Biển Đông Việt Nam, Dê Tế Thần OBOR chệt cọng

Xin Lưu ý: Công cụ “Tìm Kiếm Video” ở cuối bài [Không Quảng Cáo]

Đại nạn Trung Hoa: Nanh vuốt Trung Cộng

Kết luận

Sự khiếp nhược của lãnh đạo đảng CSVN trước nanh vuốt Trung Cộng trong trận Gạc Ma năm 1988 cho thấy đảng CSVN bắt đầu thấm đòn thù của Trung Cộng. Lúc đó, tình hình Đông Âu đang biến chuyển mạnh, các nước CS tại đây sắp sửa sụp đổ. Liên Xô cũng bị yếu thế. Các lãnh tụ đảng CSVN bắt đầu âm thầm chịu khuất phục trước nanh vuốt kẻ xâm lăng, nhằm giữ vững chế độ CSVN. Trung Cộng không còn chờ đợi gì hơn, sẵn sàng đón nhận kẻ quy hàng tại hội nghị Thành Đô năm 1990.

Xin đừng quên lời hô hào của Mao Trạch Đông ngày 28-6-1958 với một nhóm tướng lãnh thân cận rằng: “Hiện nay, Thái Bình Dương không yên ổn. Thái Bình Dương chỉ yên ổn khi nào chúng ta làm chủ nó.” (“Now the Pacific Ocean is not peaceful. It can only be peaceful when we take it over.”) (Jung Chang and Jon Halliday, The Unknown Story MAO, New York: Alfred A. Knopf, Publisher, 2005, tr. 426.) Phát biểu nầy là khởi đầu cho chủ trương của Trung Cộng về Biển Đông và Thái Bình Dương. Sau đó, tại cuộc hội đàm với đại biểu đảng Lao Động tức đảng CSVN, ở Vũ Hán năm 1963, Mao Trạch Đông tuyên bố: “Tôi sẽ làm chủ tịch 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông nam châu Á.” (Nxb. Sự Thật, không đề tên tác giả, Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, Hà Nội: 1979, tr. 16. Sách nầy xuất bản sau cuộc xâm lăng của Trung Cộng năm 1979.)

Mao Trạch Đông mở ra con đường xuống Biển Đông bằng chiến dịch đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, khởi đầu giấc mộng Đông Nam Á. Sự quy hàng của CSVN sau trận Gạc Ma giúp cho các lớp lãnh đạo Trung Cộng sau Mao Trạch Đông, tiếp tục thực hiện giấc mộng của Mao Trạch Đông nhanh chóng hơn, nhe nanh múa vuốt, nuốt trọn Biển Đông. 

17.07.2018

Trn Gia Phng

OBOR là thần gì?

Nó là chữ tắt One Belt – One Road, tàu kêu ”  Nhất Đới – Nhất Lộ “, diễn nôm là ” Một Vành Đai – Một Con Đường ”

Con Đường là Con Đường Tơ Lụa ngày xưa thông thương từ Tây sang xứ chệt kêu là China.

Vành Đai ngày nay là một thứ Con Đường Tơ Lụa ” Trên Biển. ”

Đó là thuật ngữ tóm tắt sách lược bành trướng bá quyền của hoàng đế chệt tập xâm chiếm Biển Đông của Việt Nam mở đướng  xuống eo biển Malacca vượt qua Ấn Độ Dương lên Đại Tây Dương tiếp cận Phi Châu và cả Âu Châu.

Nước Việt tự ngàn xưa, giải đất hình Rồng ngạo nghễ trên bờ Biển Đông.

Ngày nay, chẳng may lai sanh ra giống hồ tinh chín đuôi tự xưng bác cụ đem tà thuyết duy vật, vô Tổ quốc phủ trùm lên Đất nước. Lũ con cháu hồ tinh hư hèn, bạc nhược đem dâng cả Đất nước và Biển Đông cho chệt bành trướng làm tròn bổn phận chư hầu, phục vụ sách lược bành trướng bá quyền NHẤT LỘ NHẤT ĐỚI của thiên triều chệt tập.

 Nhật Ký Hành Động Xâm Lấn Biển Đông Của Trung Cộng Khởi đầu là cái gọi là “ Tuyên Bố của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải ngày 4 tháng 9 năm 1958 “

Bản dich tiếng Anh
Declaration of The Government of The People’s Republic of China on the Territorial Sea(Approved by the 100th Session of the Standing Committee of the National People’s Congress on 4th September, 1958) The People’s Republic of China hereby announces: (1) This width of the territorial sea of the People’s Republic of China is twelve national miles. This provision applies to all Territories of the People’s Republic of China, including the mainland China and offshore islands, Taiwan (separated from the mainland and offshore islands by high seas) and its surrounding islands, the Penghu Archipelago, the Dongsha Islands, the Xisha islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China.

(2) The straight lines linking each basic point at the mainland’s coasts and offshore outlying islands are regarded as base lines of the territorial sea of the mainland China and offshore islands. The waters extending twelve nautical miles away from the base lines are China’s territorial sea. The waters inside the base lines, including Bohai Bay and Giongzhou Strait, are China’s inland sea. The islands inside the base lines, including Dongyin Island, Gaodeng Island, Mazu Inland, Baiquan Island, Niaoqin Island, Big and Small Jinmen Islands, Dadam Island, Erdan Island and Dongding Island, are China’s inland sea islands.

