Ăn tạp, Tạp ăn!

Vết Nám - Hồi ký “tù cải tạo”

Xin Lưu ý: Công cụ “Tìm Kiếm Video” ở cuối bài [Không Quảng Cáo]

Ăn tạp hay Tạp ăn thường để nói về “người” và “heo”!

Con heo ăn tạp là con heo dễ nuôi, mau lớn, có nghĩa là con heo có sức ăn mạnh, bỏ cái gì vào máng như rau (rau lang, rau muống – phần ngọn người ăn, phần gộc, cứng đem “nấu chéo heo”)… cá mú, đồ ăn thừa, đồ ăn dư, chuối cây, v.v… con heo ăn tạp “xơi” hết (xơi là tiếng dành cho quan), hay “ngự thiện” (tiếng dành cho vua), chẳng chừa một thứ gì. Heo mau lớn, “nặng ký”. chủ nuôi heo có lời. Được một cái, Trư Bát Giới khi theo Tam Tạng ăn không bao nhiêu mà vẫn “nặng ký”, dù có bán, chắc chi có người mua.

Con heo “kén ăn” thì ngược lại, heo lâu lớn, tốn kém nên chủ cũng bán cho mau! Hai loại heo nầy, đều không “thọ”.

Mẹ tôi không nuôi heo!

Mẹ tôi, góa chồng lúc 40 tuổi, nuôi một “bầy” tám đứa con (bốn trai, bốn gái), lại cho đi học… còn hơi sức đâu mà mẹ tôi nuôi heo!

Vậy, tại sao tôi biết chuyện nuôi heo. Tôi cũng không phải tuổi “hợi”.

Bên cạnh nhà tôi, có một con đường, ngoài Trung gọi là  “kiệt”, trong Nam gọi là “hẽm”, dân “Bắc kỳ 75” gọi là “ngõ”, con “đường kiệt” dẫn lui một xóm lao động ở phía sau, không biết do ai đặt tên mà gọi là “Xóm heo”, tức là xóm nuôi heo, bán thịt heo ở  chợ  Quảng Trị , là nghề của mấy mẹ, mấy dì, mấy chị…Còn mấy ông, mấy anh thì theo nghề của Trương Phi: hạ thịt. Trốn học, đi lang thang, không ít lần tới xóm heo với bạn học nên tui biết câu chuyện những con heo “tạp ăn”.

Còn người?

Cái gì, con gì cũng bỏ vô mồm ăn được, gọi là người “ăn tạp”. Như vậy, ở xứ tôi, hai chữ “ăn tạp”, “tạp ăn”, nói xuôi, nói ngược cũng có thể dùng để phân biệt heo với người.

Bọn tôi, mấy anh em, không ai dám ăn tạp vì sợ mẹ rầy. Mẹ tôi, vốn từng làm ở bệnh viện 10 năm, có kinh nghiệm trị bệnh cho người bệnh, nên mẹ thường dạy: “Ăn vô dễ, lấy ra khó”. Cái gì lạ, siu thối, có mùi… thì không ăn! Dù đói mấy cũng rán nhịn. Khổ nỗi, nhà tôi nghèo, đói nhiều hơn no, nhất là năm Ất dậu (1945), có nạn đói to, ở miền Bắc cũng như miền Trung.

Việc ăn uống cẩn thận như thế, lâu ngày trở thành thói quen.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long, đất nhiều sình lầy, nơi loài bò sát dễ sản sinh, phát triển, nên có nhiều món ăn lạ. Tôi không dám ăn mặc dù 16 tỉnh miền Tây Nam Bộ – tính theo thời Đệ Nhị Cộng Hòa – tôi “lội” khắp, dân chúng mời ăn, cho ăn cũng nhiều.

Không kể những món thông thường, tôi chỉ nói những món bất thường. Vài nơi người ta ăn cóc: chặt đầu, lột da, nấu cháo. Nghe đã thấy sợ, nói chi tới ăn. Hôm mới về Cái Sắn, có nhà mời ăn cháo rắn: Rắn Rita! Rắn càng độc, ăn càng bổ, cường dương! Thôi! Cường hay không cường là tự mình, còn như ăn thịt rắn, uống rượu rắn – thời kỳ “thống nhất đất nước” rất phát triển rượu rắn ở “thành phố Bát” (chữ của “bộ đội” đấy) để “cán bộ cường dương” –

Con rắn chặt khúc, luộc chín, sắp quanh cái dĩa bàn lớn, như con rắn đang nằm ngủ. Nhậu xong thịt rắn thì dùng cháo rắn. Hôm đó tôi nhịn đói mà về. Cạch! Không dám tới “những nhà ấy” – nhà nhậu thịt rắn đấy, đừng hiểu lầm – lần thứ hai. Những lần sau, có ai mời đi đâu, tôi hỏi nhỏ: Ăn cái chi? Gà, vịt, heo, bò thì OK. Còn như rắn, cần đước, rùa (sợ xui), baba, kỳ đà (cũng sợ xui), “kỳ đà cản mũi” (tục ngữ), trăn, đuông, cà sấu, đồi mồi, sam… thì “xin kiếu”.

