cho các đơn vị chính quy Hà Nội bị thiệt hại nặng nề. Miền Nam VN đã tìm thấy niềm tin mới. Nghịch lý thay, trong khi ấy thì công luận tại Mỹ ủng hộ cuộc chiến tranh này nhanh chóng giảm sút. Xuất phát từ những quan điểm chủ bại của một số trong tầng lớp có ảnh hưởng đến quần chúng, thành phần e ngại và sợ hãi Hoa Kỳ sẽ bị thất bại và yêu cầu phải chấm dứt cuộc chiến VN ngay tức khắc với bất cứ giá nào, đã lan rộng khắp cả đường phố.
Ngày thứ hai trước Tết, một tín hiệu buồn cười đã đến với Bunker. Trong giờ ăn trưa và đang có những trao đổi quan trọng với Tướng Westmoreland và Robert Komer thì một tiếng nổ khá lớn xảy ra bên ngoài của tư thất Bunker. Sợ những điều bất trắc, người lính Thủy quân Lục chiến gác tư dinh Đại Sứ liền bấm còi báo động lập tức, chung quanh tư dinh đầy lính bảo vệ. Bunker vẫn tiếp tục cuộc họp. Liền sau đó, viên Chỉ huy toán Thủy quân Lục chiến có nhiệm vụ bảo vệ tư dinh bước lên tầng lầu, nơi mà Bunker và các vị khách đang dùng bữa ăn trưa, báo cho ông ta biết tiếng nổ vừa rồi xuất phát từ một chiếc pháo do một người lính Miền Nam làm và đốt để mừng ngày Tết sắp đến.
Những giờ phút mở đầu cho một năm mới tại Việt Nam thường được cả nước -qua những tràng pháo nổ- coi như một chỉ dấu cho mỗi gia đình sẽ được gặp nhiều may mắn, hạnh phúc và an lành trong năm sắp đến. Suốt những ngày Tết, người Việt Nam quây quần trong gia đình của họ. Đàn bà thì thường xuyên trong nhà bếp để chuẩn bị nấu nướng những món ăn ngon đãi họ hàng thân hữu. Đàn ông chơi bài, uống rượu. Còn trẻ con thì kéo nhau đến chúc tuổi ông bà. Trên bàn thờ tổ tiên đầy hoa và trái cây. Dù có đi xa hay bận rộn quanh năm, vào ba ngày Tết, người Việt Nam nào cũng phải cố gắng trở về gia đình của họ. Chuyện đất nước họ gác lại, không mấy quan tâm. An ninh xã hội cũng lơ là.
Chính quyền của ông Thiệu vừa mới đắc cử nên muốn tạo cho dân chúng Việt Nam những cuộc vui trong những ngày Tết trọng đại này. Lần đầu tiên trong nhiều năm bị cấm đoán, dân chúng được đốt pháo trong mấy ngày Xuân. Quân đội và viên chức chánh quyền luân phiên được nghỉ phép để về ăn Tết với gia đình. Dưới cái nhìn của chính phủ Thiệu, cuộc chiến được tạm ngưng vài ngày. Phía cộng sản Hà Nội cũng tuyên bố ngưng chiến trong ngày Tết của dân tộc như phía Miền Nam Việt Nam và Đồng minh. Thiệu cũng rời Sài Gòn để về ăn Tết bên phía quê vợ ông ở Mỹ Tho thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Chủ quan vì tin vào những điều đối phương tuyên bố, chính quyền Miền Nam đã buông thả mọi việc không đề phòng.
Đúng vào lúc chính quyền sơ hở nhất, cộng quân đã phát động cuộc tổng công kích. Phần Bunker, ông ta đã dự đoán qua những chuyển động và chuẩn bị của đối phương trong năm 1967, cộng quân sẽ mở những cuộc tấn công vào dịp Tết.
Chẳng hạn, Hà Nội đã tăng cường lực lượng quân chánh quy của họ ở phía Bắc dọc vùng Phi Quân sự, và cả ở vùng biên giới tại Lào. Vùng này trước đó chỉ có hai sư đoàn Bắc việt nay đã tăng lên tới 4 sư đoàn. Hoa Kỳ đã tăng cường quân về phía Bắc và Westy đã nói với Bunker là quân của ông đã sẵn sàng để đối phó với Bắc Việt. Tin tức khai thác từ những tù hàng binh cộng quân cũng đã xác định là họ đã được lệnh chuẩn bị cuộc tấn công.
Westmoreland tin rằng những trận tấn công lớn sắp sửa xảy tới trước mắt, chung quanh Sài Gòn, thành ra một số các đơn vị Hoa Kỳ đóng quân tại vùng rừng núi đã được lệnh di chuyển về đóng quân chung quanh khu dân cư. Những cuộc chuyển quân này chỉ xẩy ra trước Tết vài ngày theo yêu cầu của Tướng Tư Lệnh vùng của Westmo-reland và cũng theo những nguồn tin tình báo mà Westmoreland thu thập được. Westmoreland cũng đã hoãn thi hành kế hoạch mở các cuộc càn quét về phía Bắc Sài Gòn mà ông đã dự trù.
Kể từ cuối mùa Thu năm 1967, mức độ tăng cường quân Bắc việt vào Miền Nam Việt Nam có những chỉ dấu cho thấy chậm lại. Thế nhưng khi nào, nơi nào, và đâu là mục tiêu chính trong cuộc tấn công này thì chưa biết rõ. Nguồn tin tình báo cũng chỉ cho biết là sắp có những cuộc tổng công kích, thế thôi.
Đầu tháng 10 năm 1967, Bunker đã gọi cho Tổng thống Johnson lưu ý về một tiểu luận do viên tướng Hà Nội là Võ nguyên Giáp vừa mới in ra. Bunker đặc biệt lưu ý đến điều mà Giáp gọi là “sáng tạo”, tập trung nỗ lực để pháo kích và đặt chất nổ vào các mục tiêu đã chọn lựa song song với việc tấn kích các cứ điểm khác, rồi rút quân.
Và rồi suốt tháng 1-1968 đã có 42 vụ tấn kích vào các Thị trấn và Thành phố. Tuần lễ trước Tết, một nơi cất giấu vũ khí AK47 do Hà Nội chuyển vào Sài Gòn đã bị Cảnh Sát khám phá. Lệnh báo động được ban hành. Sáng ngày 30 tháng 1, Tướng Trưởng, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 đóng tại Huế đã ban hành lệnh cấm trại. Tướng Trưởng nghi ngờ là cộng quân sẽ mở các cuộc tấn công tại các tỉnh vùng Cao Nguyên.
Và Việt cộng đã bắt đầu tấn công. Hoa Kỳ liền hủy bỏ lệnh ngưng chiến trong dịp Tết. Tướng Westmoreland thông báo cho các đơn vị Hoa Kỳ biết là chiến dịch tấn kích của cộng quân đã bắt đầu. Nhưng cả Westmoreland và Bunker đều không dự đoán là mục tiêu của cộng quân nhằm vào các khu đông dân cư. Cả hai ông đều cho rằng những nhà quân sự của cộng quân không ngu xuẩn đến độ muốn có một kết quả về chính trị, họ lại xua quân của họ tàn sát và hủy diệt sinh mệnh và của cải của dân chúng Miền Nam Việt Nam và đồng thời đưa quân của họ vào các nơi tự sát.
Trong đêm 30-01-1968, Bunker tham dự một bữa tiệc theo lời mời của hai nhân viên trẻ trong Tòa Đại Sứ, ăn mừng ngôi nhà khang trang mà họ vừa thuê được. Bữa tiệc ấy cũng còn có ý nghĩa là để ăn mừng Tết. Trong thiệp mời với dòng chữ ghi rõ để đón mừng “Ánh sáng đã thấy được ở cuối đường hầm”. Ellsworth Bunker không thể ngờ rằng những xáo trộn to lớn về mặt quân sự mà cả đời nghiệp vụ của ông chưa hề trải qua, sẽ xẩy đến vào giờ sau đó. Trong lúc tiếp tân, Bunker vẫn thanh thản dự trù sẽ đọc lại một số sách báo, tài liệu đang chờ ông vào những ngày Tết này.
Cùng đêm ấy, Hồ Chí Minh đã đưa lệnh tấn công, qua bài thơ đọc trên đài phát thanh Hà Nội: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua…”. Hà Nội hy vọng rằng với cú đấm bất thần về mặt tâm lý ấy, họ sẽ loại Hoa Kỳ ra khỏi vòng chiến, điều mà trên lãnh vực quân sự họ không thể thực hiện được. Cũng giống như khi chiếm được Điện Biên Phủ năm 1954, họ đã chấm dứt được sự đô hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Vào mùa Hè 1967, khi kế hoạch tổng công kích vào dịp Tết đã được đặt ra do chiến lược gia hàng đầu của Hà Nội là Võ nguyên Giáp, thì nỗ lực mà Lyndon Johnson thực hiện để ứng phó vào cuộc chiến đã lên đến tột đỉnh. Bổ túc cho nhận định này, Giáp viết thêm, Hoa Kỳ đã cạn khả năng để leo thang chiến tranh. Xuất phát từ nhận định đó, Hà Nội cho rằng thời điểm đã chín mùi để họ giải quyết cuộc chiến VN.
Khoảng trước 3 giờ sáng đêm 31 tháng giêng, một tiểu đội thuộc tiểu đoàn C10 đặc công cộng quân đã rời một nhà để xe cùng con đường mà Bunker vừa tham dự buổi tiệc “Ánh sáng cuối đường hầm” vào lúc tối để tiến về khu vực 4 mẫu của Tòa Đại Sứ nằm ngay Trung Tâm Sài Gòn.
Sau khi đặt chất nổ phá thủng một lỗ lớn bức tường, toán đặc công tiến vào khuôn viên bao quanh một cao ốc nhiều tầng vừa mới xây bao gồm văn phòng chính của Tòa Đại Sứ, bắn chết 4 Quân cảnh Mỹ. Họ bắn vài quả lựu đạn vào tòa nhà, ngay lối đi ở tầng một, tạo vài nơi loang lỗ. Thế nhưng đội cảm tử đã không vào được bên trong tòa cao ốc và lần lượt họ bị giết hoặc bị bắt. Thoạt đầu Toán Quân cảnh và Thủy quân Lục chiến Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ Tòa Đại Sứ cũng lúng túng. Họ không ngờ.
Sống trong căn nhà khá sang trọng và lộng lẫy thuộc khuôn viên của Tòa Đại Sứ là George “Jake” Jacobson, một điều hợp viên của Bunker, đặc trách giải quyết những tổ chức bất đồng quan điểm về chính sách của Hoa Kỳ. Jake hiểu rõ những phức tạp về Việt Nam và đã giải quyết rất khôn khéo. Ông ta chạy đến Bunker và báo cho biết là đang có cuộc tấn công vào khu vực Tòa Đại Sứ. Ellsworth Bunker bình tĩnh, hơi ngạc nhiên hỏi: “Việc gì đang xẩy ra? Tình huống ra sao?”.
Sau khi nói cho Bunker biết là có vài Việt cộng đã đột nhập vào bên trong khuôn viên và đang chống trả với các lực lượng an ninh, Jake tiếp: “Mẹ kiếp! Nếu có súng tiểu liên, tôi sẽ hạ chúng từng thằng”.
Khi tấn công Tòa Đại Sứ, tư thất của Bunker là nơi bị đạn nhiều nhất. Căn nhà nằm ở cuối một con đường ngắn. Dọc theo lối đi từ đường vào nhà là bức tường dài, cao và dầy đứng sừng sững của nghĩa trang, tăng thêm phần an ninh cho khu này. Đường này ít xe cộ lưu thông nên cũng dễ kiểm soát. Hai anh em ông Diệm và Nhu sau khi bị sát hại cũng mai táng tại nghĩa trang đó. Thế nhưng trong những giờ cao điểm của đêm 31 tháng 1, cộng quân đã đột nhập vào phía bên kia bức tường nơi có nghĩa địa để bắn vào nhà Bunker và bức tường trở thành bia chắn khi họ bị bắn trả.
Ngay khi phát súng nổ đầu tiên, Toán Thủy quân Lục chiến bảo vệ tư thất Bunker liền đánh thức ông ta. Chưa kịp thay quần áo, ông đã được họ vội vàng đưa đến một ngôi nhà khác an toàn trong bộ áo ngủ. Nhà này dành cho Trưởng phòng An ninh bảo vệ Sứ Quán, được trang bị đầy đủ phương tiện truyền tin. Người giúp việc đã nghỉ Tết và khách cũng không có.
Vừa vào trong nhà, Bunker liền gọi điện thoại cho Westmoreland và được báo là cuộc tổng công kích của Hà Nội bắt đầu triển khai. Cộng quân đã lần lượt tấn công vào 5 trong 6 Đô thị lớn của Miền Nam, 36 trong 44 Tỉnh lỵ và 64 trong 242 Quận lỵ. Một cách chung, tất cả các mục tiêu phần lớn nằm trong khu vực dân chúng đang sinh sống. Ngoại trừ Long Bình, căn cứ tiếp liệu của Hoa Kỳ nằm về phía Bắc Sài Gòn bị bỏ trống, vì các đơn vị đã bị điều động theo lệnh của Westmoreland, tăng cường phòng thủ ở các Thành phố. Vì các đơn vị cộng quân đã lộ diện xa những vùng rừng núi ẩn giấu của họ nên họ đã bị các đơn vị Hoa Kỳ tấn kích và gây thiệt hại nặng nề.
Vào hừng sáng, Thủy quân Lục chiến Mỹ đã có mặt đầy tư thất của Bunker. Dùng hơi gas bắn vào các nơi tình nghi là còn VC đang ẩn náu. Ellsworth Bunker chờ hết hơi gas mới trở lại nhà, thay quần áo và lên văn phòng Tòa Đại Sứ làm việc. Trên đường đến nơi Bunker đã thấy được những thiệt hại do Cộng quân gây ra và cũng nhìn thấy xác những đặc công Việt cộng chết còn nằm trong khu vườn Tòa Đại Sứ.
Jake đã có mặt tại văn phòng để chờ Bunker đến. Đêm ấy, Jake đã ẩn trốn trên tầng lầu hai của nhà ông trong khi lính Việt cộng cuối cùng theo hướng dẫn đã khám phá ra nhà ông. Một Quân cảnh trẻ Mỹ liền quăng cho Jake khẩu súng và chính Jake phải hạ bất đắc dĩ người lính Việt cộng khi hắn ta xuất hiện trên tầng lầu. Khi Bunker đến, Jake đã trở lại trạng thái bình tĩnh, rất biết ơn người Quân cảnh Mỹ mà ông ta không thấy mặt vì đêm tối đã quăng cho ông ta khẩu súng vừa đúng lúc.
Rồi Westmoreland cũng tới và nói về trận chiến. Cùng lúc ấy, các phóng viên báo chí Hoa Kỳ trú ngụ tại các khách sạn cách đó không xa cũng hối hả chạy đến. Tướng Westmoreland đành phải mở cuộc họp báo bất thường ngay tại sân cỏ trước tiền đình Tòa Đại sứ. Westy đã tỏ ra tự tin và lạc quan về sự giáng trả chính xác cho dù tình huống xẩy ra trong một trường hợp thật căng thẳng. Ông ta nhấn mạnh, khắp Miền Nam Việt Nam, quân đội của Hà Nội đã lộ diện nguyên hình và chính Hà Nội đã đẩy quân lính của họ vào chỗ tự nguyện để chết trước hỏa lực của Quân đội Miền Nam Việt Nam cũng như Quân đội Hoa Kỳ và Đồng Minh. Cuộc tấn công bất ngờ của Hà Nội đã bị đánh bại. Westmoreland kết luận, không cần phải chờ đến kiểm chứng và dù cuộc tổng công kích chỉ mới xảy ra ngày đầu, ông ta vẫn dự đoán rằng Hà Nội vẫn tiếp tục tung vào cuộc chiến những đại đơn vị của họ đang nằm bên kia vùng giới tuyến phi quân sự.