(3) Without the permit of the government of the People’s Republic of China, all foreign aircrafts and military vessels shall not be allowed to enter China’s territorial sea and the sky above the territorial sea.
Any foreign vessel sailing in China’s territorial sea must comply with the relevant orders of the government of the People’s Republic of China.

(4) The above provisions (2) and (3) also apply to Taiwan and its surrounding islands, the Penghu Islands, the Dongsha Islands, the Xisha Islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China.
Taiwan and Penghu are still occupied with force by the USA. This is an illegality violating the People’s Republic of China’s territorial integrity and sovereignty. Taiwan and Penghu are waiting for recapture. The People’s Republic of China has rights to take all appropriate measures to recapture these places in due course. It is China’s internal affairs which should not be interfered by any foreign country.

Bản dich tiếng Việt
Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải

(Được thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958)

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Đại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc

(4) Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
Đài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Đây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Đài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lai. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc.

Chú thích:
Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands 
Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands

(*)

Bản tuyên bố ăn cướp nầy hiển nhiên đặt Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam thuộc lãnh thổ tàu cọng.

Vậy mà chỉ 10 ngày sau, Phạm Văn Đồng đã ký cái công hàm bán nước trứ danh “ công nhận bản tuyên bố về lãnh hải của tàu cọng “:

Toàn văn công hàm

Công hàm của Thủ tướng Việt Nam dân chủ cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi cho thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai vào năm 1958

Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Ngày 22 tháng 9 năm 1958, công hàm trên của thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được đăng trên báo “Nhân Dân“.

TÀU CỌNG ĐÁNH CHIẾM HOÀNG SA

Bối cảnh

Sau khi Pháp rút khỏi Ðông Dương, Việt Nam Cộng Hòa đã đảm nhiệm chủ quyền trên quần đảo này cho đến khi cuộc hải chiến xảy ra. Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo, được gọi là nhóm Nguyệt Thềm (Crescent group) và nhóm Bắc đảo hay An Vĩnh/Tuyên Ðức (Amphitrite group).
Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa đã có đài khí tượng do Pháp xây, trực thuộc ty khí tượng Ðà Nẵng và được bảo vệ bởi một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Năm 1956, hải quân Trung Quốc chiếm đóng đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc nhóm Bắc đảo. Năm 1958, Trung Quốc cho công bố bản tuyên ngôn lãnh hải 4 điểm, trong đó có tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc bao gồm các đảo Ðài Loan, Ðông-sa/Tây-sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam) và Nam-sa (tức Trường Sa của Việt Nam), đảo Macclesfield, quần đảo Bành Hồ (Pescadores).

Vào giai đoạn này, Trung Quốc vẫn là đồng minh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tiến hành cuộc chiến tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ.
Ngày 22 Tháng Chín năm 1958, báo Nhân Dân đăng công hàm của Thủ Tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm Văn Ðồng gửi thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 Tháng Chín năm 1958 của chính phủ Trung Quốc quyết định về hải phận.
Năm 1961, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ban hành sắc lệnh khẳng định chủ quyền Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam của Việt Nam Cộng Hòa.
Trong thời gian 1964-1971, hải quân Trung Quốc và hải quân Việt Nam Cộng Hòa chạm súng liên tục trên hải phận Hoàng Sa, nhưng không đưa đến thương vong. Trong thời điểm đó, Việt Nam Cộng Hòa cũng thiết lập một sân bay nhỏ tại đảo Hoàng Sa.

Năm 1973, với Hiệp Ðịnh Paris, Hoa Kỳ và Ðệ Thất Hạm Ðội sau khi rút quân và thiết bị ra khỏi quần đảo Hoàng Sa đã xem việc bảo vệ quần đảo này là việc riêng của Việt Nam Cộng Hòa.
Năm 1974 khi một phái đoàn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thăm dò một số đảo Hoàng Sa trong việc chuẩn bị thiết lập phi trường có khả năng chuyên chở vận tải cơ hạng nặng C-7 Caribou thì khám phá ra sự hiện diện của hải quân Trung Quốc, và giao tranh xảy ra sau đó.

Phía Việt Nam có tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5), tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4), hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10), một đại đội hải kích thuộc hải quân Việt Nam Cộng Hòa, một số biệt hải (biệt kích hải quân) và một trung đội địa phương quân đang trú phòng tại đảo Hoàng Sa.
Phía Trung Quốc có Liệp Tiềm Ðĩnh Số 274, Liệp Tiềm Ðĩnh Số 271, Tảo Lôi Hạm Số 389, Tảo Lôi Hạm Số 391, Liệp Tiềm Ðĩnh Số 282, Liệp Tiềm Ðĩnh Số 281 và hai chiến hạm số 402 và số 407 chở quân (không rõ loại), Tiểu Ðoàn 4 và Tiểu Ðoàn 5 thuộc Trung Ðoàn 10 Hải Quân Lục Chiến, và hai đội trinh sát.
Ngày 16 Tháng Giêng, 1974, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt sau khi đưa một phái đoàn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thăm dò một số đảo Hoàng Sa phát hiện hai chiến hạm số 402 và số 407 của hải quân Trung Quốc gần Cam Tuyền, và phát hiện quân Trung Quốc chiếm đóng hoặc cắm cờ Trung Quốc tại các đảo Quang Hòa, Duy Mộng, Vĩnh Lạc.

Sau khi cấp báo về bộ tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải tại Ðà Nẵng, HQ-16 dùng quang hiệu yêu cầu các chiến hạm Trung Quốc rời lãnh hải Việt Nam. Các chiến hạm Trung Quốc không rời vùng, và cũng dùng quang hiệu yêu cầu phía Việt Nam Cộng Hòa rời lãnh hải Trung Quốc.