Có lần ra “quần dảo Hải Tặc”, ăn thịt vịt, nhớ hoài. Vịt ở hòn (đảo) người ta không nuôi bằng gạo, thóc, mắc tiền mà nuôi bằng “cá phân”, loại cá nhỏ, không ăn được, dùng để “bón phân” ruộng hay trồng cây và cho vịt ăn.

Có anh “đệ tử” hỏi: “Ông thầy” có ăn ốc không?” Anh ta nói thêm: “Ốc biển to lắm, bằng nắm tay!”

Nghĩ bụng: Vậy thì ăn cho biết. Từ nhỏ đã ăn nhiều loại ốc, có sao đâu: Ốc gạo, ốc bưu, ốc quắn, chần chần, chắt chắt, hến. Vậy mà hôm đó ăn xong, hối hận. Ở biển, người ta không ăn ruột ốc, sợ con ốc ăn nhằm loại rêu đôc, chỉ ăn cái đầu ốc. Cái đầu ốc: bỏ vào máy xay, chưa chắc đã nhuyễn, nói chi răng người!

&

“Đảng quang vinh” “giải phóng” miền Nam rồi, người miền Nam kéo nhau vô “trại học tập” rồi, thì…. khỏi chê!

Trước hết là câu chuyện “hai ông lớn”: Một là Lê Quang Uyển, thống đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam, và bác sĩ Cảnh (không nhớ họ). bác sĩ giải phẩu Bệnh Viện Bình Dân ở đường Phan Thanh Giản – tên cũ – Saigon – cũng tên cũ! –

Mới “khai giảng” – thật ra là “trình diện học tập”, chưa được một tháng, hai ông đã “thèm thịt”, khác với câu nói đùa bằng chữ “th” của mấy thằng nhóc học tiểu học: “Thưa thầy thằng Thọ thèm thịt thỏ thúi” – ở đây, trại “học tập cải tạo” Trảng Lớn là hai ông… “thèm thịt chuột”.

“Bạn đồng khóa” (học tập) ở chung một “lán” với hai “ông lớn” kể: Hai ông thèm thịt, bèn “ký” một hợp đồng “bất thành văn” với nhau như sau: Ông Uyển làm bẫy bắt chuột, được con nào giao cho bác sĩ Cảnh (bác sĩ giải phẩu) làm thịt, nấu ăn chung.

Thấy vậy, có người chê: Hai anh nầy ghê quá, chuột cống mà cũng ăn.

Ông Uyển cãi: Chuột cống đâu! Đặt bẫy ở đây. Chuột từ ngoài đồng vô, tức là chuột đồng, sao gọi là chuột cống?

Ông bạn kia cãi: Anh đặt bẫy ngay cái cống nước, thì nó là chuột cống, sao gọi chuột đồng?!

Nghe chuyện, tôi chỉ cười. Mấy cha nầy “ăn trên ngồi trốc” thiên hạ, chỉ có thể làm “cách mạng xa-lông”, chẳng biết mô tê gì về nông thôn cả, “chống Cộng thua đau” là phải! Tôi nhớ mùa hè năm 1972, đang “mùa sạ”, sáng tinh mơ, tôi đi ngang Kinh 8 ở Cái Sắn. Trời còn tối mà lại sương mù, nhìn xa thấy mờ mờ. Hơi giật mình một chút bởi vì bên đường, một “bờ tường” cao gấp hai đầu người.  Lạ! Chỗ nầy là bến đò, tự dưng, ai dựng lên đây một bức tường hồi nào. Đứng lại xem kỹ. Té ra lồng chuột chất chồng lên nhau, như bức tường. Nông dân bẫy chuột, từ trong đồng, đem ra đây, chờ xe đò, xe tải từ Rạch Giá lên, chở lên bán ở Saigon. Chuột đâu mà nhiều thế???!!!  Mùa sạ, chuột ăn cái “mầm” lúa sạ, con nào con nấy nhỏ mà mập ú, lông vàng rượm. Chuột ăn no, một tháng đẻ mấy lứa, sinh sôi nẩy nở hàng ngàn hàng vạn con, phá lúa dữ dằn. Bẩy được chuột, vửa bảo vệ lúa, vừa có tiền bán chuột.

Mấy ông quan lớn nầy, chưa từng ở đồng làm sao biết ông thiếu tướng Việt Cộng Đồng Văn Cống, tuy một người nhưng “Đồng” với “Cống” khác nhau như thế nào!!!