Đứng đàng sau Westy, yên lặng quan sát các phóng viên, Bunker thấy rõ thái độ e ngại và nghi ngờ của họ lộ hẳn trên nét mặt khi họ lơ đãng nghe những nhận xét của vị Tướng Tư Lệnh Hoa Kỳ. Ellsworth Bunker liền nói với Jake: “Những gì Westy vừa nói là sự thật. Nhưng Việt cộng cũng giành được phần thắng to lớn ở mặt trận tuyên truyền”. Những phóng viên trẻ và từng nhiều năm thiếu hiểu biết về cuộc chiến này không mấy khả tin khi nghe lực lượng địch quân bị phản công. Nơi nào mà Tướng Westmoreland thông báo là lực lượng Cộng quân đã bị chặn đứng thì hầu như những nhà báo có mặt đều bày tỏ thái độ nghi ngờ. Bởi vì họ chẳng bao giờ được cảnh giác trước một tình huống tồi tệ như thế này có thể xảy ra. Đối với họ lúc này, Westmoreland là con người tệ hại, trốn tránh trách nhiệm và trước mắt là Tướng Westmo-reland phải chịu trách nhiệm đã không chặn đứng được một cuộc tổng tấn công. Họ cảm thấy vì tính chủ quan và khinh địch, Westmoreland đã đưa Hoa Kỳ đến bờ vực của sự thất bại, cuộc tổng công kích Mậu Thân sẽ chẳng thể xảy ra (theo họ) như Westmoreland và Bunker nhận định và dân chúng Hoa Kỳ đã tin, là cuộc chiến thắng đang trên đà tiến triển.
Bunker đã không có một lời bình luận nào trong cuộc họp báo và liền trở về phòng làm việc của ông ở lầu ba. Ông ta gọi điện thoại cho vợ, đang là Đại sứ Hoa Kỳ tại Nepal, báo tin ông bình an, và nói cảm nghĩ đầu tiên của ông về cuộc tấn công này là cộng sản muốn tác động về mặt tâm lý hơn là cố tìm một chiến thắng về quân sự. Quân đội Miền Nam Việt Nam, tổng quát, đã chận đứng có kết quả cuộc tổng tấn công này và dân chúng Miền Nam Việt Nam rất căm phẫn vì CS Hà Nội đã sát hại gia đình họ trong lúc sum vầy ở ngày Tết thiêng liêng của dân tộc họ.
Bunker ra lệnh triệu tập “Hội đồng Đặc nhiệm” bao gồm cấp chỉ huy của mỗi cơ quan Hoa Kỳ được chỉ định phục vụ tại Việt Nam. Ellsworth Bunker lạc quan vì cảm thấy chính nghĩa giả tạo mà kẻ thù đã từng hô hào đưa ra để bảo vệ cuộc chiến của họ đã bị lột trần.
Những người cộng sản Hà Nội đã vừa phơi bầy cho chính phủ Sài Gòn thấy rằng dân chúng Miền Nam Việt Nam đã không nổi dậy để đón đợi họ như điều họ đã lượng giá. Và dân chúng Miền Nam đã ủng hộ những người lãnh đạo họ hiện nay. Bất ngờ Giáp dường như đã bỏ rơi chiến cuộc của ông và bị mất chức. Bunker nghiên cứu diễn biến này. Trừ phi một tướng lãnh không còn tìm thấy thuận điểm về một chiến lược, mới dùng chiến thuật tấn công như trên. Điển hình như Napoleon ở trận Waterloo, Hitler ở trận Bulge, Lee ở trận Gettysburg và Mc Arthur ở Incho. Giáp đã tung toàn lực quân đội của ông ta và lộ diện khi tấn công vào những nơi mà lực lượng đối phương mạnh nhất, hẳn nhiên họ phải trả một giá thiệt hại nhân mạng nặng nề.
Những năm về sau, tháng 8-1981, vào một buổi chiều tại nông trại của Bunker trên những dãy đồi ở Vermont, một nhân vật cao cấp trong hàng ngũ Cộng sản thời chiến tranh, đã xác định với Bunker rằng, cuộc tổng công kích vào tết Mậu Thân phải tung ra bởi vì vào giữa năm 1967, những nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam nhận định rằng họ không thể tìm thấy cuộc chiến thắng bằng quân sự được nữa. Quân đội Hoa Kỳ đã cắt đứt mọi kiểm soát của họ với dân chúng nông thôn và cán binh cộng sản đã mất niềm tin vào trận chiến của họ. Những chiến dịch Junction City và Cedar Falls đã cắt đứt mọi hoạt động giữa những nhà lãnh đạo tại Hà Nội và bên trong lãnh thổ Miền Nam Việt Nam bởi vì những căn cứ đầu não tại Miền Nam đã bị phá hủy. Ngay cả Trương Như Tảng trong Mặt trận Giải phóng miền nam phải trốn dưới hầm ba ngày và uống nước tiểu của chính ông ta để sống sót trong đợt hành quân ấy.
Cho dù có lạc quan cách mấy, dưới mắt Bunker, để cho cuộc tổng công kích xẩy ra, vẫn là một điều tồi tệ. Thực tiễn, cộng quân bị tổn thất nặng nề sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân, nhưng họ đã có mặt tại nhiều Thành phố và Thị trấn. Đang khi Quân đội và Cảnh sát Miền Nam về ăn Tết với gia đình, trong bước đầu, Hà Nội đã chủ động được ở nhiều nơi.
Tại Bến Tre, Tỉnh lỵ Kiến Hòa, tỷ lệ tổn thất nhân mạng giữa Miền Nam và cộng quân là 6 trên 1. Tại Vĩnh Long, những nhân viên dân chính và Nhân dân Tự vệ đã giúp trong việc bảo vệ cơ quan Cảnh sát và Tòa Hành chánh tỉnh trong khi Việt cộng tràn ngập ngoài phố. Tại Huế, khoảng 16 tiểu đoàn cộng quân hoàn toàn chiếm giữ Thành phố này. Phải sau một tháng với những trận đánh cận chiến, 11 Tiểu đoàn Việt Nam và 3 Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, cuối cùng mới đánh bật Việt cộng ra khỏi Thành phố và lấy lại quyền chủ động.
Trong suốt thời gian làm chủ tình hình tại Huế, những người Cộng sản Việt Nam đã phơi trần bản chất phi nhân của họ và đó cũng là điều để xác định tại sao chúng ta phải giúp cho người dân Miền Nam Việt Nam có cơ hội để tự bảo vệ giá trị nhân phẩm theo truyền thống của dân tộc này.
Tại Huế, đã có hơn 3000 thường dân bị cán bộ Cộng sản Hà Nội bắt đi và thủ tiêu. Tờ Newsweek đã tường thuật, một cán bộ đi theo cộng sản đã quay về với gia đình, đã không chút ngần ngại đưa súng bóp cò giết ông bà nội, chú, cô và 10 người khác trong họ hàng anh ta. Chỉ còn một người chị sống sót nhờ nhanh chân trốn thoát. Những thường dân Hoa Kỳ cũng bị bắt và bị giết. Các Bác sĩ người Tây Đức và các Linh mục người Pháp cũng chung số phận tương tự. Sự bắt bớ, trại tập trung và những vụ hành quyết lại được tái diễn tại Miền Nam VN sau năm 1975, khi CS cưỡng chiếm Miền Nam này.
Nhưng điều tệ hại, những chiếc máy ảnh, máy quay phim của giới truyền thông Hoa Kỳ không ghi lại những cảnh thảm sát ở Huế. Người Mỹ tại quê nhà chỉ thấy những Tết Mậu Thân qua hình ảnh khổ sở của những Thủy quân Lục chiến phải chiến đấu để chiếm từng căn phố, nhà cửa bị tiêu hủy và bốc cháy, những người dân lành cố trốn thoát khỏi nơi đang xảy ra trận chiến. Và Tướng Loan lạnh lùng đưa tay bóp cò, bắn một sĩ quan Việt cộng đang mặc quần áo dân sự vừa bị bắt.
Sau đó, Loan nói với Thiệu, và Thiệu kể lại với Bunker khi Bunker chỉ trích hành động thiếu đạo đức và không tự chủ của Loan, rằng khi bắn tên Việt cộng kia, Loan không nghĩ rằng chính ông cũng đã nhúng tay vào sự sát hại và hủy diệt nhiều người vô tội. George Carver thuộc Cơ quan Tình báo CIA viết rằng: Người mà Loan đã bắn chết là trưởng toán đặc công tại SG, đã từng ám sát nhiều gia đình Quân nhân và Cảnh sát. Loan biết điều này nên mới hành động như vậy.
Mô tả bản chất của cuộc chiến với một bên là một rừng báo chí ngoại quốc tự do và phía bên kia là một guồng máy khổng lồ để tuyên truyền, Hoa Kỳ đã gánh chịu bao điều bất lợi về mặt chính trị và cộng sản Hà Nội thì không hề một chút e ngại về những tội ác to lớn mà họ đã gây ra.
Thảm cảnh về chiến tranh đã trở thành câu chuyện đầu môi tranh luận tại quê nhà nhằm chỉ trích những nỗ lực của Ellsworth Bunker hỗ trợ Miền Nam Việt Nam tự vệ. Bao nhiêu lần lập lại với lối bêu riếu, ngạo báng câu nói của một sĩ quan Mỹ: “Chúng ta đã hủy diệt Thành phố để cứu lấy nó”. Và xem câu nói ngây ngô như khuôn mặt của anh ta, như thể đó là lý do chính đáng khiến chúng ta can dự. Thế nhưng một sinh viên Việt Nam tại Huế, sau cái Tết Mậu Thân hoang tàn đã xác tín: “Chúng ta phải hy sinh nếu muốn Việt cộng không còn nữa. Tại Miền Nam VN, quyết định chiến đấu, chấp nhận hy sinh nếu muốn Việt cộng không còn nữa. Tại Miền Nam Việt Nam, quyết định chiến đấu, chấp nhận hy sinh và mất mát thuộc quyền quyết định của dân chúng, những con người không muốn sống dưới chế độ Cộng sản thống trị. Dân chúng Sài Gòn không xuống đường khi những bộ đội Việt cộng có mặt trên đường phố bắc loa kêu gọi “Chúng tôi là giải phóng quân miền nam Việt Nam. Nhân dân hãy cùng chúng tôi giải phóng Sài Gòn”.
Trên bình diện tổng quát, Quân đội chính phủ Miền Nam đã chiến đấu can trường để bảo vệ trong cuộc tổng công kích Tết. Nhiều đơn vị đã rất xuất sắc. Điều đó đã giúp cho Tổng thống Thiệu, vừa đắc cử không lâu, thay thế một số vị chỉ huy quân sự cao cấp và các Tỉnh trưởng mà phần lớn được Kỳ bổ nhiệm trước khi có hiến pháp ra đời.
Kể từ khi Hà Nội mang cuộc tấn công vào các Thị trấn và Thành phố, sự hủy diệt về nhân mạng và nhà cửa tăng lên nghiêm trọng. Bao nhiêu kẻ vô tội bị giết hoặc bị thương trong lúc trận chiến xẩy ra. Khoảng 800. 000 dân chúng cần sự cứu trợ về nhà ở và thực phẩm.
Tối thiểu Hà Nội đã tung 84.000 quân chính quy và du kích vào trận tổng công kích Tế Mậu Thân. Một tháng sau đêm khởi đầu, phân nửa trong số ấy đã bị giết hoặc bị bắt và Hà Nội chẳng chiếm được gì tại Miền Nam Việt Nam để đổi lại sự mất mát to lớn của họ. Thế nhưng Bunker lại rút ra được bài học cay đắng, nghiệt ngã khác ngay tại Hoa Kỳ chẳng bao lâu sau đó.
BỊ ĐÁNH BẠI TRÊN QUÊ NHÀ
Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân đã đưa tiến trình chính trị của Tổng thống Hoa Kỳ vào chỗ thiếu tự tin. Những tinh hoa cốt lõi của Thanh Giáo vẫn bám sâu vào nền văn hóa người Mỹ, được chuyển đổi trở thành kẻ tự hủy diệt khi đối đầu với một viễn ảnh cảm thấy bị thất bại. Theo lý luận của Cựu Ước và trở thành Mỹ hóa, sự thành công chỉ xẩy đến với một việc làm mang tính đạo đức. Thiếu xác định và trưng dẫn những căn cứ về mặt đạo đức, hành động nào cũng mặc nhiên đưa đến sự thất bại không thể biện minh. Ai ai cũng đều có kinh nghiệm rằng những việc làm bị thất bại được xem như vì nó thiếu chính nghĩa. Trận chiến Tết Mậu Thân được nhìn như hậu quả tất yếu của sự thất bại về mặt chính trị đối ngoại của Hoa Kỳ, sự lôi kéo sai lệch của những chính trị gia và những thành phần trí thức là những kẻ bàng quan với đất nước họ trong trận chiến này.
Eugene Mc Carthy khi tranh cử với Tổng thống Johnson trong cuộc tranh chức ứng cử viên Tổng thống vòng đầu của đảng Dân Chủ tại New Hampshire, nói rằng, vị thế của chúng ta tại Miền Nam Việt Nam bây giờ tồi tệ hơn là vào đầu năm 1966. George Romney vận động để trở thành ứng viên của đảng Cộng Hòa thì lại nói, vụ Tết Mậu Thân đã chứng tỏ một điều là dân chúng Miền Nam VN đã “ủng hộ” Cộng sản.
Trong ngày 8-2-1968, Robert Kennedy đã ồn ào lớn giọng chống lại cuộc chiến. Ông ta cho rằng đã đến lúc Hoa Kỳ phải đối diện với sự thật rằng một cuộc chiến thắng bằng quân sự chẳng bao giờ tìm thấy được và chẳng bao giờ sẽ xảy ra. Robert Kennedy cũng kết án chính phủ Miền Nam Việt Nam là thiếu khả năng, tham nhũng và kêu gọi cần có một sự thỏa thuận để tạo cho Việt cộng có cơ hội tham dự đời sống chính trị vào đất nước này. Ông ta hỏi Arthur Schlesinger: “Anh nghĩ sao nếu 10 năm sau, tất cả chúng ta quay nhìn lại quá khứ và tự hỏi, tại sao dân chúng Hoa Kỳ lại đi quá xa vào sự tồi tệ như thế?”. Rồi kết luận: “Chúng ta phải bắt buộc thoát ra khỏi cuộc chiến này. Bởi vì nó đang hủy diệt xứ sở đó”.
Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân được tường thuật trên hầu hết báo chí ở Hoa Kỳ và xem biến cố ấy chẳng khác nào một bụi bông hồng vừa mới nẩy lộc đã bị bật tung gốc lên. Bụi hồng vừa mới do Westmoreland trồng tại Washington vào tháng 11-1967 khi Tổng thống Johnson triệu hồi ông ta về nước để phúc trình tình hình chiến cuộc. Trong bài nói chuyện tại Câu Lạc Bộ Báo Chí tại Washington, Tướng Westmoreland đã xác định rằng địch đang thua và ngày mà Quân đội Hoa Kỳ trở về nước “tùy thuộc nơi quyết định của chúng ta bởi vì những gì mà đối phương hy vọng đã bị phá sản”.