Ngày 17 Tháng Giêng, 1974, khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) đến Hoàng Sa đổ bộ một toán biệt hải và một đội hải kích xuống Cam Tuyền để nhổ cờ Trung Quốc. Sau đó các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa rút trở lên tàu. Cùng trong ngày Liệp Tiềm Ðĩnh Số 274 và Liệp Tiềm Ðĩnh Số 271 của Trung Quốc xuất hiện.
Ngày 18 Tháng Giêng, 1974, Ðề Ðốc Lâm Ngươn Tánh, tư lệnh phó hải quân Việt Nam Cộng Hòa bay ra bộ tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải tại Ðà Nẵng để trực tiếp chỉ huy trận đánh. Ông ban hành lệnh hành quân Hoàng Sa 1 nhằm chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa, Duy Mộng, Vĩnh Lạc.
Lực lượng hành quân Hoàng Sa 1 được tăng cường thêm tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) làm soái hạm cho cuộc hành quân, và hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10). Do hải hành lâu ngày chưa kịp tu bổ, HQ-10 tham chiến với một máy bất khiển dụng, chỉ còn một máy hoạt động.

Ngày 19 Tháng Giêng, 1974, biệt hải và hải kích Việt Nam Cộng Hòa từ HQ-5 đổ quân lên mặt Nam đảo Quang Hòa và hải quân Trung Quốc đổ quân xuống mặt Bắc đảo. Hai bên giao tranh và phía Việt Nam Cộng Hòa có 3 chết và 2 bị thương. Do quân Trung Quốc quá đông, quân Việt Nam Cộng Hòa rút trở lên HQ-5.

Ngay sau đó chiến hạm hai bên triển khai đội hình gần đảo Quang Hòa và chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa khai hỏa trước. Hai bên chạm súng từ 30 đến 45 phút, cùng thời điểm đó bộ tư lệnh hải quân Việt Nam Cộng Hòa nhận được thông báo của văn phòng tùy viên quân sự Hoa Kỳ (DAO) tại Sài Gòn, cho biết radar đệ thất hạm đội ghi nhận một số phóng lôi hạm (guided missile frigate) và chiến đấu cơ MIG từ Hải Nam đang tiến về phía Hoàng Sa.
Bộ tư lệnh hải quân Việt Nam Cộng Hòa sau đó yêu cầu đệ thất hạm đội trợ giúp, nhưng không thành công. (**)

Hải chiến Hoàng Sa lừng danh Quân sử Việt

Hải quân Thiếu tá Ngụy Văn Thà vị quốc vong thân

TÀU CỌNG ĐÁNH CHIẾM TRƯỜNG SA

Sự kiện Trường Sa không phải là “ hải chiến “

Tháng 9 và tháng 10 năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lần lượt đi thăm hai nước Philipines và Malaysia, ký thỏa thuận với Tổng thống và Thủ tướng hai nước để giải quyết các tranh chấp trên biển Đông bằng biện pháp hòa bình.

Giai đoạn này quan hệ giữa hai nước ngày càng căng thẳng .Trung Quốc từ chỗ thừa nhận Hoàng Sa là “vấn đề tranh chấp” sang hẳn luận điểm “Hoàng Sa là của Trung Quốc, không cần tranh cãi”.

Trung Quốc chọn thời điểm

Nhiều tài liệu, bài báo gọi sự kiện Trung Quốc dùng tàu chiến, pháo hạm quân sự tấn công ngày 14/3/1988 là “cuộc hải chiến Trường Sa”. Tuy nhiên, chuẩn đề đốc Lê Kế Lâm và một số học giả quốc tế nghiên cứu về biển Đông cho rằng, gọi là “hải chiến” hoàn toàn không chính xác. Bởi khi đó, lực lượng của Việt Nam trên các đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma là công binh, không có vũ khí. Và các tàu của Việt Nam làm nhiệm vụ trong khu vực là tàu vận tải, không có vũ khí. Trung Quốc đã sử dụng vũ khí từ súng và pháo trên các tàu chiến bắn vào bộ đội công binh và tàu vận tải của Việt Nam.

Theo tài liệu giải mật của cơ quan tình báo trung ương Hoa Kỳ (CIA), Trung Quốc đã chọn thời điểm dư luận thế giới đang tập trung vào giải pháp chính trị ở Campuchia. Liên Xô, đồng minh quan trọng của Việt Nam đang sa lầy ở Apganistan, đang nối lại quan hệ với Trung Quốc nên không muốn dính líu rắc rối gì với Trung Quốc.

Trước khi ra tay hành động, một đoàn ngoại giao Trung Quốc đã đến các nước có liên quan đến biển Đông khẳng định “lập trường hòa bình” và tuyên bố Trung Quốc chỉ “tranh chấp” đảo với Việt Nam, Trung Quốc không hề có “tranh chấp” nào khác với các nước khác!

Đầu năm 1988, lần đầu tiên hải quân Trung Quốc tới một số đảo trên quần đảo Trường Sa. Cụ thể, ngày 31/1/1988 chiếm bãi đá Chữ Thập; ngày 18/2/1988 chiếm bãi Châu Viên; ngày 26/2/1988 chiếm bãi Ga Ven; ngày 28/2 chiếm bãi Tư Nghĩa.

Trước tình hình Trung Quốc chiếm đóng hàng loạt đảo trên Trường Sa, Việt Nam đã khẳng định chủ quyền trên các đảo còn lại trên các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao.