Một năm sau, 1977, chuyển về trại Suối Máu Biên Hòa, tình hình thiếu thịt đã “bi đát” lắm rồi. Mùa mưa tới rồi, ốc trơi, ốc ma xuất hiện ngoài hàng rào kẽm gai. Hàng rào có gài mìn, vậy mà cũng có anh bò ra bắt những con ốc ấy đem vào nướng ăn. Có người chê! Cũng có người nói đùa: “Con gì nhúc nhích là ăn!”

Năm sau nữa, chuyển về trại Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai.

Mái nhà lợp bằng “tôn xi-măng”. Có cái ổ chuột nhắt nằm ngay góc nhà. Một hôm, gió lốc thổi, mái nhà sập, “tôn” bay mất. Bốn, năm con chuột con, còn đỏ hỏn. Thế là mấy “học viên” tranh nau mấy con chuột con. Giành được rồi thì “bỏ lò nướng ăn”. “Ngon quá cỡ thợ mộc”. Có anh vừa ăn, vừa khen.

Chúng tôi cuốc đất phía sau “Đồi Phượng Vĩ”. Đánh nhau với Việt Cộng  mà “mấy anh Việt Nam Cộng Hòa” đặt tên doanh trại nghe lãng mạn bay bướm dữ. Quản giáo Hoành bảo: “Phá mấy gốc cây mục lấy thêm “đất canh tác”. Vậy là chúng tôi lấy cuốc chim cuốc mấy cái rễ mục lên, moi nhằm một con “trùng” của con kiến dương hay bọ hung gì dó. Con trùng giống như con tằm, to bằng ngón tay cái. Đội trưởng Dương Tiến Đông “chộp” lấy, hơ qua trên ngọn lửa, xong, bỏ vào mồm, vừa nhai vừa thở, lại còn khen: Ngon như ăn miếng “Bơ đầu bò”.  Vậy là từ đó không ai gọi nó là con trùng, cũng không ai gọi là “Đông trùng hạ thảo”, mà gọi nó là “Con bơ”. Tác giả sáng tác ra “danh từ mới” nầy chính danh là “cựu đại úy Dương Tiến Đông, đội trưởng đội 19”, trại C của Z30C, “trường” Cải Tạo Xuân Lộc, Đồng Nai. Vị nào soạn hay viết “Tầm nguyên Tự điển Việt Nam”, xin ghi rõ như thế.

Lối “ăn tạp” như thế nầy khiến cán bộ (Công An) nhiều khi bực mình!

Cựu đại úy Đỗ Trọng Khiêm, chi khu phó Chi khu Trúc Giang, Kiến Hòa, khi “học tập” ở trại C/ Z30A, giữ nhiệm vụ nấu nước khi các “học viên” cuốc đất phía sau Đồi Phượng Vĩ. Người nấu nước thường hâm hay nấu một món gì đí do gia đình thăm nuôi đem cho, giúp cho các bạn bận lao động.

Một hôm, có người bạn nhờ Khiêm nướng giúp khúc lạp xường.

Anh (gọi là anh vì còn trẻ) Công An đi tới, đứng nhìn Khiêm. Bỗng anh ta hỏi, giọng xẳng:

“Lày, anh kia!” (Đúng ra nói là Này, anh kia, nhưng ông cán bộ Bắc Kỳ “lói” ngọng đấy!) Anh “lướng” (nướng) con gì thế?”

Khiêm rất “hiểu” cán bộ, bèn trả lời, mặt rất tĩnh:

-“Thưa cán bộ! Tôi nướng con lạp xường!”

Anh cán bộ Công An giận dữ bỏ đi, miệng cằn nhằn:

-“Con gì cũng “lướng” ăn! Con nạp xường mà cũng ớng ăn!”

Dĩ nhiên, dù trong trại cải tạo không có đài phát thanh nhưng câu chuyện cán bộ mắng “Con lạp xường mà cũng nước ăn” ai ai cũng biết cả!”

Tạo Hóa rất nhiều khi thương người nghèo! Nếu “con gì cũng nướng ăn” mà sinh ra bệnh “Sốt Tàu” (tức là coronavirus Cấp Vũ Hán), như hiện giờ ở bên Tầu, thì có lẽ các “cải tạo viên” chẳng còn ai có ngày về!

“Hóa nhi” cũng lắm khi làm chuyện “ngược đời” đấy chớ!

Cám ơn Thượng Đế!

`           Tui vẫn còn sống đây!

hoànglonghải

Ngày 1/ 2/ 2020

Đã xem 2652 lần

>>> Tìm Kiếm Video Mà Quý Vị Quan Tâm <<<

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.