Nhưng rồi sau Tết, sự tiên đoán Quân đội Hoa Kỳ sẽ rút về trong năm 1969 bây giờ được một tờ tạp chí mới xuất bản dè bỉu: “Một sự dối trá hay một tính toán sai lầm ?”. Bất cứ ai còn tin rằng, cuộc chiến đang chuyển sang một khúc quanh khác sáng sủa hơn, đều bị gọi là “đần độn”. Tờ báo ấy kêu gọi cần phải có một sách lược mới. Còn tờ Newsweek viết: “Cơ hội một Miền Nam Việt Nam không cộng sản chắc chắn dần dần biến mất trước hai con qủy”. Viện thăm dò dư luận Harris đưa ra một con số mỉa mai khôi hài là Nixon dẫn đầu 20 Tiểu bang, George Romney 5 Tiểu bang, số còn lại là Việt cộng dẫn đầu.
Người bạn láng giềng vào mùa Hè của Bunker tại Vermont là kinh tế gia tốt nghiệp tại Harvard, tên là John Kenneth Galbraith, viết rằng chính quyền Miền Nam Việt Nam sẽ đổ sụp trong vài tuần lễ sắp tới, và Quân đội Việt Nam Cộng hòa sẽ tan rã. Và ông ta không phải là người duy nhất đưa ra những lời tiên đoán như thế. Tờ tạp chí Time cho rằng cuộc chiến thắng này có lẽ và chẳng xảy ra lần thứ hai, một sự sắp xếp ngoạn mục vượt ra ngoài vòng kiểm soát của các siêu cường”.
Walter Cronkite đến Sài gòn ngày 11 tháng 2, lưu lại vài hôm. Khi trở về Mỹ, ông ta đã tường thuật trên đài CBS rằng Hoa Kỳ đã “lún sâu vào chỗ không có lối thoát”. Tướng Westmoreland yêu cầu viên Tư lệnh vùng của ông ta thuyết trình về những kết quả mà phía Quân đội Miền Nam đã đẩy lui các cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân của cộng quân. Tất cả Chỉ Huy trưởng các đơn vị đã được báo động vào đêm trước khi có cuộc tấn công xảy ra.
Sau khi lắng nghe vị Tướng lãnh Vùng trình bày việc chuẩn bị của ông để đối phó với vụ tấn công, sự tổn thất nặng nề của cộng quân, sự thất bại của Hà Nội đã không được dân chúng Miền Nam Việt Nam ủng hộ theo lời kêu gọi của họ, Cronkite đáp lại, mặc dù vị Tướng lãnh vừa rồi đã nêu ra những sự kiện đáng khích lệ, nhưng ông ta không tường thuật bản tin ấy trên đài CBS.
Sau đó, Cronkite đã ra Huế, đã nhìn thấy những quan tài chưa đóng nắp, chứa hàng trăm thi hài của những người dân vô tội đã bị Việt cộng sát hại trong trận chiến. Đó là hậu quả của một cuộc chiến bi thảm. Cronkite nói như thế, và ông ta sẽ làm mọi thứ có thể làm được để đưa cuộc chiến đến chỗ chấm dứt.
Tinh thần chủ bại không chỉ thệ hiện qua các chính trị gia và những nhà báo bên ngoài chính phủ. Ngày 26-02-1968 Cơ quan Tình báo CIA tại Washington đã đệ nạp chính phủ một bản nghiên cứu tổng hợp nhằm tái lập chính sách tại Miền Nam Việt Nam từ A tới Z. Bản báo cáo này đưa ra nhận định rằng chính quyền Miền Nam Việt Nam quá yếu kém, vì vậy trong tương lai không thể nào đủ khả năng để đương đầu với cộng sản Hà Nội.
Một bản phúc trình thứ ba, cũng tương tự loại như thế, CIA cho rằng, “trong vài tháng sắp tới, tình hình nguy khốn sẽ xẩy ra cả về mặt Quân đội lẫn chính quyền Miền Nam Việt Nam, vô phương cứu vãn” (Tập II, trang 551-553)
Các chuyên gia dân sự trong văn phòng phân tích thuộc Ngũ Giác Đài nói, kể từ khi lực lượng Đồng Minh có mặt tại Việt Nam, với con số cao nhất trước tháng 8-1965, Hoa Kỳ đã thực hiện được mỗi một việc là rơi vào sự bế tắc toàn diện, cho nên cần phải có một chiến lược mới. Clark Clifford, người đảm nhận chức Bộ Trưởng Quốc Phòng sau vụ Tết, ngày 1-3-1968 đã được phúc trình là phải thay đổi toàn bộ, nếu không thì không thể thực hiện kế hoạch chấm dứt chiến tranh”.
Trong cuộc Nội chiến, trận đánh đầu tiên của Bull Rum cũng đã làm quan điểm của Washington chao đảo. Sách vở đã ghi lại, mọi người ngồi buồn thảm, rã rời, hoàn toàn tuyệt vọng. Một số người sẵn sàng chờ đợi bị bắt. Horace Greeley, nhà bỉnh bút lừng danh đã viết về Lincoln: “Có thể nào, sau khi kẻ nổi loạn bị thất bại, lại xẩy ra một điều kỳ lạ, cảm tưởng của quần chúng nhìn chúng ta như thế, nguyên do kẻ phản loạn bị dẹp tan là vì ta chưa đến lúc thua trận?” (Sandberg). Những con tim yếu hèn ấy không bao giờ tìm thấy trong những người luôn ở tuyến đầu.
Peter Braestrup, phóng viên của tờ Washington Post có mặt tại Sài Gòn suốt trong thời kỳ Tết Mậu Thân đã phân tích việc được tin của báo chí trong vụ này (Big Story). Có đoạn ông ta viết: “Thái độ chững chạc của người làm báo và cả của viên chức chánh quyền là phải chờ đợi những chứng cớ hiển nhiên. Thế nhưng, dựa trên nhận định chủ quan và phân tích những sự kiện xẩy ra ngắn hạn trong ngày, hậu quả là giới truyền thông đã tường trình sai lạc một cách nghiêm trọng”.
Sự tường thuật không chính xác về cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân này đã đưa dân chúng Hoa Kỳ vào cơn sốt thiếu niềm tin một cách không cần thiết. Đã 20 năm trôi qua, bây giờ là năm 1989, với những bộ óc tỉnh táo, với những nhận định khách quan và kể cả những người đã một thời là thù địch với chúng ta, đều dần dần chấp nhận, cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân là một thất bại to lớn về phía Hà Nội.
Với phán doán riêng tôi, các phóng viên Hoa Kỳ làm việc cho các hãng truyền hình đã gửi về đài những thước phim hầu hết phóng đại về cuộc chiến. Những đoạn phim tồi tệ qua truyền hình đã tác động đến quan điểm của dân chúng Hoa Kỳ. Phần lớn các nhà báo Mỹ chỉ có mặt tại Việt Nam một thời gian ngắn, sau đó họ được bổ nhiệm đến một nhiệm sở mới. Theo dõi cuộc chiến Việt Nam chỉ trong một giai đoạn rất ngắn trong nghiệp vụ của họ. Nếu các phóng viên làm cho các đài truyền hình thu thập được những thước phim hấp dẫn, họ không những được đài thưởng bằng cách tăng lương mà còn có thể chỉ định đến một cơ sở khác tốt hơn. Trái lại, khi Giám đốc một chi nhánh truyền hình tại Sài Gòn cung cấp thiếu, họ liền bị chuyển đi nơi khác còn xấu hơn.
Các phóng viên truyền hình đâu có nhiều lợi nhuận trong mỗi câu chuyện. Khi họ gửi về New York, nghiệp vụ của họ được sáng láng, để ý. Tiền thưởng tăng dần. Họ luôn bị sức ép từ các Chủ nhiệm ở New York sáng tạo ra những thước phim để dùng trong bản tin buổi tối. New York muốn có những thước phim và hình ảnh hấp dẫn chứ không cần những thước phim mang tính chất đúng đắn nhằm cung cấp sự hiểu biết toàn diện về cuộc chiến cho khán thính giả.
Chính vì để thỏa mãn thị hiếu của khán thính giả truyền hình Mỹ mà nhiều phóng viên truyền hình đã không đưa hình ảnh Quân đội Miền Nam Việt Nam vào những thước phim của họ. Phó Chủ tịch của hãng truyền hình NBC đã có lần nói: “Đây không phải là cuộc chiến tranh của người Việt Nam. Đây là cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ tại Á Châu và vì thế, chỉ có những vấn đề liên quan đến người Mỹ mới được đón nhận”. (Epstein, trang 250). Theo Frank: “Sức mạnh lớn nhất của ngành báo chí, truyền hình không phải để chuyển đạt những tin tức mà là chuyển đạt những kinh nghiệm vui buồn, hốt hoảng, sợ hãi, những vỡ vụn của tin tức”. (Epsten, trang 39)
Trận Tết Mậu Thân là một kho vàng cho những ký giả truyền hình loại này. Những mẫu chuyện được thêu dệt, thêm thắt, những cuộc tấn công đột xuất và những bất cẩn của lực lượng Đồng Minh đủ gây những xúc động tuyệt vời cho khán thính giả truyền hình tại Hoa Kỳ. Đáp ứng đúng nhu cầu của quần chúng Mỹ về vấn đề Việt Nam, truyền hình đã cũng cấp một chiều, thỏa mãn những giận dữ và những bất trắc theo thị hiếu. Những loại nhà báo như thế đã vô trách nhiệm vị họ làm soi mòn niềm tin của công luận.
Người Thư ký của Bunker, trong một lần về phép Hoa Kỳ, xem truyền hình nhìn thấy hình ảnh cuộc chiến Việt Nam đã bị phản bội qua tin tức. Khi trở lại Sài Gòn, ông ta đã nói với Bunker: “Nếu Việt Nam giống như những điều họ nói trên truyền hình thì chính tôi là người chống lại cuộc chiến tranh này”.
Một phần do chỉ thị từ các công ty báo chí nơi đang làm việc đặt họ vào thái độ thụ động khi thực hiện những sự kiện liên quan đến chiến tranh, nhưng phần khác, các phóng viên đã không tìm thấy niềm tin. Chính vì thế, các phóng viên Mỹ bị đẩy vào tình huống không mấy thiện cảm với chính quyền Miền Nam Việt Nam và ngay cả chính quyền Hoa Kỳ. Bunker nghĩ rằng, bất kể, những phóng viên cố tình làm sai lệch sự thật hoặc sự thật dưới mắt họ là như thế, thì tại sao họ lại từ bỏ chức năng nghiệp vụ của phóng viên để xuyên tạc những nỗ lực hiển nhiên của ông ta, đó vẫn là điều mà Bunker không thể nào hiểu nổi.
Bunker chấp nhận đương đầu với những nguồn thông tin mang đầy tính bi quan bằng thái độ lạc quan và niềm tin ở việc làm của ông. Ellsworth Bunker đã nêu vấn đề đó với nhà báo Stewart Alsop và gọi những người phóng viên đó là loại “vi khuẩn thứ 10”, thứ vi khuẩn tệ hại đang đục phá giới thanh niên trẻ Hoa Kỳ đã thâm nhập vào một tâm lý làm sói mòn niềm tin của quần chúng.
ĐÁP ỨNG TRẬN TỔNG CÔNG KÍCH
Ở những nơi nào mà báo chí nhằm công kích, như trường hợp biến động ở Tết MT, thì Bunker không lùi bước và bằng mọi cách, phải chiến thắng. Vừa đi qua sân cỏ, nhìn thấy cảnh đổ nát để vào phòng làm việc của Tòa Đại Sứ, Bunker liền triệu tập một phiên họp với Bộ Tham mưu của ông. Mỗi người trong Hội đồng Đặc nhiệm được ông yêu cầu trình bày phương thức và kế hoạch cần thiết nhằm tái ổn định tức khắc những xáo trộn vừa mới xảy đến. Bunker đã tiên liệu và muốn chặn đứng đám “vi khuẩn thứ 10” báo chí đục phá về mặt đạo đức.
Ngày hôm sau, Bunker đã nói chuyện với ông Thiệu và trình bày đây là thời điểm mà vị Nguyên thủ Quốc Gia phải bầy tỏ và kêu gọi tinh thần đoàn kết quốc gia. Vị Đại Sứ Hoa Kỳ đã thúc đẩy vị Tổng thống Miền Nam Việt Nam nên gặp các lãnh tụ Quốc Hội để cùng soạn thảo và đặt ra kế hoạch nhằm cứu trợ và phục hồi tinh thần dân chúng.
Bunker đề nghị Thiệu, vì vấn đề tâm lý, nên đưa ra chương trình cụ thể cho mọi người yên tâm, và thành lập một Hội đồng bao gồm những thành phần dân sự có uy tín với dân chúng, đảm trách phần cố vấn, để lập tức làm giảm sự tàn phá do trận tổng công kích vừa xẩy ra tạo nên. Trận tổng công kích đã đánh vào Washington qua những bàn tay vấy máu nhưng không thể làm chùn bước tinh thần làm việc của vị Đại sứ Hoa Kỳ cao tuổi này ở Sài Gòn.
Vào ngày 2-2-1968 ông Thiệu họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, bao gồm những nhân vật lãnh đạo của Quốc Hội đương nhiệm. Cũng vào thời gian ấy, Hội đồng Đặc nhiệm của Tòa Đại Sứ đã đề nghị với Thiệu là hình thành ngay một tổ chức hỗn hợp bao gồm các nhân vật cao cấp trong chính phủ Miền Nam Việt Nam cùng với những nhân vật của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, để trực tiếp giải quyết những khó khăn về mặt xã hội lẫn kinh tế tại các Thành phố do hậu quả của trận chiến vừa rồi gây ra: Tất cả những thường dân tỵ nạn kể cả những người bị thương đều được cấp phát nhà ở và thực phẩm, hàng hóa tái chuyển vận về các Thành phố, chợ búa tái hoạt động, và niềm tin của người dân phải được ổn định.
Tướng Westmoreland và Bunker gặp Thiệu đưa ra kế hoạch để thực hiện chương trình trên. Ngày hôm sau, hai bên lại họp tiếp. Westy phải sử dụng một số những vật liệu và thực phẩm có sẵn trong Quân đội và Tiếp liệu để chuyển sang chương trình này. Ngày 3-2, ông Thiệu đã thành lập một Ủy ban, đứng đầu là Phó Tổng thống Kỳ. Vai trò này đúng sở năng của ông ta và ông Kỳ bắt tay ngay vào công việc. Ủy Ban lao vào hành động.
Theo dõi và quan sát tình hình vài ngày sau cuộc tổng tấn công, Bunker có nhận định, dân chúng Miền Nam Việt Nam đã rơi vào trạng thái sợ hãi. Niềm tin của họ vào sự bảo vệ của các lực lượng Đồng Minh đã giảm thiểu. Họ e ngại sự chiến thắng của cộng quân nếu trở thành thực tiễn, mạng sống của họ sẽ có nhiều đổi thay.
Phát động một cuộc tổng công kích đầy tàn phá và hủy diệt như thế để đổi lấy một uy tín về mặt chính trị, Hà Nội rõ ràng, dưới mắt của dân chúng Miền Nam Việt Nam, đã chứng tỏ họ không quan tâm gì đến mặt đạo đức. Miền Nam Việt Nam đang do ông Thiệu lãnh đạo thì khác, người dân không biểu lộ sự sợ hãi trên nét mặt như họ từng sợ hãi cộng sản. Họ cũng không căm phẫn chế độ Sài Gòn như như căm phẫn chế độ Hà Nội.