Trung Quốc, sau khi chiếm hàng loạt đảo, đầu tháng 3/1988 đã huy động lực lượng của hai hạm đội tiếp tục mở rộng lấn chiếm, tăng số tàu chiến từ 9 lên 12 tàu gồm 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ LSM, tàu kéo và 1 pông tông lớn.

Sáng ngày 14/3/1988, 4 tàu chiến Trung Quốc tiến đến bãi Gạc Ma. 6 giờ sáng Trung Quốc đổ bộ 40 quân lên đảo, xông lên giật cờ Việt Nam cắm trên đảo. Các chiến sĩ hải quân Việt Nam đang bảo vệ cờ Tổ quốc đã bị đâm bằng lưỡi lê và bắn chết gồm hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh, thiếu úy Trần Văn Phương…

Lực lượng công binh, hải quân dù tay không vẫn cương quyết bảo vệ cờ. Trung Quốc đã huy động hai chiến hạm bắn thẳng vào lực lượng bảo vệ đảo và tàu vận tải 604 đang neo đậu. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và một số chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Tàu 604 bị chìm.

Tại đảo Cô Lin (cách Gạc Ma 3,5 hải lý) và Len Đao, Trung Quốc tấn công quyết liệt ngay từ 6 giờ sáng ngày 14/3, bắn cháy tàu HQ 505 và sát hại nhiều chiến sĩ đang giữ đảo. Ở hướng Len Đao, 8 giờ 20 phút ngày 14/3, tàu chiến Trung Quốc bắn cháy tàu HQ 605 của Việt Nam.

Cuộc thảm sát kéo dài 28 phút đã gây thiệt hại nặng cho Việt Nam, 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 chiến sĩ hy sinh, 11 chiến sĩ bị thương và 74 chiến sĩ mất tích. Sau này Trung Quốc trả lại 9 chiến sĩ bị bắt. Số còn lại được xem là đã hy sinh.

Việt Nam đã phản đối gay gắt. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn tiếp tục mở rộng không ngừng lấn chiếm thêm một số đảo nữa sau đó và huy động nhiều tàu đánh cá từ Quảng Châu đến hoạt động khai thác tại ngư trường Trường Sa.

Ngày 28/ 4/1990, Bộ Ngoại Giao Việt Nam gửi công hàm cho đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc đã cho quân lính xâm chiếm bãi Én Đất trên quần đảo Trường Sa. (***)

Trường Sa nào đâu phải là hải chiến
Chỉ là bộ đội cụ hồ đưa đầu cho chệt bắn
Theo lịnh tên việt gian chột mắt Lê Đức Anh

TÀU CỌNG CHÁNH THỨC LẬP THÀNH PHỐ TAM SA

Công bố công hàm Phạm Văn Đồng

Ngày 30 tháng 1 năm 1980, để phản ứng việc Việt Nam công bố sách trắng về chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa, Bộ Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã xuất bản một tài liệu với tên gọi “Chủ quyền không tranh cãi của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa”. Trong tiểu mục với tựa “Sự man trá của chính quyền Việt Nam”, tài liệu nhắc đến việc báoN hân Dân ngày 6 tháng 9 năm 1958 in toàn văn tuyên bố về hải phận của Trung Quốc ở trang đầu, trong đó có đoạn nói về Nam Sa và Tây Sa, cũng như công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng.Trung Quốc cũng công bố công hàm trong tài liệu và nói rằng đây là bằng chứng cho thấy chính phủ Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo. Cùng với công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng, tài liệu này cũng công bố một bản đồ thế giới do Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam [Dân chủ Cộng hòa] xuất bản tháng 5 năm 1972 cho thấy các quần đảo này có tên Tây Sa và Nam Sa.(****)

Chánh thức thành lập Thành phố Tam Sa

Tam Sa (tiếng Trung: 三沙市; bính âm: Sānshā Shì, âm Hán Việt: Tam Sa thị) là một thành phố được Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập vào ngày 24 tháng 7 năm 2012 để quản lý một khu vực mà nhiều nước đang tranh chấp chủ quyền, bao gồm: Quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là quần đảo Tây Sa), Quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là quần đảo Nam Sa), bãi Macclesfieldbãi cạn Scarborough (Trung Quốc gọi là quần đảo Trung Sa) cùng vùng biển xung quanh. Theo phân cấp hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Tam Sa là một địa cấp thị (thành phố cấp địa khu) thuộc tỉnh Hải Nam và có chính quyền nhân dân đặt tại đảo Phú Lâm (Trung Quốc gọi là Vĩnh Hưng).

Theo chính phủ Trung Quốc, việc thành lập thành phố Tam Sa sẽ giúp tăng cường hơn nữa khả năng quản lý, khả năng phát triển và kiến thiết của quốc gia này đối với những hòn đảo và các vùng nước xung quanh các quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Trường Sa, bảo vệmôi trường biển trong vùng biển Đông.

Việc thành lập thành phố Tam Sa là sự điều chỉnh của chính phủ Trung Quốc đối với cơ quan hành chính hiện hành, là công việc trong phạm vi chủ quyền của Trung Quốc.

Việt NamPhilippines cho rằng việc lập thành phố này đã vi phạm chủ quyền của họ trên các lãnh thổ đang tranh chấp và yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ quyết định này. Hoa Kỳ lên tiếng quan ngại về các hành động đơn phương của Trung Quốc khi thành lập thành phố Tam Sa, và cho rằngTrung Quốc cố gây ra một “sự đã rồi” trong vấn đề đang tranh chấp cần phải giải quyết thông qua đàm phán ngoại giao đa phương (giữa tất cả các bên tranh chấp).(*****)

Một khi mà tàu cọng chánh thức công nhận Hoàng – Trường Sa là của nó thì nó có quyền đưa ra chủ quyền lãnh hải “ Đường Lưởi Bò 9 Đoạn.”

CHỦ QUYỀN LÃNH HẢI ĐƯỜNG LƯỠI BÒ

hoàn tất quy trình tóm thâu Biển Đông của tàu cọng

CHÍNH SÁCH ĐƯỜNG LƯỠI BÒ CỦA TRUNG QUỐC (d.a)

Đưa đường lưỡi bò vào bản đồ trực tuyến “Map World” khi lời cam kết của Trung Quốc cùng ASEAN nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực thi đầy đủ tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) chưa kịp lắng xuống khiến công luận một lần nữa phải lấy làm khó hiểu. Phải chăng, có một khoảng cách giữa những mỹ từ và hành động thực chất của cường quốc đang trỗi dậy này?

Đường yêu sách vô lý

Đường “lưỡi bò”, “chữ U” hay “đứt đoạn”… là những cách gọi khác nhau mà các học giả trên thế giới dùng để chỉ yêu sách của Trung Quốc đối với 80% diện tích của Biển Đông, được vẽ sát vào bờ của các quốc gia ven Biển Đông như Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei, Philippines.

Đường yêu sách này ban đầu có 11 đoạn, do chính quyền Trung Quốc (Quốc dân Đảng) vẽ ra vào năm 1947 và sau đó được CHND Trung Hoa tiếp tục sử dụng nhưng có sửa đổi (bỏ bớt hai đoạn trong vịnh Bắc Bộ nên chỉ còn lại 9 đoạn).

Công hàm của Trung Quốc đệ trình lên Ủy ban Liên hợp quốc về thềm lục địa mở rộng ngày 7/5/2009 có lẽ là văn bản đầu tiên trong hơn 60 năm qua, thể hiện quan điểm chính thức của Trung Quốc về ý nghĩa pháp lý quốc tế của đường yêu sách 9 đoạn và cũng là lần đầu tiên mà Trung Quốc chính thức công bố sơ đồ đường yêu sách này với thế giới.

Ngoại trừ các học giả Trung Quốc, tất cả các học giả nước ngoài đều chỉ rõ, đường lưỡi bò của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn.

Vùng nước trong “đường lưỡi bò” chiếm 80% diện tích Biển Ðông mà Trung Quốc cho là “vùng nước lịch sử” là không thể chấp nhận được. Cộng đồng quốc tế chưa bao giờ ghi nhận một yêu sách như vậy và sẽ không chấp nhận một vùng biển lớn nhất nhì thế giới thuộc về quyền tài phán của một nước.

Thậm chí, Indonesia, một nước không hề dính líu đến tranh chấp Biển Đông cũng phải chính thức gửi công hàm phản đối “đường lưỡi bò”, cho rằng bản đồ đường đứt khúc 9 đoạn của Trung Quốc là rõ ràng không có căn cứ pháp lý quốc tế và đi ngược lại với các quy định của Công ước Luật biển 1982“.

Thế giới sẽ nghĩ gì về hành động vừa qua của Trung Quốc trong khi mới tháng 10/2010, nước này cùng ASEAN đã long trọng cam kết triển khai đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và hướng tới thông qua bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trên cơ sở đồng thuận, qua đó góp phần vào hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực”?
Đáng nói hơn, động thái này xảy ra chỉ vài ngày trước khi cuộc họp cấp ngoại trưởng Trung Quốc – ASEAN để kỷ niệm 20 năm hợp tác. (******)

Vạn lý trường thành trên Biển Đông

Trên dây là tiến trình xâm chiếm Biển Đông về thể chế pháp lý.Bây giờ là xây dựng thực lực nhằm khống chế Biển Đông trên thực tế:

TIẾN TRÌNH XÂY ĐẢO NHÂN TẠO CỦA TRUNG QUỐC TẠI TRƯỜNG SA TÍNH ĐẾN 1 THÁNG 3, 2015

CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC

Âm mưu khống chế Biển Đông nhất là Trường Sa của Trung Quốc trong mấy năm gần đây rất là rõ ràng từ việc lập thành phố Tam Sa, lập khu vực nhận diện phòng không tại Biển Hoa Đông và sau đó có thể là Biển Đông,

Tiến trình xây dựng các đảo nhân tạo có thể chia ra làm 2 cấp:

– Cấp I: Xây các cơ sở quân sự như bến tàu, cơ sở quân sự, phủ xanh các đảo và đưa dân ra ở. Có thể xây phi trường ngắn hơn 1,000 m cho các phi cơ trực thăng.

– Cấp II: Xây phi trường quân sự từ 1,500 m đến 4,000 m cho các phản lực cơ chiến đấu tùy theo kế hoạch của Trung Quốc và phản ứng của các nước trong vùng.