Một tuần sau cuộc tổng tấn công, sự xáo trộn về mặt tinh thần của dân chúng đã bắt đầu giảm dần. Bunker vẫn tiếp tục hỗ trợ Thiệu bằng cách thúc đẩy ông cùng Nội các thường xuyên xuất hiện trên các hệ thống truyền hình và truyền thanh để tăng thêm niềm tin của dân chúng.
Ủy ban Đặc nhiệm do Kỳ đứng đầu họp ngày 4 tháng 2, và qua hệ thống truyền hình, đã đưa ra một chương trình nhằm phục hồi sự tàn phá. Hơn 2400 Cán bộ Xây dựng Nông thôn được chuyển từ Trung tâm Huấn luyện đi khắp nơi để phục vụ vấn đề thực phẩm và nơi tạm trú cho những người tỵ nạn.
Về phía Hoa Kỳ, Bunker đã chỉ định Bob Komer phối hợp với chính phủ Miền Nam để thực hiện chương trình này. Giống như Kỳ, Komer là con người năng nổ, có tinh thần trách nhiệm. Ngoài việc lo cứu trợ, Bunker còn yêu cầu Komer sử dụng cơ quan CORDS hoàn tất công tác xây dựng và tái cấu trúc niềm tin về mặt xã hội của người dân Miền Nam Việt Nam vốn đã bị tổn thương trong những ngày xẩy ra trận chiến. Sài Gòn và các Thành phố nhờ Ủy ban Đặc nhiệm hỗn hợp đó do Kỳ và Komer trực tiếp lãnh đạo, đã dần dần ổn định.
Thiệu đã xuất hiện trên đài truyền hình Hoa Kỳ qua chương trình “Face The Natino” và sau đó đã nói với Bunker: “Họ đã tấn công tôi dồn dập với những câu hỏi hóc búa. Thế nhưng tôi từng là một Quân nhân nên sẵn sàng giáng trả lại…”. Ellsworth Bunker cũng đã xem chương trình ấy qua đài truyền hình Quân đội Hoa Kỳ, và ngoại trừ Bob Shaplan còn giữ được phong cách lịch sự, những người khác đều có thái độ hằn học khi chất vấn ông ta. Với những câu hỏi đầy ác ý kèm theo các dẫn chứng thổi phồng dường như để buộc tội hơn là để tìm biết sự thật, họ đã chứng tỏ thiếu tinh thần tự trọng, đứng đắn, trong các mối tương quan giữa người và người chứ đừng nói gì, người họ đang chất vấn lại là một Nguyên thủ Quốc gia. Thế nhưng với những dẫn chứng xác đáng, bằng Anh ngữ, Thiệu đã trả lời trôi chảy mọi vấn đề. Ông ta luôn luôn chủ động, trầm tĩnh và lịch sự.
Trong ngày 9-2, Thiệu đã đọc một bài diễn văn trước Quốc Hội, kêu gọi ban hành nhanh chóng Luật Tổng động viên, điều chỉnh nhanh chóng ngân sách quốc gia và đặc biệt yêu cầu Quốc Hội ủy quyền thêm cho ông việc khẩn cấp giải quyết những vấn đề kinh tế và tài chánh. Bài diễn văn của Thiệu đã tác động mạnh mẽ dân chúng Việt Nam mà theo Bunker, cũng chẳng khác bài diễn văn của Franklin Roosevelt đọc sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu cảng.
Sau bài diễn văn của Thiệu trước Quốc Hội ấy, mặc dù không phải toàn thể dân chúng Miền Nam ủng hộ vị Tổng thống của họ, thế nhưng về mặt chính trị, họ đã đáp lại lời kêu gọi của Thiệu. Hơn 10.000 thanh niên trong tháng 2 đã trình diện nhập ngũ, gấp hai lần so với tháng 2 năm 1967. Lần đầu tiên dân chúng Miền Nam Việt Nam đã đặt niềm tin của họ vào Quân đội, mặc dù chưa hẳn nơi nào Quân đội cũng tỏ ra có tác phong và kỷ luật. Tất cả mọi sự phân hóa, chia rẽ, mà theo Bunker tưởng chừng như không thể hàn gắn, bỗng được thay đổi, họ đã đoàn kết để cùng Thiệu thực hiện những điều tốt hơn bao giờ, ngoài sự ước tính của mọi người.
Nói một cách khác, Miền Nam Việt Nam đã đẩy Hà Nội ra khỏi vùng đất này và gây cho Cộng sản một sự thiệt hại to lớn về quân sự kể từ lần Giáp đã bị tổn thất nặng nề vào năm 1951 khi mở chiến dịch phản công chống Pháp. Các Dân biểu Quốc Hội đã hủy bỏ thời gian nghỉ trong dịp Tết để quay về Thủ đô nhóm họp. Thượng Viện đã ban hành tình trạng khẩn trương và kiểm duyệt báo chí dựa trên những điều mà hiến pháp quy định.
Sài Gòn sau trận tổng tấn công của Việt cộng có nhiều thay đổi. Cuộc sống buông thả tự giới hạn. Bunker hồi tưởng lại: có lần làm việc đến quá khuya, đã đến giờ giới nghiêm nên người tài xế Việt Nam cho một nhân viên cao cấp trong Tòa Đại sứ không thể trở về nhà được. Bunker phải dùng chiếc xe của ông đích thân lái đưa người tài xế này về nhà cùng với đoàn xe hộ tống võ trang. Và cũng vì thế, Bunker cảm nhận được cái rợn người khi đi qua những đường phố Sài Gòn vắng lặng. Chẳng thấy Thành phố có một chuyển động nào ngoài chiếc xe của ông đang chạy với người Cảnh sát dẫn đường và chiếc xe jeep hộ tống phía sau. Nhà cửa chìm trong đêm đen với ánh đèn đường vàng nhạt và đâu đó vài ánh hỏa châu bay vút lên cao, vang vọng tiếng đại bác từ xa dội về. Sài Gòn, cả Thành phố đang ngủ.
Sài Gòn giới nghiêm đã trở thành đề tài bàn cãi ở những viên chức Hoa Kỳ tại đây, đặc biệt là các bà khi phải tự giam mình tại các chung cư hay khách sạn từ 7 giờ tối. Với những tràng đạn dòn dã nổ ban đêm, một cuộc tấn công mới lại được dự phóng và những câu chuyện lại bắt đầu. Và ngay cả Komer cũng thẫn thờ thất vọng, e ngại kế hoạch Bình định của ông khó có thể tái phục hồi như trước, đến nỗi Bunker phải dành cho ông hai tuần lễ về nhà nghỉ phép.
Có lẽ không ai chịu đựng một sức ép nặng nề và căng thẳng như Bunker. Ellsworth Bunker đến tham dự buổi lễ tiễn đưa phục vụ lần cuối cùng của vị Mục sư tại Thánh đường Christopher, nơi mà ông ta thường dự lễ vào cuối tuần. Quyết định rời khỏi Việt Nam của vị Mục sư này đến thật bất chợt. Sau vụ tấn công Tết Mậu Thân, vị Mục sư này trở nên khủng hoảng tinh thần và rồi quyết định rời khỏi nơi đây. Nhìn thái độ buồn nản của ông ta khi đọc lời giã biệt, Bunker vẫn không sao chia sẻ được nỗi đau đớn ấy với vị Mục sư này. Thái độ từ bỏ là thái độ đã được chọn lựa và Bunker kính trọng sự chọn lựa của tu sĩ đó.
Sau đó Bunker thăm viếng Giám đốc của hai Trung tâm Tin Lành Quakers, một trụ sở chính tại Quảng Ngãi, Miền Trung Việt Nam và một tại Sài Gòn. Các vị Giám đốc này thông báo cho Bunker biết là sẽ rút toàn bộ nhân viên về trở lại Hoa Kỳ vì không chấp nhận chiến tranh. Theo họ, tất cả mọi cuộc chiến đều tồi tệ và cách hay nhất là tránh xa khỏi nơi ấy. Những tổn thất về nhân mạng trong trận chiến vừa rồi đã để lại trong họ một chứng tích thê thảm. Vị Giám đốc Trung tâm tại Quảng Ngãi đã khóc khi mô tả cuộc chiến tại đây.
Ellsworth Bunker đáp lại, chính ông cũng ghê rợn cuộc chiến, cũng kinh tởm những chém giết, tàn phá và những trò chơi man rợ, chính ông cũng như giáo phái Quakers muốn chấm dứt cuộc chiến, thế nhưng vấn đề đặt ra, ảnh hưởng trực tiếp đến hiện tại và cả những thế hệ mai sau, là Hà Nội đã dựng nên cuộc chiến và đưa cuộc chiến vào Miền Nam này.
Cơ quan Thiện nguyện Quốc tế, một tổ chức hòa bình của những người trẻ Hoa Kỳ, tất cả đều muốn giảm mức hoạt động. Bunker nhận ra rằng trận chiến Tết Mậu Thân là nguyên nhân chính tạo ấn tượng cho các cơ quan thiện nguyện này cảm thấy bất ổn khi họ hoạt động tại đây.
Trở lại Washington để học thêm về ngôn ngữ Việt Nam, 8 giờ mỗi ngày, nhưng tôi không bao giờ ngưng theo dõi những bản tường trình về Việt Nam qua vụ Tết Mậu Thân. Đặc biệt là những tin tức liên quan đến việc dân chúng và Quân đội Miền Nam Việt Nam phản ứng về cuộc tấn công này. Thấy họ trực diện đương đầu với kẻ thù, tinh thần tôi sảng khoái. Những hiểu biết căn bản trong vấn đề lịch sử, và định hướng của người gốc Thanh giáo Tân Anh Cát Lợi đã giúp tôi nhận ra sự hy sinh to lớn để từng bước Miền Nam Việt Nam đã đạt được sự thành công trong biến cố Tết Mậu Thân.
Sự mạo hiển đầy khó khăn và rộng lớn của cộng quân đã bị đẩy lui, điều mà họ tưởng cuộc chiến thắng đã nằm trong tầm tay của họ đã bị chận đường, và còn chăng chỉ là những kinh hoàng và thất vọng. Những trận bị tấn công bất ngờ trong thời nội chiến tại Valley Forge, Burning of Washington năm 1814 và trận Trân Châu Cảng vào thời Đệ Nhị Thế Chiến không phải là những bài học vô ích.
Điều mà tôi đã nhìn thấy ở trận chiến Tết Mậu Thân không có gì khác biệt so với những lần thất bại trong những trận mang tính lịch sử nói trên. Thế nhưng điều mà tôi không nhìn thấy là thế hệ của chúng tôi đã thiếu cưu mang tinh thần trách nhiệm và ràng buộc theo truyền thống của các thế hệ trước.
Thế hệ tôi, năm 1968, thời điểm anh hùng tính đã đi vào quên lãng. Còn lại là nghiện ngập, gái, nhạc điên cuồng, và không màng đến trách nhiệm. Hỗ trợ cho người Miền Nam Việt Nam chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản Hà Nội, trong suy nghĩ của tôi, là một sự hy sinh cao cả, nhưng đó lại là điều nghịch lý dưới cái nhìn của nhiều thanh niên cùng thế hệ, bởi vì, chẳng có gì quan trọng hơn là phải lo toan đời sống thường ngày cho chính họ.
Chính phủ của Thiệu đã phục hồi nhanh chóng Miền Nam Việt Nam sau vụ tấn công Tết Mậu Thân. Chính sự phục hồi này đưa Kỳ gần gũi với Thiệu, điều mà Tổng thống Thiệu và Phó Tổng thống Kỳ chưa hề có được để tạo sự đoàn kết trước khi trận Mậu Thân xẩy ra. Với vai trò Chủ tịch Hội đồng Cứu trợ kiêm Chủ tịch Ủy ban Hỗn hợp Việt-Mỹ, Kỳ vừa lo điều hành công việc, vừa phải bay ra Huế để nghiên cứu những nhu cầu về tài chánh cần cung cấp để tái thiết cho Tỉnh này, đồng thời phải bảo vệ an ninh cho việc chuyển vận lúa gạo từ Đồng bằng sông Cửu Long về Sài Gòn, lại phải lo nơi cư trú cho dân chúng tỵ nạn, chẳng bao lâu thì Kỳ đã đuối sức. Kỳ đề nghị giao cho vị Thủ tướng đảm nhiệm vai trò Chủ tịch của ông.
Do đề nghị và hỗ trợ của Kỳ, cựu Tướng Trần Văn Đôn, một khuôn mặt nồng cốt trong vụ đảo chánh Tổng thống Ngô Đình Diệm vào năm 1963 và hiện là Nghị sĩ Thượng viện, đứng ra tổ chức Mặt trận Cứu quốc nhằm kết hợp tất cả những lực lượng chống cộng.
Cùng lúc ấy, Thiệu đã âm thầm riêng rẽ tiếp xúc với những vị lãnh đạo các tôn giáo để tìm hiểu những âm mưu của cộng sản trong những đợt tấn công mới và bàn thảo phương thức đối phó. Thiệu nói với Bunker, trường hợp ở Việt Nam, những tổ chức có tính cách mặt nổi như tổ chức của Đôn khó có thể thực hiện được điều gì. Một tổ chức kết hợp nhiều thành phần như thế có nghĩa là chẳng ai làm gì cả. Tốt hơn hết là gặp và vận động riêng rẽ từng nhóm.
Chính một cố vấn dân sự của Thiệu, một người quốc gia lão thành, sinh trưởng tại Miền Nam Việt Nam, đã từng chống Pháp năm 1945, là người đã kết hợp một nhóm để nghiên cứu và đưa ra kế hoạch làm thế nào để chấm dứt cuộc chiến qua bàn thương thuyết và Hoa Kỳ vẫn có thể rút quân ra khỏi Miền Nam Việt Nam.
Cuộc khủng hoảng vào dịp Tết đã làm cho vị Thủ tướng giảm đi hiệu năng. Những phiên họp của Hội đồng Nội các đã kéo dài ngoài thời biểu ba hay bốn giờ liền. Trên bàn giấy ông ta đầy những hồ sơ chờ ông ta giải quyết. Theo Kỳ đề nghị, thúc giục, Bunker cảm thấy đã đến lúc Thiệu phải chọn một nhân vật khác làm Thủ tướng. Vào thời điểm đó, nhân vật này cần phải có uy tín về lãnh đạo, không những chỉ đưa ra những quyết định mà còn phải năng nổ, hoạt động.
Bạn của Kỳ phần lớn đều nắm những quyền lực trong chính quyền. Do đó, Bunker đã khuyến cáo Thiệu hãy tìm một vai trò nào để Kỳ có thể huy động những tài năng ấy vào những chức vụ chính thức mà không e ngại họ có thể khống chế Thiệu. Thiệu đã từng yêu cầu Kỳ tiếp tục vai trò Chủ tịch trong Ủy ban Hỗn hợp Việt-Mỹ thêm một thời gian nữa. Nhưng Kỳ, theo đề nghị của những thân cận, lại muốn tu chính hiến pháp để Kỳ có thể kiêm nhiệm chức Thủ tướng.
Bunker tán đồng quan điểm của Kỳ, vì với chức vụ như thế, Kỳ chứng tỏ Quân đội vẫn còn nắm giữ vai trò quan trọng. Theo Bunker, điều thiết yếu là tạo điều kiện để Thiệu và Kỳ cùng hợp tác với nhau. Mỗi người, tuy riêng rẽ, nhưng thành phần Quân đội luôn luôn hậu thuẫn mạnh mẽ cho họ, một yếu tố cần thiết trong thời chiến tranh. Ở mỗi người, giữa Thiệu và Kỳ, không ai tìm cách nuốt chửng lẫn nhau. Chính nhìn thấy điều đó nên nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã tìm cách để chứng tỏ sự kết hợp giữa hai người là điều cần thiết.