ĐÁ CHỮ THẬP: Truyền thông Trung Quốc nói nhiều về bãi đá Gạc Ma nhưng về phương diện chiến lược, bãi đá Chữ Thập quan trọng hơn nhiều. Đá này nằm ở vị trí cách biệt với các thực thể khác của quần đảo, nằm về phía tây nam của bãi san hô Tizard (Tizard Bank) thuộc cụm Nam Yết và về phía đông bắc của cụm Trường Sa. Đá Chữ Thập được coi là có giá trị chiến lược quan trọng đối với Trung Quốc do vị trí tương đối biệt lập, không gần bất kỳ nơi nào do các nước khác kiểm soát trong một bán kính 70 km, cách trung tâm chỉ huy lực lượng Việt Nam tại Trường Sa khoảng 110 km, và cách bộ chỉ huy của Philippines khoảng 225 km. Bãi đá Chữ Thập là một rặng san hô hình bầu dục chiều dài tính theo trục Đông bắc-Tây nam là 14 hải lý (25.93 km) và chiều rộng là 4 hải lý (7.4 km); tổng diện tích đạt 110 km². Giáo sư Jin Canrong tại Đại học Nhân Dân Trung Quốc đã tiết lộ với báo Bưu Điện Hoa Nam buổi sáng (South China Morning Post) rằng một kế hoạch xây đảo nhân tạo tại Đá Chữ Thập đã được đệ trình lên chính phủ Trung Quốc. Hòn đảo nhân tạo này sẽ có diện tích gấp đôi căn cứ quân sự Diego Garcia rộng 4.4 km² của Mỹ tại Ấn Độ Dương. Không ảnh của khu vực được công bố ngày 25/9/2014 trên trang web của DigitalGlobe, một công ty ảnh vệ tinh thương mại của Mỹ, cho thấy là Trung Quốc đã gia tăng diện tích Đá Chữ Thập lên hơn 11 lần, từ 0.08 km² lên thành 0.96 km², biến bãi đá nhỏ này thành một thực thể địa lý còn lớn hơn cả đảo Ba Bình (Itu Aba Island: 0.46 km²) mà Đài Loan đang chiếm đóng dưới tên gọi Thái Bình và việc cải tạo vẫn còn tiếp diễn. Việc mở rộng bãi đá Chữ Thập được đẩy nhanh hơn dự kiến – giáo sư chuyên nghiên cứu quan hệ quốc tế tại Đại học Nhân dân Bắc Kinh nhận định.

ĐÁ GẠC MA: Đá Gạc Ma, cách bãi đá Chữ Thập khoảng 85 hải lý về phía Đông, có một vị thế chiến lược quan trọng. Hình ảnh vệ tinh chụp từ tháng ngày 14/01/2015 cho thấy Bắc Kinh đã bồi đắp đảo Đá Gạc Ma (Johnson South Reef hay Mabini Reef), mà Trung Quốc chiếm của Việt Nam năm 1988, thành một đảo có diện tích lớn gấp 200 lần so với diện tích ban đầu. Trang mạng WantChinaTimes của Đài Loan ngày 24/02/2015, đã cho biết thông tin nói trên, trích dẫn tuần báo quốc phòng của Anh, Jane’s Defence Weekly. Theo tuần báo này, hình ảnh vệ tinh chụp ngày 14/01/2015 do công ty Airbus Defence & Space cung cấp cho thấy Đá Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa, nay có diện tích 75 ngàn m², trên đó có một công trình rất lớn đang được xây dựng. Diện tích đảo hiện nay lớn gấp 200 lần so với cách đây 10 năm, vì hình ảnh vệ tinh chụp vào ngày 01/02/2004 cho thấy đảo này lúc mới được bồi đắp chỉ có diện tích 380 m².

CÁC VỊ TRÍ KHÁC: Trung Quốc cũng đang bồi đắp 3 đảo khác chiếm của Việt Nam là Đá Châu Viên (Cuateron Reef), Đá Tư Nghĩa (Hughes Reef) và Đá Ga Ven (Gaven Reef). Hai đảo này được bồi đắp và cải tạo gần giống nhau, cho thấy Trung Quốc đã đề ra một khuôn mẫu chung cho các cơ sở sẽ được xây dựng trên đây. Ví dụ, bãi đá Đá Tư Nghĩa, được thiết kế như một pháo đài, vừa có bãi đáp trực thăng, vừa có cầu tàu cho chiến hạm cập bến. Kiến trúc tương tự cũng được ghi nhận trên các đảo khác.

Ngoài ra, Trung Quốc đang phát triển nhiều cảng nổi để hỗ trợ cho quá trình cải tạo các đảo nhân tạo ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa theo hãng tin IHS Jane’s dẫn lời quan chức từ Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Tàu biển Trung Quốc (CSSRS).(*******)

ĐÔI DÒNG THAY LỜI KẾT

“ Phát biểu tại Đại học Quốc gia Singapore, ông Tập thừa nhận rằng các nước Đông Nam Á quan ngại về hành động của Bắc Kinh ở biển Đông, nhưng tuyên bố “các hòn đảo ở biển Nam Trung Hoa là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời xa xưa, và rằng chính phủ Trung Quốc phải có trách nhiệm để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi lãnh hải chính đáng”.

Đâu phải bây giờ bọn bành trướng Bắc Kinh mới trở giọng ngang ngược như vây! Như trích dẫn ở trên, từ năm 1978, bọn tàu cọng đã nói thẳng vào mặt Đồng vẫu rằng: “ Hoàng Sa là của TQ, không cần tranh cải “

Ngày nay, bọn tàu cọng đã xây dựng xong một chuổi căn cứ quân sự và tiếp vận từ Hoàng Sa tới Trường Sa, chẳng những khống chê Biển Đông mà còn có thể uy hiếp các nước Phi Luật Tân, Brunei và nhất là Việt Nam trên cả đất liền.

Tình thế như vậy, bọn Trùm vc Ba Đình, con cháu già hồ ứng phó lẽ nào?

Hãy lắng nghe tên tổng bí thư đảng việt cọng nói:

Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội đảng được không?…”, tổng bí thư CSVN Nguyễn Phú Trọng nói… đầy ngớ ngẩn như vậy trong buổi tiếp xúc cử tri Hà Nội, hôm 8-12.

Mặc cho ngư dân VN bị bọn hải khấu chệt khựa bách hại thường xuyên khi hành nghề ngay trên ngư trường truyền thống Hoàng Sa – Trường Sa của chính nước mình, bọn việt cọng “ con hoang “ của chệt khựa bình chân như vại!

Chúng chỉ biết nhắm mắt tai ngơ để yên thân họp đảng tranh giành ngôi vị, quyền lực, phó mặc Biển Đông cho chệt khựa hoành hành.

Có câu châm ngôn đời mới rằng:

“ Theo tàu mất nước. Theo Mỹ mất đảng “

Bọn con hoang chệt thà mất nước, quyết không mất đảng.

Bọn việt gian mãi quốc, cầu vinh như vậy, quyết không để cho tồn tại được!

                                               Nguyễn Nhơn

(*) www.state.gov/documents/…/58832.pd…United States Department of State

(**) Theo báo “NguoiVietOnline.com” và website Hải Quân “hqvnch.net

(***) vietnamnet- Con đường dẫn đến sự kiện đảo Gạc Ma

(****) Wikipedia – Bách khoa toàn thư mở

(*****) Wikipedia – Bách khoa toàn thư mở

(******) https://vi-vn.facebook.com/…/chính-sách-đường-lưỡi …

(*******) https://www.facebook.com/…/posts/86615749675985

 Việt cọng, Dê Tế Thần OBOR chệt!

One Belt, One Road

Tuần báo Pháp Le Point, trong số đặc biệt về tham vọng đế quốc của Trung cộng (1), đã nói về những chương trình vĩ đại của nước này. Việt Nam sẽ là nạn nhân đầu tiên, vì kẹt giữa hai lộ trình của Tàu, mệnh danh là kế hoạch OBOR, One Belt, One Road (một vòng đai, một đại lộ). Đại lộ: con “đường lụa” (route de la soie), chạy từ Tàu, qua Lào, sát nách VN, Pakistan tới tận Âu Châu. Vòng đai: con đường hàng hải từ Biển Đông qua Ấn Độ Dương, dẫn tới các hải cảng Á và Phi Châu.

Kế hoạch Obor sẽ củng cố thế lực chính trị, quân sự và kinh tế của Trung cộng.

Biển Đông kiểm soát 1/3 giao thương thế giới, cũng là nguồn tài nguyên vô giá về dầu lửa, dầu khí, hải sản. Con đường lụa bảo đảm việc chuyên chở hàng hóa tới các thị trường Á, Âu và Phi Châu.

Chỉ riêng việc thực hiện con đường lụa (xẻ núi, đốn rừng, làm đường và hệ thống xe lửa), Tập Cận Bình đã quyết định dành một ngân khoản 124 tỷ dollars, kể cả ngân khoản để mua chuộc chính quyền địa phương. Một phần lãnh thổ Lào đã bị chính quyền thối nát Vientiane, trong tay đảng duy nhất, đảng CS nổi tiếng tham nhũng Pathet Lao, bán cho Tàu

…..Để kết luận, Pillsbury tỏ ra bi quan. Ông nói muốn đương đầu với Tàu, Hoa kỳ thay đổi hoàn toàn chính sách, coi Tàu là một nước cạnh tranh, không phải là một quốc gia phải giúp đỡ. Phải kiếm ra những lãnh vực có thể làm áp lực. Khuyến khích các quốc gia trong vùng liên kết thành một khối để Bắc Kinh bớt hung hăng. Bảo vệ những người chống chế độ, ủng hộ những người muốn cải cách. “Hoa kỳ mới bắt đầu thức dậy. Hy vọng chưa quá trễ.”

Những người đáng lo ngại hơn một ngàn lần là người Việt Nam. Nhìn những gì xảy ra ở Lào, đang diễn ra ở Boten, nghe lại câu nói của Hồ Cẩm Đào, chúng ta không khỏi ớn lạnh. Mua Đài Loan dễ và rẻ hơn là đánh chiếm Đài Loan. Đối với Đài Loan, đó là lý thuyết, vì Đài Loan là một nước dân chủ, không có lãnh tụ bán nước, và nhân dân Đài Loan sẽ không để cho ai bán một tấc đất. Ở VN, trái lại, đó là một thực tế. Lãnh thổ đã dần dần bán cho Tàu. Mua VN dễ và rẻ hơn đánh chiếm Việt Nam.

( T Thc (Danlambao)OBOR, kế hoạch bành trướng của Trung cộng )
OBOR là ông thần gì?

Nó không phải thần thánh gì. Nó chỉ là mưu đồ thực hiện bá quyền trên toàn thế giới của chệt khựa hán bành trướng.

Đó là đại kế hoạch ” Một Vành đai – Một Con đường “: Vành đai trên biển và Con đường Tơ Lụa thời mới.

Còn nói rằng Việt Nam cọng sản, gọi tắt khinh thị là việt cọng, là con dê tế thần thì đó là Tà thần bành trướng, bá quyền chệt cọng tự xưng là cộng huề nhăn răng China.

Vì sao mà nói:

Việt Nam sẽ là nạn nhân đầu tiên

Bởi vì hởi ơi!