Bunker luôn luôn ngay thẳng với hai người, không bao giờ nói chuyện với người này mà không thông báo với người kia biết những gì đã thảo luận. Bunker hoàn toàn tin tưởng cả hai ông Thiệu và Kỳ hơn bất cứ một nhà lãnh đạo Việt Nam nào khác.
Đối với Bunker, niềm tín cẩn là yếu tố cơ bản được áp dụng trong mọi trường hợp, đặc biệt là trong lúc thương thuyết. Trực diện với Thiệu, Kỳ và những người lãnh đạo Miền Nam Việt Nam khác, Bunker chỉ chứng tỏ mỗi một điều là thảo luận và thương thuyết hơn là phơi bầy quyền lực Đại sứ của một siêu cường. Đôi lúc Bunker cũng rơi vào trạng huống kẻ cả của một Đồng Minh nhưng đó là những lúc thuộc hạ của ông có mặt hoặc đôi lúc xuất phát từ thái độ của chính những người lãnh đạo Miền Nam.
Bunker thường tâm sự với tôi: thiếu sự tín cẩn, chúng ta không thể nào đạt được sự thành công trong vấn đề thương thuyết cũng như trong vấn đề quan hệ giữa hai phía. Tạo được lòng tin là điều kiện thương thuyết trong bất cứ mọi vấn đề cần giải quyết.
Niềm tin là khởi đầu và ngôn ngữ của một nhà ngoại giao đòi hỏi một sự ngay thẳng. Không bao giờ, Bunker thường lập lại, tìm cách thuyết phục kẻ đối diện bằng những lời gian dối. Bunker không thích có một lớp đường ngọt ngào bọc ngoài một viên thuốc đắng. Ông ta không gian trá, khoác lác, hay nói những điều để tạo nên ngộ nhận. Có những điều ông đưa ra kẻ đối diện không hài lòng, không muốn lắng nghe, nhưng Bunker nghĩ, kẻ đối diện phải suy nghĩ và trả lời những vấn đề mà ông đã đặt ra.
Để tránh những ấn tượng ngộ nhận về việc ông đã dính dáng vào công việc điều hành của chính phủ Miền Nam, nên thay vì trao đổi qua điện thoại, Bunker thường thu xếp để gặp Thiệu, Kỳ tại văn phòng làm việc hay tại tư thất của mỗi người. Tư thất của Kỳ nằm trong Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhất được trưng bầy nhiều hình ảnh và những vật lưu niệm do những hoạt động của ông trong qua khứ. Văn phòng của Thiệu rộng hơn, và trên bức tường Thiệu treo bức tranh lớn, hình ảnh chiếc cầu do chính phủ vừa xây lại tại làng quê Trị Thủy, nơi ông sinh trưởng. Thiệu tỏ ra yêu thích bức tranh vẽ chiếc cầu này vì theo Thiệu, chiếc cầu đã nối liền mạch sống giữa dân làng, qua con sông để đến chợ búa.
Không có một nhân vật Hoa Kỳ nào tiếp xúc Thiệu hay Kỳ nếu Bunker không giới thiệu. Thế nhưng thông thường Bunker gọi những nhân viên trong Hội đồng Đặc nhiệm có mặt cùng ông trong các vấn đề cần thảo luận với các nhà lãnh đạo Việt Nam.
Vào cuối tháng 2-1968 Thiệu quyết định thay thế hai viên Tướng thân cận của Kỳ, một là Tư lệnh Vùng 4 Chiến thuật và người kia là Tư lệnh Vùng Cao nguyên với lý do thiếu trách nhiệm trong vụ Việt cộng tấn công Tết Mậu Thân.
Cùng thời gian ấy, Nghị sĩ Trần Văn Đôn đã yêu cầu Tòa Đại Sứ ngăn cản việc Thiệu định hình thành một tổ chức chính trị nhằm làm giảm những nỗ lực của Mặt trận Cứu quốc mà Đôn đã thành lập. Trái lại, Thiệu cho rằng, việc Đôn tạo ra một mặt trận chính trị là nhằm xin ngân khoản tài chánh của Tòa đại Sứ Mỹ để phục vụ mục tiêu chính trị của Đôn. Theo hiểu biết của Bunker thì hai nhóm chính trị mới sẽ xuất hiện. Một tổ chức do Kỳ và một tổ chức do Thiệu lãnh đạo. Bunker nghĩ rằng tuy là hai lực lượng chính trị riêng rẽ thế nhưng cùng có chung một mục tiêu là phục vụ dân chúng Miền Nam Việt Nam thì đó là điều đáng khuyến khích.
Vào cuối tháng 2, Thiệu tiến thêm một bước xa hơn trong mục đích chính trị của ông. Thiệu trực tiếp đảm nhận chức Chủ tịch Ủy ban cứu trợ và đưa ra quyết định giảm bớt quyền hành của các viên Tư lệnh Vùng Chiến thuật. Ông đặt các vị Tỉnh trưởng dưới quyền giám sát của Bộ Nội vụ.
Việc tái phân chia trách nhiệm mới này đã giúp cho các Tướng lãnh trong Quân đội rảnh tay và chỉ lo đối phó với các đơn vị chính quy của cộng quân. Chương trình Bình định và Phát triển Địa phương trước đó không đạt được hiệu quả khả quan, nay có nhiều triển vọng tiến bộ hơn. Chính quyền địa phương đã thoát được ra khỏi sự khống chế của giới Quân đội để thực thi vai trò chính trị. Guồng máy chính phủ, một cách tổng quát, giới Quân đội không tán đồng, nay đã đóng giữ những vai trò chủ động.
Một người vẫn luôn luôn tìm mọi cách để chống lại Thiệu là Tướng Loan, Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia, Trung tâm Quyền lực số 2 trong nhóm của Kỳ. Vị Thủ tướng do Kỳ đề nghị và bổ nhiệm lại không muốn nằm trong qũy đạo của Kỳ. Chẳng những thế, ông ta còn tìm cách chống lại sự liên kết giữa Kỳ và Loan. Do đó mà Loan trở thành tấm bia cho mọi phe nhằm đốn ngã.
Ngay sau vụ tổng công kích Tết, Thiệu đã yêu cầu Quốc hội dành cho chính phủ nhiều quyền đặc miễn nhưng những Dân biểu trong Quốc hội thân Kỳ không chấp nhận, Loan dùng những căn phòng tại khách sạn Bát Đạt để cho các vị dân cử thân Kỳ sử dụng bất cứ lúc nào. Ngày 27-2, nhóm Dân biểu thân Kỳ đã chính thức hình thành mà dân chúng thường gọi đó là Nhóm Bát Đạt. Qua đôi mắt của Loan, Bunker nhìn ông ta không mấy thiện cảm. Những lần Bunker mời đến tư thất, Loan không bao giờ đến đúng giờ, rồi ăn mặc thiếu lịch sự, giống như một lối tạo cho mọi người chú ý tới mình.
Sau lần bị bên lập pháp đánh bại, Thiệu bắt đầu mở những cuộc họp, tiếp xúc riêng rẽ với các vị lãnh đạo từng nhóm trong Quốc hội để tìm hậu thuẫn, trong khi Kỳ thì cố vận động phía Quân đội để làm áp lực đòi thay đổi chính phủ. Bunker đã nói với Kỳ: với tình trạng Miền Nam Việt Nam hiện nay, chính phủ Hoa Kỳ không ủng hộ cho bất cứ một cuộc đảo chánh nào, và đồng thời cũng xác định với Thiệu là Hoa Kỳ luôn hỗ trợ ông ta theo hiến pháp của Miền Nam Việt Nam.
Khi Kỳ nói với Bunker là ông ta muốn trực tiếp điều hành tổ chức Nhân dân Tự vệ, nhưng Thiệu chưa có quyết định dứt khoát để trao cho ông trách nhiệm đó, Bunker liền thảo luận và đề nghị Thiệu nên để cho Kỳ đóng giữ vai trò này vì chức năng ấy phù hợp với ông ta. Thế nhưng, là một TT, Thiệu cũng có lý do riêng của ông, là muốn ngăn chặn trước tình trạng có thể xẩy đến là một chính phủ trong một chính phủ.
Vào cuối tháng 2-1968 Bunker đã đưa ra nhận định với Tổng thống Jonhson về tình hình Việt Nam:
Thứ nhất, mặc dù cộng quân đã bị tổn thất hơn 40.000 người, phân nửa số quân tung vào trận Mậu Thân, cộng quân vẫn đang chờ sự bổ sung từ miền Bắc, để có thể tiếp tục các cuộc tấn công khác, và hiện họ đang chuẩn bị chiến thuật mới của họ.
Thứ hai, sự duyệt xét về mặt chiến lược đối với Hà Nội là điều cần thiết nhằm để củng cố tinh thần binh sĩ các cấp vốn đã bị mất niềm tin vì thất bại trong trận tổng công kích vừa qua, trận tổng công kích mà Hà Nội đã tuyên truyền trong hàng ngũ Quân đội của họ đó là trận thắng cuối cùng.
Thứ ba, cộng quân đã ước tính sai lầm nghiêm trọng khi cho rằng quần chúng tại nông thôn sẽ nổi dậy lật đổ chính quyền. Nhận định ấy có thể đúng vào một thời điểm đã khá xa trước khi có Thiệu, bởi vì từ khi Thiệu cầm quyền, chính phủ của ông ta đã tạo được sự đoàn kết, hướng dẫn và tập trung dư luận quần chúng vào mục tiêu chung là chống cộng.
Thứ tư, về phía cộng quân, Hà Nội vẫn có khả năng duy trì sự thâm nhập quân đội của họ, và đã tái trang bị cho các đơn vị chiến đấu những vũ khí tối tân hơn là những vũ khí mà Hoa Kỳ đã trang bị cho Quân đội Miền Nam Việt Nam. Quân đội của họ chấp nhận hy sinh, kỷ luật và chủ động.
Thứ năm, những thiệt hại to lớn về mặt vật chất trong cuộc tổng công kích vừa qua là một gánh nặng đối với chính quyền Việt Nam Cộng hòa cộng thêm guồng máy chính phủ cần được tăng cường thêm nhân viên.
Thứ sáu, Chương trình Bình định phải bị chậm lại bởi vì phân nửa Cán bộ Xây dựng Nông thôn đã phải rời khỏi những nơi đã được chỉ định để về công tác tại các Thành phố cũng như các lực lượng Địa Phương quân và Nghĩa quân, đặc biệt là tại các vùng Miền Đồng bằng Sông Cửu Long.
Bunker kết luận: cuộc chiến bây giờ đã trở thành một cuộc chạy đua tại nông thôn. Ai kiểm soát được nông thôn, phần thắng sẽ thuộc về bên đó. Vấn đề quan trọng đối với Ellsworth Bunker là các lực lượng Đồng Minh không đủ quân số để bảo vệ những Thành phố. Một khi chính phủ Miền Nam Việt Nam rút ra khỏi làng mạc thì quân của Việt cộng sẽ chiếm đóng các làng mạc ấy và từ đó họ sẽ thâm nhập vào nhiều vùng khác tại nông thôn.
Hà Nội cũng không đủ quân số để thực hiện tất cả những nhu cầu họ muốn. Đưa quân vào các Thành phố, Hà Nội cũng bắt buộc từ bỏ những vùng mà họ đã từng kiểm soát và ngưng những mục tiêu mà họ dự trù chiếm cứ. Thế nhưng Quân đội của chính phủ rơi vào tình huống phòng thủ, thụ động (theo ước tính của nhiều Tướng lãnh Miền Nam) thì rồi ra cộng quân sẽ tuyển mộ thêm nhiều người vào Giải phóng quân miền Nam, có cơ hội để dự trữ lương thực và sẽ làm đổ sụp sự hiện diện chính quyền địa phương tại Miền Nam Việt Nam hiện đang kiểm soát ở nông thôn.
Thiệu ước tính, cộng quân sẽ không trở lại cuộc chiến du kích với những đơn vị lẻ tẻ tại nông thôn. Ông ta nghĩ Hà Nội sẽ cố gắng tối đa để tung vào cuộc chiến nhằm buộc chính phủ Miền Nam VN lo bảo vệ các Thành phố, trong khi đó, cộng quân tái thiết lập sự kiểm soát nông thôn để đưa vị trí của họ vào thế mạnh tại bàn thương thuyết. Thiệu tiên liệu Hà Nội sẽ ngồi vào bàn hội nghị một cách nghiêm chỉnh vào cuối năm 1968 và đầu năm 1969. Điều Thiệu tiên đoán đã xảy ra đúng.
Hà Nội đã chuẩn bị và ước tính chu đáo để biến đổi thành quả trong kế hoạch tổng tấn công hỗ trợ cho sự thắng lợi cuối cùng về mặt chính trị của họ. Trong tiểu luận phác họa những bước tiến trong tương lai dành cho những đảng viên cộng sản “Đại thắng lợi, đại thử thách” (The Big Victory, The Great Task) viết vào năm 1967, Võ nguyên Giáp đã báo trước và nhấn mạnh rằng cuộc đấu tranh quân sự sẽ chuyển sang giai đoạn đấu tranh bằng chính trị. Ông ta cho rằng, để tìm lấy sự chiến thắng, người cộng sản phải có tính sáng tạo. phải gây mâu thuẫn ở chủ nghĩa thực dân kiểu mới giữa Hoa Kỳ và dân chúng Việt Nam, từ đó tách rời và cô lập chính quyền Sài Gòn ra khỏi dân chúng.
Giáp lập luận: chính phủ Hoa Kỳ đã lạm dụng danh nghĩa dân chúng Miền Nam Việt Nam để phô trương ưu thế quân sự của họ, cho nên “đây là một cơ hội để dân chúng Miền Nam tập họp đấu tranh về mặt chính trị”. Nếu dân chúng Miền Nam bỏ rơi chính phủ Sài Gòn thì Hoa Kỳ rồi ra cũng không thể đơn phương lao vào trận chiến, chừng ấy Hà Nội sẽ là kẻ thắng trận. Phần lớn những trận đánh quan trọng năm 1968, như Giáp đã viết, xẩy ra tại các Thành phố, nơi mà những đổ vỡ do chiến tranh sẽ là động cơ thúc đẩy một sự thay đổi về mặt chính trị ngay trung tâm quyền lực của chính phủ Miền Nam.
Ngày 2-9-1967 Mặt trận Giải phóng miền nam lần đầu tiên kể từ khi được thành lập năm 1960, đã cho phổ biến bản cương lĩnh chính trị. Theo Giáp, bản cương lĩnh này là “nền tảng vững chắc để đạt đến sự chiến thắng vĩ đại trong công cuộc chống Mỹ cứu nước”.
Điểm đáng lưu ý trong cương lĩnh này là kêu gọi tập hợp mọi thành phần, lực lượng quốc gia và các tổ chức tranh đấu cho dân chủ tại Miền Nam Việt Nam. Vào khoảng cuối năm 1967, cả hai ông Thiệu và Bunker cùng nhận định, một cuộc đàm phán nghiêm chỉnh với những người cộng sản Hà Nội là một điều hão huyền khi Hà Nội cảm nhận họ không thể tìm sự chiến thắng tại Miền Nam Việt Nam bằng võ lực và đưa cuộc chiến tranh vào một bước ngoặc mới.
Tướng Westmoreland nhận được những báo cáo cho biết cộng quân đã thất bại trong việc tuyển mộ binh sĩ tại các vùng nông thôn ở Miền Nam Việt Nam nên họ bắt buộc phải chuyển quân từ Bắc vào qua các ngã đường mòn Hồ chí Minh. Hà Nội không thể thắng bất cứ trận nào trước hỏa lực mạnh mẽ của lực lượng Đồng Minh hiện có. Cộng quân đã hoàn toàn thất vọng trong ảo tưởng chiến thắng bằng quân sự của họ khi đối diện với lực lượng Hoa Kỳ. Miền Nam Việt Nam đã được bảo vệ chắc chắn và đó cũng đủ để gọi là chúng ta đã chiến thắng.
Mặt khác, Tướng Westmoreland cũng không đủ quân số để đánh bại cộng quân một cách nhanh chóng. Một khi đường mòn Hồ chí Minh vẫn còn bỏ ngõ, Lào và Cam Bốt vẫn là nơi ẩn trú an toàn của đối phương thì tướng Giáp vẫn còn có thể kéo dài trận chiến sang nhiều năm. Cuộc chiến sẽ trở thành ván bài không bao giờ chấm dứt như Bunker và Westmoreland đã từng nhận định và chỉ trích. Miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ không ở thế chủ động để kết thúc chiến tranh một khi Giáp chưa ngừng tay.
Về phía Giáp, ngay từ giữ năm 1967, ông ta đã nhận ra rằng, dù có thể duy trì cuộc chiến trong nhiều năm, Giáp cũng không thể nào thắng được tại Miền Nam trừ phi phải thay đổi căn bản chiến lược để huy động toàn bộ sức mạnh về quân sự. Cuộc tổng công kích Mậu Thân, Giáp nhắm vào chiến lược đó. Giáp muốn qua trận tấn công này chứng tỏ ông ta vẫn còn ở thế chủ động, lực lượng ông ta không suy sụp như Tướng Westmoreland đã từng đưa ra tại Washington vào tháng 11-1967.
Vấn đề hệ trọng đặt ra cho chúng ta là ý nghĩa của những sự kiện xẩy ra đã bị phóng đại, thổi phồng. Chính phủ đã đưa ra những nhận định đứng đắn và những nhà bình luận trong giới truyền thông, Quốc Hội, các Trường Đại Học và các Nhà Thờ đã dự phóng sai lầm. Chúng ta đã biết bao lần thống trách cho rằng giúp cho Miền Nam Việt Nam là một thất bại, rơi vào chỗ không lối thoát, những viên chức chính phủ đã diễn đạt sai lầm, một phán đoán lầm lỗi tệ… Giờ đây thời gian đã qua đi đủ để cho chúng ta duyệt xét lại một cách nghiêm chỉnh những sự kiện xác thực đã xảy ra trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân.
Trong tiểu luận viết vào tháng 9-1967, tướng Giáp của Hà Nội đã viết rằng một khi Sài Gòn còn trông cậy vào lực lượng của Mỹ để tồn tại thì Quân đội Miền Nam Việt Nam phải đóng giữ “vai trò chủ yếu song song với Hoa Kỳ trong chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân theo kiểu mới. Sài Gòn là công cụ chính trị của lực lượng Mỹ”. Vì thế mà Giáp chủ trương “cuộc tổng công kích nhằm mục tiêu chính trị, không phải là mục tiêu quân sự nằm sâu trong các Thành phố, Thị trấn, nơi mà người dân Miền Nam Việt Nam ủng hộ cuộc chiến tranh”. Điều đó có nghĩa là các chiến lược gia Hà Nội đã xác định rằng, họ không thể tìm cuộc chiến thắng bằng quân sự. Hà Nội không thể đánh bại Quân đội Hoa Kỳ trên chiến trường.
Nhưng Giáp đã thất bại. Qua cuộc tổng công kích Mậu Thân, Hà Nội cũng không đốn ngã được Quân đội Miền Nam và chính phủ Sài Gòn. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa vẫn lớn mạnh và kiên cường. Dân chúng Miền Nam vẫn tiếp tục hỗ trợ cho chính phủ vừa mới được bầu lên. Chính quyền do họ dựng lên tại một số địa phương đã không được dân chúng hưởng ứng. Những điều những người cộng sản tuyên truyền với dân chúng đã không thực hiện được. Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân là một trắc nghiệm cụ thể về niềm tin và nỗ lực mà Bunker đã đưa ra để giúp Miền Nam Việt Nam và ông đã thắng ở niềm tin ấy.
Nếu dân chúng Miền Nam Việt Nam đáp ứng những điều mà Giáp trông đợi thì cuộc chiến tranh đã chấm dứt, và Giáp được làm anh hùng thêm lần nữa. Thế nhưng điều đó đã không xảy ra, ngoại trừ chuyện dân Miền Nam Việt Nam lại có sự bắt đầu tranh chấp giữa những người ủng hộ lực lượng Hoa Kỳ và những người cho rằng cần có nền tự quyết và độc lập về chính trị.
Vì thế, Bunker đã nói với Tổng thống Johnson: việc dân chúng Miền Nam Việt Nam không ủng hộ Hà Nội trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân tại Miền Nam đã chứng tỏ rằng nỗ lực của Hoa Kỳ hỗ trợ cho xứ sở này hoàn toàn khác xa với cuộc phiêu lưu tìm thuộc địa của Pháp. Người Pháp đã thiết lập một chính phủ, một nền hành chánh và một quân đội ở Việt Nam là để phục vụ quyền lợi của nước Pháp. Trong trường hợp này, người Việt Nam phải dùng Pháp như một đồng minh để họ tiến đến một mục tiêu ở tương lai. Vì vậy mà khi Pháp bị đánh bại tại Điện Biên Phủ và từ bỏ quyền lực của Pháp tại Đông Dương thì quyền lực của những người ủng hộ Pháp tại Miền Bắc rơi vào tay cộng sản và tại Miền Nam, những người thân Pháp bị đẩy ra khỏi chính quyền của Ngô Đình Diệm.
Nhưng tháng 2-1968 vị trí của Việt Nam khác xa thời thuộc địa trong cuộc kháng chiến của Việt minh. Quân đội Miền Nam Việt Nam và chính quyền Miền Nam không phải là công cụ của Hoa Kỳ. Đúng hơn, Hoa Kỳ phụ thuộc vào Miền Nam. Không có một người Mỹ nào kể cả Bunker, có thể chỉ thị cho người Việt Nam thực hiện những điều theo tiêu chuẩn của Hoa Kỳ. Chúng ta không có lý do và cũng không có quyền lực gì để đòi hỏi điều đó. Chúng ta có mặt tại đó với một nhu cầu duy nhất: Sự hiện diện của một chính phủ với một nước bạn đồng hành. Họ không thể tồn tại nếu không có Hoa Kỳ giúp đỡ. Và đồng thời chúng ta cũng nói lên bản chất chính trị của cuộc chiến đấu, rằng sự can dự của Hoa Kỳ nhằm vào mục tiêu bảo đảm nguyện vọng mà dân chúng Miền Nam Việt Nam đang phấn đấu và lựa chọn. Sài Gòn và Washington mỗi bên đều có quyền độc lập và kiểm soát lẫn nhau.
Cũng giống như sự liên minh với chính phủ Churchill vào thời Đệ nhị Thế chiến để chống lại Đức quốc xã, chúng ta phải có mặt tại Việt Nam. Hình thức tuy giống nhau nhưng khả năng lại khác, người bạn Đồng minh Miền Nam Việt Nam chúng ta đã bắt đầu gục ngã. Trong Trận tổng công kích Tết Mậu Thân, Giáp muốn chận đứng khả năng của chúng ta để Hà Nội thực hiện ước mơ của họ.
WESTMORELAND YÊU CẦU TĂNG QUÂN CHIẾN ĐẤU
Trong lãnh vực quân sự, sau Tết Mậu Thân, Westy không có nét thay đổi cơ bản nào ở kế hoạch đã chuẩn bị trước của ông, kể cả việc tập trung quân để tấn kích vào các đơn vị cộng quân đã bị lộ diện. Ưu tiên hàng đầu không nhằm để phản công mà là để bảo vệ các Thành phố và căn cứ Khe Sanh để giảm thiểu sự thâm nhập quân bắc việt xuyên qua vùng Phi Quân sự.
Tại Huế, cộng quân đã tung ra nhiều tiểu đoàn để tràn chiếm, do vậy, Westy dự đoán, cộng quân sẽ tiếp tục phát động những cuộc tấn công mới nhằm vào các Thành phố ở hai tỉnh nằm cực Bắc Trung phần Miền Nam Việt Nam. Cuộc tấn công vào các Thành phố cũng có thể nằm trong chiến thuật của Hà Nội nhằm phân tán các lực lượng Đồng Minh rộng khắp Miền Nam để cộng quân tập trung quân tấn công vào những mục tiêu khác mà họ lựa chọn.
Những tuần lễ sau Tết Mậu Thân, Tướng Westmoreland đã cố gắng tối đa trong khả năng tập trung quân để tiêu diệt các đơn vị địch quân. Thành phố Huế đã được giải tỏa và Căn cứ Thủy quân Lục chiến tại Khe Sanh đã được bảo vệ. Bộ Tư lệnh MACV đã được thành lập thêm gần Huế. Tướng Abrams đã được chỉ định làm Tư lệnh điều hợp giữa Thủy quân Lục chiến và các Sư đoàn Bộ binh Hoa Kỳ mở các cuộc lùng và diệt các lực lượng địch quân ở Vùng đồng bằng và rừng núi tại các tỉnh Trung phần Miền Nam Việt Nam.
Tướng Westmoreland đã chuẩn bị dùng Khe Sanh như một hậu cứ để sẵn sàng mở các cuộc tấn công sang Lào nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh khi Washington đồng ý. Một vài e ngại cho rằng Khe Sanh sẽ trở thành Điện Biên Phủ thứ hai của Hoa Kỳ. Liền sau Tết, mặc dù một sự thất bại tại chiến trường như thế, nhưng Hà Nội đã làm cho Washington do dự trong việc tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh.
Thật vậy, 2 sư đoàn cộng quân bắc việt chung quanh căn cứ Khe Sanh đã bị Không quân oanh tạc tạo nên sự tổn thất nặng nề, do đó họ không còn khả năng để tiếp viện mặt trận của họ tại Huế. Thế nhưng các đơn vị nhỏ hơn của Bắc việt vẫn còn khả năng chuyển quân vào gần các Thành phố lớn gần vùng Phi Quân sự.
Ngày 13-2, qua điện đàm, Westy đã yêu cầu Tham Mưu trưởng Liên quân, Tướng Earle Wheeler tăng cường khẩn cấp cho ông đủ quân số 525.000 người như Bộ Tham mưu đã hứa trước đó. Westmoreland đề nghị một phần của Sư đoàn 82 Dù và một Trung đoàn Thủy quân Lục chiến cần đến Việt Nam ngay. Với các đơn vị mới tăng cường này, Westy dự tính, đủ để bảo vệ kiên cố căn cứ Khe Sanh, vùng Nam giới tuyến và đường tiếp liệu đến các đơn vị Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa một cách an toàn tại vùng Phi Quân sự.
Wheeler bay đến Sài Gòn để nghiên cứu tại chỗ về những nhu cầu mà Westmoreland đòi hỏi. Khi trở lại Washington, ông ta tỏ ra bi quan. Wheeler cho rằng, trong đợt tấn công đầu tiên, cộng quân gần như đã thành công trong việc chiếm giữ hàng chục Thành phố, Thị trấn, điều đó có nghĩa là, hy vọng một cuộc chiến thắng bằng quân sự của phe Đồng Minh còn mong manh, xa vời.
Wheeler đã không hề nhìn thấy Quân đội Miền Nam Việt Nam đã chiến đấu kiên cường để bảo vệ phần lớn những căn cứ của họ mà lại đặt ra câu hỏi, làm thế nào Quân đội Miền Nam có thể tồn tại trước những đợt tấn công của cộng quân? (Trái lại, Bunker, một dân sự, nghĩ rằng Hà Nội không có khả năng tiếp liệu cho các đơn vị của họ để có thể duy trì một mức độ tấn công rộng lớn và lâu dài, đằng khác sự lộ diện của quân bắc việt là mục tiêu để phe Đồng Minh với hỏa lực hùng hậu, dễ dàng tiêu diệt).
Wheeler cũng được tường trình là vị Tư lệnh chiến trường của Hoa Kỳ cho rằng những cuộc hành quân hỗn hợp giữa Hoa Kỳ và Quân đội Miền Nam Việt Nam là một điều cần thiết. Mười Tiểu đoàn của Hoa Kỳ chuyển về chung quanh Sài Gòn và những Tiểu đoàn khác đang phối hợp với quân Miền Nam Việt Nam để tái chiếm Thành phố Huế. Cuối cùng, Wheeler đồng ý con số trên 525.000 quân sẽ được đưa sang Miền Nam Việt Nam và khuyến cáo Westmoreland đặt nặng kế hoạch phản công với quân số vừa được tăng cường đó.
Sau chuyến quan sát của Tướng Wheeler tại Sài Gòn, vào tháng 2 với sự thỏa thuận của ông, Westy đã yêu cầu đưa thêm 206.000 quân vào trận chiến. Lời yêu cầu này nằm trong kế hoạch dự thảo với nỗ lực tối đa mà Westmoreland đã đệ trình cho Washington một năm trước đó, và rồi đã bị Tổng thống Johnson bác bỏ trong mùa Hè năm 1967, để chỉ đồng ý, tăng cường với mức quân số tối thiểu mà thôi.
Sau vụ Tết Mậu Thân, Washington đòi hỏi Bunker thay vì phải gửi thêm quân, Hoa Kỳ phải áp lực tối đa để chính phủ Miền Nam Việt Nam nhận lấy trọng trách nhiều hơn nữa, để Thiệu và Kỳ phải ngồi chung với nhau lo công việc, và để Hoa Kỳ giành quyền ưu tiên chấp nhận việc Thiệu-Kỳ bổ nhiệm những nhân vật trọng yếu.
Bunker đáp lại, ông ta tin tưởng chính phủ Miền Nam Việt Nam có thể làm tất cả những gì mà họ thấy là cần thiết cho đất nước của họ. Thế nhưng nếu chúng ta áp đặt thì chẳng bao giờ họ thực hiện những điều mà chúng ta muốn, và việc làm của họ chẳng bao giờ hoàn tất qua cách nhìn của báo chí, qua ác ý của một số dân cử tại Quốc Hội. Từ đó nẩy sinh ra khuynh hướng chỉ trích, đả kích cho rằng chính phủ Miền Nam Việt Nam đã không thi hành hết trách nhiệm của họ, một trách nhiệm mà ngay cả người Hoa Kỳ cũng không thể hoàn tất nổi.
Bunker sau đó tường trình: các nhà lãnh đạo Miền Nam đồng ý trên nguyên tắc về những mục tiêu mà Washington mong muốn. Thế nhưng, Bunker muốn chỉ thúc đẩy họ bằng ngôn từ và đồng thời loan báo những thành quả mà họ đã cố gắng đạt được. Ngay cả với Thiệu, Bunker cũng hứa rằng vai trò của Ellsworth Bunker là sát cánh để giúp Thiệu đạt được những mục tiêu có lợi cho đất nước của Thiệu.
Trong việc bổ sung thêm quân chiến đấu, Bunker nói với Washington: 7 Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến và một phần Sư đoàn 82 Dù là một nhu cầu cần thiết để thay thế các vị trí xung quanh Sài Gòn do các đơn vị Hoa Kỳ trấn đóng vừa di chuyển ra vùng giới tuyến Phi Quân sự. Và 7 Tiểu đoàn này đủ khả năng chặn đứng đợt tấn công thứ hai của cộng quân dự tính sẽ xẩy ra vào tháng 5 hay tháng 6 xung quanh Sài Gòn.
Bunker đưa ra nhận định này nhằm tăng cường nhận định của Westmoreland trong nhu cầu đòi hỏi Washington tăng quân khẩn cấp. Tuy nhiên, ngoài nhu cầu cần thiết trước mặt, việc tăng thêm quân chiến đấu sẽ được duyệt xét lại vào mùa Hè sắp tới. Về điểm này, Bunker lại không đồng ý tăng quân tối đa như Wheeler và Westmore-land đã ước tính. Theo Bunker, tăng quân mà không có phương thức sử dụng rõ ràng chỉ tạo nên cảm tưởng đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và đằng khác, đẩy chính quyền Miền Nam VN xa rời trách nhiệm của họ, để quay về điểm khởi đầu là Quân đội Miền Nam chỉ lo phần phòng thủ ở nông thôn chứ không phải là đạo quân để chiến đấu.
Dean Rusk từ Bộ Ngoại Giao đã thường gọi cho Ellsworth Bunker để thăm dò phản ứng của dân chúng Miền Nam ra sao khi Hoa Kỳ gửi thêm quân. Bunker nghĩ rằng có lẽ ông Bộ trưởng Ngoại giao cũng cảm thấy dường như có điều gì bất ổn khi sự có mặt của Quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam quá đông. Trao đổi với Rusk, Bunker lại trình bầy với ông ta việc Hà Nội sử dụng lãnh thổ bất hợp pháp tại Lào và Cam Bốt là một trở ngại chính trong công cuộc mang lại chiến thắng cho Hoa Kỳ cũng như cho Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến tranh này. Giải quyết bế tắc trên, bất kể là bằng cách nào, đó mới là điều quan trọng. Quan trọng hơn cả việc gửi thêm quân chiến đấu.
Bunker cũng trao đổi: đáp ứng với việc Hà Nội leo thang chiến tranh, ưu tiên hàng đầu là phải tái trang bị vũ khí tối tân cho Quân đội Đồng minh Miền Nam Việt Nam. Có thế thì Quân đội Miền Nam mới đủ khả năng đối đầu với quân Bắc việt và đồng thời đáp ứng được chính sách mới của Thiệu là động viên toàn lực cho cuộc chiến.
Cuối cùng, Bunker giải thích dùng những vũ khí có sức tàn phá mạnh theo kiểu chiến tranh Hoa Kỳ với những đơn vị được trang bị kỹ thuật cao được đưa vào cuộc chiến, vô hình chung sẽ làm cho chính phủ Miền Nam Việt Nam mất đi mục tiêu cơ bản là tạo đoàn kết về mặt xã hội, không thích ứng với một nền kinh tế còn yếu kém vì đất nước trong thời kỳ chiến tranh.
Tổng thống Johnson đã hành động mạnh mẽ đúng lúc vào năm 1965 để cứu vãn tình hình Miền Nam VN, nhưng hành động ấy không còn là điều bức thiết để phải kéo dài đến ngày hôm nay. Bunker hoàn toàn ủng hộ quan điểm tăng thêm nhiều quân chiến đấu HK một khi kế hoạch tiến sang Lào và cắt đứt đường mòn HCM được thực hiện. Bởi vì, theo Bunker, nếu kế hoạch trên được thi hành thì HN không có đủ khả năng để mở ra những trận tấn công quy mô như dịp Tết vừa qua.
Bản văn yêu cầu tăng cường thêm quân chiến đấu của Westmore-land bị tiết lộ ra tờ báo New York Time vào giữa tháng 3-1968 do một nhân viên dân sự làm việc tại Bộ Quốc Phòng (Daniel Ellsberg đã nói với Robert Kennedy, trang 905). Thế là bao nhiêu báo chí và nhân vật tại Washington hô hoán lên rằng những điều họ nghi ngờ về cuộc chiến đang trên đà thành công là hoàn toàn có lý, rằng những dự phóng lạc quan đưa ra vào cuối năm 1967 là hoàn toàn giả tạo, và rằng trận Tết Mậu Thân là một thất bại nặng nề về phía Hoa Kỳ. Chẳng thế thì tại sao lại có vấn đề yêu cầu đòi tăng thêm quân chiến đấu?
Ngày 22-3, Tướng Westmoreland được thông báo chuẩn bị về Washington để nhận một chức vụ mới. Một cách nào đó, đây được xem là hình thức tưởng thưởng cho Westmoreland vì sự hy sinh của ông trong cuộc chiến VN. Nhưng với Bunker, đấy là quả bom nổ bất thần khi qua hệ thống truyền thanh, Ellsworth Bunker nghe Tổng thống Johnson vừa bổ nhiệm Westy đảm nhiệm chức Tham mưu Liên quân. Nếu được Thượng Viện thông qua, Westy sẽ nhận chức vụ mới vào ngày 2-7. Tướng Wheeler đã gọi điện thoại và báo cho Westmoreland tin đó.
Đối với Westy thì phân vân: đó là một điều đáng vui hay đáng buồn? Ông cảm thấy không hài lòng khi phải rời bỏ nhiệm vụ đang dở dang trong cuộc chiến Việt Nam và cũng không cảm thấy ông sẽ thành công hơn như Đô đốc Sharp, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương đã nói khi ông đảm nhiệm chức vụ mới. Nhưng với Bunker, dù Westmoreland được đề cử chức vụ cao nhất trong Quân đội, nhưng đó là cách sắp xếp của Johnson, không muốn danh dự của Westy mất đi vì bị các phe phái chính trị chỉ trích, tấn công.
Tất nhiên Tướng Creighton Abrams là người kế vị Tướng Westmo-reland. Khi Tổng thống Johnson gọi Abrams về Washington để ông cần tham khảo, thì Bunker hiểu đó là cách kính trọng trước khi bổ nhiệm Abe vào chức vụ mới, Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Ellsworth Bunker thường gọi Westmoreland là Westy, nhưng cho dù với tên gọi ngắn gọn ấy, ai cũng hiểu được ông là vị Tướng 4 sao, con người lúc nào cũng đặt bổn phận và trách nhiệm lên hàng đầu. Westy là tên gọi trìu mến và thân thương mà mọi người dành cho ông. Trái lại, người phụ tá của Westmoreland là Creighton Abrams lại không thích gọi ông một cách ngắn gọn như thế. Đến Việt Nam một năm trước khi Westy rời khỏi xứ này, ông là con người trầm lặng, suy nghĩ, và hợp tác thân mật với các Tướng lãnh Việt Nam. Ông luôn chú trọng đến việc huấn luyện binh sĩ dưới quyền.
Ellsworth Bunker không rõ hết những khả năng quân sự của ông ta, ngoại trừ biết một điều là McNamara rất kính phục Abrams và chuẩn bị cho ông làm người kế vị Tướng Westmoreland. Nếu Abe là Tư Lệnh, Bunker hy vọng Tướng Bruce Palmer sẽ là người phụ tá và theo phán đoán của Bunker, Bruce là một trong số các Tướng lãnh giỏi nhất mà ông được biết tại đây.
Westy và Abrams sau đó bay sang Manila để gặp Tướng Wheeler. Wheeler đến đó để trao đổi một số tin tức mà ông ta không muốn nói qua điện thoại và sau đó ông cùng Abrams bay về Washington để gặp Tổng thống, còn Westy thì trở lại Sài Gòn mang theo nỗi thất vọng. Tại Manila, Wheeler đã cho Westy biết, khi Bobby Kennedy bắt đầu chạy đua vào cuộc tranh cử Tổng thống thì cũng là lúc bắt đầu mở chiến dịch đả kích Washington dữ dội. Guồng máy của Kennedy đã bắt đầu thâm nhập vào các cơ quan cao cấp của chính phủ, đặc biệt là tại Ngũ Giác Đài. Nhóm của Kennedy đã tổ chức khá chu đáo và tất nhiên dồi dào tài chính để tung ra từng chiến dịch chống phá chính phủ.
Sau chuyến đi Washington gặp Tổng thống về lại Sài Gòn, Abrams cũng cho biết Tổng thống Johnson đang phải đối phó với sự cô lập chính quyền ngày càng lớn mạnh. Trong khi thực tiễn, tình hình Việt Nam đang có những tiến triển khả quan sau Tết Mậu Thân, thì trái lại, tại Washington, sự phân hóa lại đang xẩy ra. Abe nói: Thủ đô tràn ngập không khí ngờ vực, nghi kỵ. Người ta không biết thế nào mà những tài liệu trên đường từ Bộ Quốc Phòng tới Tòa Bạch Ốc lại bị tiết lộ ra ngoài, thậm chí người ta không còn biết ai là kẻ đáng tin cậy.
Tổng thống đã mời những con người có đầu óc thông minh nhất như Dean Acheson, Mc George Bundy, George Ball, Abe Fortes, các Tướng lãnh Bradley, Ridgeway, Talor… để hợp với ông cùng Dean Rusk và Clark Clifford. Abrams cũng đã tham dự phiên họp ấy suốt ngày và kể lại cho Bunker rằng tất cả mọi người mặt đều khuyên TT thay đổi chính sách và rút ra khỏi VN, ngoại trừ 4 người. Thế nhưng Johnson không có chỉ dấu nào chấp nhận một sự thay đổi lớn lao như thế. Trái lại, ông ta muốn tiếp tục duy trì chánh sách hiện tại của ông tại VN.
TÁI LẬP AN NINH
Đầu tháng 3, Huế đã tái ổn định và sự đe dọa tại căn cứ Khe Sanh đã bị đẩy lùi. Với sự phối hợp giữa Pháo binh, B52 và máy bay chiến đấu, khoảng 5000 Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ và 1000 Binh sĩ Biệt động quân Miền Nam Việt Nam đã đánh tan 16.000 quân chính quy bắc việt, trái với những điều dự đoán mà ban hợp ca bao gồm đám phóng viên báo chí và truyền hình khen tặng đó là đạo quân vô địch.
Trận thất bại Điện Biên Phủ thời Pháp thứ hai không thể tái diễn. Tướng Abrams trở về Tổng hành dinh tại Sài Gòn. Tướng Westmore-land đã phối hợp với Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa để hoạch định những kế hoạch phản công, nhằm tổ chức chiến dịch hành quân đánh thắng vào sào huyệt cộng quân để chận đứng những mưu toan tấn công vào các Thành phố có thể tái diễn.
Ngày 15-3, 50.000 quân Đồng Minh bắt đầu hành quân tại các Tỉnh chung quanh Sài Gòn để truy kích khoảng từ 8.000 đến 10.000 địch quân mà theo nguồn tin tình báo, còn ẩn trốn trong khu vực trên. Lực lượng cộng quân vì thế phải phân tán mỏng. Quân đội Đồng Minh đã khám phá và tịch thu nhiều kho lương thực và vũ khí của địch.
Thoạt đầu, các nhà quân sự nghĩ rằng những kho lương thực và vũ khí ấy do địch rút chạy nên không mang theo kịp nhưng theo Thiệu nhận định, đó là những tiếp liệu mà cộng quân dành cho đợt tấn công quan trọng vào Sài Gòn lần thứ hai, có thể xẩy ra trong những tháng vào mùa Hè.
Vào giữa tháng 3, Bob Komer đã hoàn tất kế hoạch về Chương trình Bình định. Tỷ lệ dân chúng sống trong vùng chính phủ kiểm soát giảm xuống còn 59,8 phần trăm. Những thành công về mặt an ninh trong Chương trình Bình định vào năm 1967 đã tiêu tan. Trước Tết Mậu Thân, 7.761 xã ấp có an ninh 100%, sau Tết xuống còn 4.472. Hai phần ba xã ấp đã mất quyền kiểm soát vì không có lực lượng Nghĩa quân, Địa phương quân hay các lực lượng khác bảo vệ.
Thế nhưng điều đó không có nghĩa là các lực lượng Địa phương quân và Nghĩa quân bị tan rã. Khoảng 85% đến 95% lực lượng ấy vẫn còn tồn tại. Lực lượng đó chỉ bị điều động để bảo vệ tại các nơi gần Quận lỵ và Tỉnh lỵ. Các đơn vị Địa qhương quân mới đáp ứng được 59% cấp số Sĩ quan và 69% Hạ Sĩ quan và 61% đơn vị chưa có vô tuyến điện thoại liên lạc. Theo sát những thống kê này, Bunker đã đề nghị các nhà lãnh đạo Miền Nam hãy tập trung nỗ lực thỏa mãn nhu cầu hai lực lượng trên bởi vì lực lượng đó rất cần thiết đối với dân chúng.
Thiệu đã chứng tỏ là một nhà lãnh đạo có khả năng để phục vụ dân chúng của ông nhưng Kỳ thì bất mãn khi Thiệu thay thế hai vị Tỉnh trưởng Biên Hòa và Gia Định. Đương kim Tỉnh trưởng Gia Định là em vợ của Tướng Nguyễn Ngọc Loan còn Tỉnh trưởng Biên Hòa là của ông Tướng đang giữ chức Tổng Tham mưu trưởng. Vị Tỉnh trưởng này chẳng biết làm gì cho tỉnh ông ta đến đỗi Bob Komer phải cắt hết mọi phương tiện dành cho Tỉnh Biên Hòa và đồng thời đặt Tỉnh Biên Hòa ra ngoài vòng bảo vệ của Quân đội Hoa Kỳ.
Thiệu cũng cho Bunker biết là vị Thủ tướng vừa quyết định cất chức Giám đốc Quan thuế và Tân cảng Sài Gòn vì hai người này đều là chân tay của Kỳ. Những quyết định của Thiệu chứng tỏ ông ta là người có bản lãnh và thật sự muốn đặt chính phủ nắm giữ đúng với trọng trách của nó, Bunker nghĩ như vậy. Thế nhưng điều đáng tiếc là trước dân chúng, Thiệu lại không chứng tỏ nổi ông ta là con người quả cảm, năng động để mọi người đều có thể tin ông.
Đầu tháng 3, Thiệu thay thế tới 8 Tỉnh trưởng kể cả Biên Hòa. Tạp chí Newsweek nhận xét rằng người mà Thiệu đưa lên làm Tỉnh trưởng Huế và Thừa Thiên không có khả năng. Nhưng một năm sau, sau khi vị Tỉnh trưởng này hoàn tất một số công tác cho Tỉnh ông, cũng tờ tạp chí ấy, khen ông ta là một con người khôn ngoan, lương thiện. “Người đã đưa Thành phố Huế thoát khỏi cảnh hoang tàn”.
Thiệu sau đó đã chỉ thị cho các đơn vị Quân đội Miền Nam Việt Nam quay trở lại bảo vệ nông thôn. Tổng nha Nhân dân Tự vệ đã được thành lập trực thuộc Bộ Nội vụ để điều hợp chương trình nhân dân võ trang. Vị Tân Tư lệnh Vùng 4 Chiến thuật, một con người năng nổ dưới mắt người Mỹ và cũng là bạn chiến đấu của Kỳ, đã tạo dựng niềm tin trong hàng ngũ Quân đội ở vùng đất trọng yếu của Miền Nam Việt Nam. Quân nhân thuộc các Tỉnh vùng này giờ đây đã trở lại truyền thống có 30 phút nghỉ ngơi trong giờ trưa. Quốc lộ 4 từ Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long về Sài Gòn đã hầu như hoàn toàn an ninh.
Bunker tham dự một buổi lễ tại Sân Vận động Tao Đàn ở phía sau Dinh Độc lập cùng Thiệu, để chủ tọa lớp mãn khóa huấn luyện quân sự dành cho sinh viên. Báo chí loan báo là có 13 ngàn sinh viên đã học qua khóa huấn luyện quân sự này. Trong buổi lễ hôm ấy Thiệu đã dành 15 phút để nói chuyện trước đám đông sinh viên đó. Bài nói chuyện không soạn sẵn vì không dự định sẽ có buổi nói chuyện trong chương trình. Thế nhưng chưa bao giờ Bunker thấy Thiệu nói chuyện hùng hồn và hấp dẫn như buổi hôm ấy đến đỗi Bunker không nghĩ người đang nói chuyện trước đám sinh viên kia là Thiệu.
Trong 15 phút, sinh viên đã vỗ tay hoan nghênh ông đến 9 lần, và khi chấm dứt, ba lần sinh viên đã đứng lên ngồi xuống liên tục hoan nghênh ông. Khi hai phần ba sinh viên diễn hành qua thì Thiệu, Hội đồng Nội các và Ngoại Giao đoàn ra về. Khi vị Đại sứ đi ngang qua sinh viên, vài người trong số ấy đã gọi “Bunker” và vỗ tay. Khi tiến gần đến chiếc xe thì ông đã bị đám đông sinh viên chặn lại, họ muốn ông đứng chụp hình chung với họ và chìa tay bắt tay ông. Có SV đã lấy chiếc mũ của họ đội lên đầu Bunker và tất cả đều bày tỏ lòng nhiệt tình và thiện cảm. Bunker nghĩ, nỗi sợ hãi trong kỳ Tết vừa qua nay đã tan biến.
LYNDON JOHNSON HY SINH VÌ HÒA BÌNH
Vào cuối tháng 3, cuộc khủng hoảng chính trị do những đợt tấn công trong kỳ Tết Mậu Thân lại bộc phát dữ dội ngay tại Hoa Kỳ. Mặc dù được nhiều phiếu ủng hộ trong cuộc chạy đua vòng đầu tại New Hampshire cùng đối thủ của ông là Robert Kennedy của đảng Dân Chủ tranh ghế Tổng thống, thế nhưng Tổng thống Johnson lại loan báo giảm bớt một số mục tiêu ném bom tại Bắc Việt, kêu gọi cuộc thương thuyết để chấm dứt chiến tranh và tuyên bố không ra tranh cử lần thứ hai vào chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ. Ông là một nạn nhân thiệt thòi nhiều nhất trong vụ Tết Mậu Thân ở nhiệm kỳ làm Tổng thống của ông. Và việc tự hy sinh để không ra tranh cử Tổng thống đã làm giảm thiểu những thắng lợi về mặt chính trị mà ông đặt được, đó là tạo ngộ nhận trong quần chúng Hoa Kỳ nghĩ rằng Hà Nội đã thắng trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân nên ông không ra tranh cử.
Việc Johnson hạn chế oanh tạc và phủ nhận đề nghị tăng quân chiến đấu Hoa Kỳ thật ra không làm cho Bunker ngạc nhiên. Johnson đã đưa ra những quyết định cơ bản đó từ mùa Hè năm trước khi ông ta từ chối lời yêu cầu tăng quân tối đa của Westmoreland. Nhưng việc Johnson quyết định không ra tranh cử đó mới là điều Bunker không hiểu nổi. Sau này thì Bunker hồi nhớ lại những biến động chính trị trong dịp Tết Mậu Thân đã ảnh hưởng nặng nề đến Johnson. Ông ta đã thắng với kẻ thù ở hải ngoại nhưng thất bại với đồng bào mình ngay tại quê nhà.
Vào lúc 10g sáng ngày thứ hai 1-4-1968, tất cả thành viên trong Hội đồng Đặc nhiệm ngồi chung quanh chiếc bàn để lắng nghe bài nói chuyện của Tổng thống, bài nói chuyện mà một phần nội dung đã được thảo luận với Bunker trước đó hai ngày qua đường viễn liên tối mật, liên quan đến việc oanh tạc Bắc Việt. Khi bài diễn văn chấm dứt, mọi người đều sững sờ, cả Bunker. Ellsworth Bunker và những cộng tác viên cao cấp của ông bắt đầu phân tích việc Johnson quyết định không tái tranh cử sẽ tạo một sự tranh luận về chính trị ngay tại Washington và những sự kiện đó ảnh hưởng đến mức độ nào về tình hình tại Việt Nam. Mặt khác, phía Miền Nam Việt Nam sẽ đối phó ra sao về quyết định này của Tổng thống Johnson.
Khi Tổng thống đọc bài diễn văn đó thì tôi đang đứng trong căn phòng gần trường Đại học George Washington và chăm chú lắng nghe. Tôi không cảm nghiệm nổi bản lãnh chính trị của con người như Johnson, khi có thể đưa ra quyết định không tái tranh cử, như biểu hiệu sự hy sinh của chính ông trước sức ép do sự hướng dẫn sai lệch về sự thất bại trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân. Rõ ràng ông ta không đủ bản lãnh để đương đầu với những khó khăn xẩy đến như tôi từng suy nghĩ nhiều năm về trước và cảm thấy dường như có một sự gì đó đã bị phản bội.
Sau cuộc nói chuyện của Johnson, Bunker liền gặp Thiệu. Khi hỏi tại sao Johnson quyết định không tái tranh cử, Bunker đáp lại Thiệu: theo suy nghĩ riêng của ông ta, có lẽ ảnh hưởng từ sự chống đối do việc không kiểm soát nổi tình hình trong dịp Tết Mậu Thân. Khi đưa ra quyết định không tái tranh cử, Johnson muốn đặt Việt Nam ra khỏi vùng tranh chấp tại Washington để ông hoàn toàn theo đuổi cuộc thương thuyết theo sách lược của ông ta. Với một sự hy sinh cá nhân như thế, Johnson nghĩ ông không còn là mục tiêu để mọi người chỉ trích.
Là những người Việt Quốc gia đầu tiên quan tâm và e ngại việc Johnson rút ra khỏi cuộc tranh cử và hủy bỏ cuộc oanh tạc Bắc Việt, thế nhưng Thiệu và Bộ Tham mưu của ông đồng thời cũng nhận ra được một chuyển đổi bức thiết đang xẩy ra ở quan điểm về phía Hoa Kỳ và quan điểm ấy không hẳn đưa đến sự tiêu vong trong việc Hoa Kỳ tiếp tục hỗ trợ Miền Nam Việt Nam.
Bắc Việt sau đó đã đáp ứng lời kêu gọi của Johnson về cuộc thương thuyết. Sau một tháng bàn cãi về địa điểm, cuộc hòa đàm bắt đầu tại Paris vào tháng 5, ngay sau cuộc tổng công kích đợt 2 mà Hà Nội vừa tung ra. Đối với Hà Nội, đàm phán chỉ có nghĩa là một ván bài bầy ra cho họ rao bán, tuyên truyền. Thương thuyết không có nghĩa là từ bỏ những lợi điểm mà họ đạt được qua các cuộc bạo động có võ trang. Sự ngây ngô của phong trào đòi hỏi hòa bình ở Mỹ đã phóng đại những thành quả ở các cuộc thương thuyết, quả là điều không tưởng.
Sau khi Tổng thống Johnson đưa ra tuyên bố hạn chế việc oanh tạc Bắc Việt, vào ngày 3-4, Thiệu và Kỳ tổ chức một cuộc họp báo. Trong lời phát biểu của Thiệu đã thay đổi thái độ qua nhận định: “Quân đội của chúng ta đã phát triển mạnh mẽ qua kế hoạch tổng động viên, và nếu chính phủ Hoa Kỳ cảm thấy cần thiết, có thể bắt đầu rút một phần quân chiến đấu về nước vào cuối năm 1968”. Dưới thời Tổng thống Nixon, kế hoạch đó gọi là Chương trình VN hóa Chiến tranh.
Thiệu vẫn nói trước công chúng, giữa ông và Kỳ có nhiều điều dị biệt, nhưng Thiệu vẫn xác định trên bình diện quốc gia, những vấn đề hệ trọng, ông và Kỳ đều cùng thảo luận và cả hai người cùng đồng ý. Thiệu trao cho Kỳ trách nhiệm đặc trách về lực lượng Nhân dân Tự vệ. Việc chính phủ Miền Nam Việt Nam đáp ứng nhanh chóng những yêu cầu của Johnson đưa ra hôm 31-3 đã làm tăng lên thế chủ động khi yêu cầu Hà Nội ngồi vào bàn thương thuyết. Thiệu chuẩn bị bài nói chuyện trước đồng bào ông về việc Hoa Kỳ rút quân về nước, về việc võ trang thành phần Nhân dân Tự vệ.
Sau những tuần lễ căng thẳng về tinh thần, Bunker trở về Was-hington để tham dự phiên họp với Tổng thống Johnson và những phụ tá của ông. Vừa đến phi trường Andrews Air Force, Bunker mới chợt biết Bộ Ngoại giao đã thay đổi khách sạn tạm trú mà ông đã giữ trước đó là Jefferson Hotel sang khách sạn Shoreham bởi vì, theo Bộ Ngoại Giao, nơi đây an toàn hơn.
Những kẻ nổi loạn đã tràn ngập Thủ đô sau vụ Martin Luther King bị ám sát. Sài Gòn không phải là nơi khó khăn duy nhất hiện nay mà chính phủ phải lo đối phó, mà là khắp các mặt. Việc Luther King bị ám sát làm Bunker cảm thấy đau đớn, Bunker viết cho vợ rằng ông không thể ngờ được điều ấy lại có thể xẩy ra ngay tại Hoa Kỳ. Đối với Bunker, với niềm tin mãnh liệt và định mệnh lịch sử Hoa Kỳ, thừa kế những di sản của tiền nhân, vấn đề chủng tộc người Mỹ gốc Phi Châu dần dần sẽ được san bằng, thay thế vào đó là sự công bằng và sự bình đẳng. Cái chết của King đã làm cho Bunker giảm đi nhiều hy vọng.
Tôi nghe tin ông Luther King chết được loan báo qua radio trên chiếc xe thể thao. Khi ấy ba tôi và tôi vừa dừng lại ở một tiệm burger ở Washington, ngoại ô Virginia. Tôi vội vã quay về nhà và chìm trong hỗn mang những suy nghĩ tại sao người ta lại có thể hành động như thế. Cũng giống như vụ ám sát John Kennedy xẩy ra 5 năm về trước, cái chết của King đã tạo nên một cuộc khủng hoảng về niềm tin tại Hoa Kỳ.
Khi Ellsworth Bunker so sánh, với Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford và Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk trên máy bay trực thăng từ Camp Davis trở về Washington rằng hỗn loạn chẳng khác gì Sài Gòn thì Rusk mang câu chuyện ấy nói với Johnson. Johnson trả lời: “Ô hay! Ai là người đã trượt ngã trên sự hỗn loạn ấy? Tôi đã nói với mọi người là hãy đưa Ellsworth Bunker vào Tòa Bạch Ốc”. Bunker đáp lại: “Tôi nghĩ, ở đây không được an toàn”.
Rồi Johnson đưa Ellsworth Bunker vào căn phòng khách, nơi mà Churchill đã là khách trú tại đó trong thời gian viếng thăm Bạch Ốc. Johnson nói với Ellsworth Bunker: Churchill đã thức dậy lúc 4 giờ sáng, gọi rượu và vào phòng đánh thức Tổng thống Eisenhower.
Sáng hôm sau, Johnson mời Bunker dùng điểm tâm tại phòng của ông. Tổng thống còn mặc đồ ngủ, vừa đùa với cháu, vừa mở máy nghe những gì mà khách, qua điện thoại, nhắn lại. Vừa lúc ấy thì chuông điện thoại reo. Sau khi nghe, Tổng thống quay qua hỏi Bunker: “Họ nói với tôi, Hà Nội đề nghị cuộc đàm phán sẽ tổ chức ở Warsaw. Ông có đi Warsaw không?” Bunker đáp ngay: “Không, thưa Tổng thống, tôi không đi”. Johnson hỏi: “Tại sao?” Bunker phân tích: “Ba Lan là nước đã ủng hộ Hà Nội. Như thế Miền Nam VN sẽ chẳng bao giờ chịu đến thương thuyết ở một nước đã từng giúp cho Hà Nội đâu”. Johnson trở lại chiếc điện thoại đang chờ và ông trả lời với phía bên kia đầu giây: “Không, chúng ta không bao giờ đến Warsaw”. Rồi Tổng thống gác ống nghe.
Một ai đó xuất hiện và nhắc cho Tổng thống biết là ông sẽ có cuộc hẹn vào lúc 10 giờ. “Tôi nghĩ là tôi phải chuẩn bị thì vừa. Rất tiếc”. Tổng thống nói với Bunker như vậy.
Sau khi Johnson ra lệnh ngưng ném bom một phần tại Bắc Việt vào ngày 31-3-1968, Thiệu đã chuẩn bị phương án cải tổ những nhân vật cao cấp trong chính quyền của ông ta. Với nhu cầu trước mắt là chính quyền Miền Nam cần phải được củng cố và cần một thế mạnh để chuẩn bị cho các cuộc thương thuyết hội đàm sắp xẩy đến, Thiệu có đủ lý do vững chắc để loại những nhân vật thân Kỳ. Kỳ cũng cảm thấy việc Thiệu quyết định thay đổi một số nhân sự là điều cần thiết và ông ta không nghĩ sự thay đổi đó là chỉ nhắm cho lợi ích của cá nhân Thiệu.
Hai Tướng lãnh đang xem như bị lưu đầy khỏi nước đã được gọi về để giúp Thiệu. Người thứ nhất là Trần Thiện Khiêm, người Miền Nam, được xem như thành phần không nằm trong tổ chức lật đổ Diệm năm 1963. Khiêm còn là người đã cứu Diệm trong cuộc đảo chánh năm 1960, một đảng viên trung kiên của Đại Việt, được nhiều sĩ quan trong Quân đội Miền Nam ủng hộ. Ông ta đã từng chiến đấu chống lại Việt Minh từ năm 1946. Vị Tướng thứ hai được gọi về là Đỗ Cao Trí, một con người chỉ biết chiến đấu, cũng người Miền Nam và được so sánh ông như một George Patton. Khả năng chính trị của Khiêm và Trí đều ngang tầm. Trí không phải là đảng viên Đại Việt và gần gũi với quan điểm và thái độ của nhóm Công Giáo từng phục vụ trong chính quyền của ông Diệm.
Không bao lâu sau đó thì đến ngày Lễ Quốc Tổ Hùng Vương, người có công dựng nước Việt Nam đầu tiên. Thiệu tham dự ngày lễ long trọng đó. Hùng Vương mở Triều đại Hồng Bàng kéo dài từ 2879 đến 250 trước Công Nguyên. Tên nước được đặt là Văn Lang và chạy dài tận phía cực Nam ở Trung Hoa và ngày nay được gọi là Miền Trung Phần của Việt Nam.
Cũng trong ngày lễ này, một biểu ngữ đồ sộ khác cũng được treo lên để tưởng nhớ hai vị anh hùng khác của dân tộc Việt Nam và đã trở thành huyền thoại, đó là Lạc Long Quân và Âu Cơ. Theo truyền thuyết Việt sử, Lạc Long Quân và Âu Cơ đã sinh ra 100 người con, 50 người lên núi sống và ngày nay trở thành những Bộ lạc người Cao Nguyên và 50 người khác đã đi xuống vùng biển và đã trở thành người Việt.
Trích từ “Cuộc chiến thắng bị bỏ lỡ, chương 5”.
Nguyễn Vạn Hùng chuyển ngữ