Đất nước tôi

Giải đất Hình Rồng

Ngạo nghễ bên bờ Biển Đông

Chẳng may trở thành chặng ” Khởi đầu Căn bản của ” Vành đai ” trên biển của chệt bành trướng.

Từ hai ngàn năm trước, hán chệt vẫn từng phen nuốt chững Lạc Việt phương Nam,

Và tổ tiên nòi giống Việt vẫn từng phen dạy cho bọn chệt bá quyền những bài học lịch sử đích đáng.

Ngày nay chẳng may, dân tộc tôi lai sanh tên lộn giống cáo hồ mang tà thuyết cọng sản duy vật, vô thần, vô Tổ quốc về phủ trùm lên Đất nước và Dân tộc, mở đường, cõng bá quyền chệt khựa về khống chế dân – nước.

Cho nên bây giờ mới thành nạn nạn nhân đầu tiên trên đường bành trướng, bá quyền của chệt cọng.

Những người đáng lo ngại hơn một ngàn lần là người Việt Nam

Đã từ lâu, người Việt Quốc gia yêu Nước, mến Nhà vẫn không ngớt kêu gào khuyến cáo về nguy cơ mất nước – diệt tộc do bọn hán ngụy, hậu duệ hồ bác cụ phản nước – hại dân gây ra.

Nhưng tiếng kêu đơn côi, lạc lõng rơi vào hoang vắng!

Ngày nay, dân Việt lo lắng ” hơn một ngàn lần, ” nghĩ thật là thê thiết.

Câu nói đó biểu lộ tình trạng nguy ngập của nước nhà.

Về Quân sự như trứng treo đầu đẳng

  • Nóc nhà Tây nguyên: Mấy vạn đặc công lẫn tù cải tạo vong mạng chệt khựa trấn đóng dưới dạng công nhân khai thác bauxite. Bất kỳ lúc nào chúng cũng có thể phá hầm chất thải đỏ gây hỗn loạn và chiếm giữ lập đầu cầu cho đại binh không vận đổ bộ.

Ngày xưa, bô đội cụ hồ hành quân bộ, trang bị kém phải mất 55 ngày đêm mới kết thúc chiến dịch hồ bác cụ xâm chiếm Sài gòn. Còn bây giờ, đại quân chệt hành quân cơ giới với lực lượng đặc công bauxite dẫn đường cọng thêm hỗn loạn do chất thải đỏ bauxite gây ra thì chỉ mươi bửa, nửa tháng là đại quân chệt có mặt nơi thành hồ.

Như vậy coi như Nam bộ đi đong!

  • Formosa Vũng Áng: Con số công nhân chệt chánh thức là 4 ngàn. Thực tế là bao nhiêu không ai biết. Khi có biến động, với lực lượng cở một lữ đoàn như vậy, chúng đánh bứt ngang yết hầu Hà Tĩnh dễ dàng. Trong khi đó, đại quân chệt đổ bộ lên nơi cảng nước sâu Sơn Dương đã được tôn tạo, ào ạt tiến quân tách rời Nam Bắc hết mong cứu ứng.

  • Căn cứ hải không Hoàng Sa: Dùng không hải lực yểm trợ đại quân chệt đổ bộ trấn giữ vùng trọng yếu khống chế Biển Đông: Vịnh Cam Ranh.

  • Căn cứ Gạc ma ( Trường Sa VN ): Không hải lực Gạc ma yểm trợ đại quân chệt tiến vào Vũng Tàu – Bà Rịa, khống chế mặt Nam Biển Đông.

Như vậy là khu vực phía Nam bị chia cắt từng mảnh hết đường tiếp úng.

  • Biên giới phía Bắc: Khi lâm sự, lực lương dân quân chệt hiện nay có mặt suốt dọc biên giới dưới dạng công nhân khai thác rừng đầu nguồn, lập tức nhận trang bị  và đánh chiếm các cao điểm trọng yếu bảo vệ trục tiến quân cơ giới.

Đã có sẳn hai tuyến xa lộ cao tốc Lào Kay – Hà Nội và Móng Cáy – Hà Nội, lực lượng xe tăng bát nhất chệt chỉ cần đôi ba bửa là có mặt ở Hà Nội, khỏi cần tới một tuần lễ như Đặng Tiểu Bình rêu rao trong cuộc hành quân dạy cho bọn nam cọng bài học hồi 1979.

_ Vành đai Bãi Cháy Hải Phòng: Trong kế hoạch kinh tế ” Hai xa lộ – Một vành đai An nam – chệt “, Hải phòng là vành đai xuất cảng. bây giờ là bãi đổ bộ của đại quân chệt từ Hải Phòng đánh lên Hà Nội.

Như vậy là kết thúc chiến trận tiếp thu An nam đô hộ phủ!

Hán ngụy hồ bác cụ Quyết Dâng Nước cho chệt

Cái điều khốn nạn là thằng chủ nhân Tầu Ô Tầu Phù Tầu Cộng chưa bao giờ vẽ thêm sao vào cờ của nó, nhưng thằng đầy tớ bưng bô CSVN thì cứ vẽ thêm sao vào cờ ông cố nội tụi nó.
Vo San

Vo San

Báo Thanh Niên vừa vẽ thêm một ngôi sao trên lá cờ Tàu Ô Tầu Phù Tầu Cộng. Đứa dlv AK47 và dlv Tuyên giáo chuyên môn nói láo nào hảy còn ra rã tru tréo ngoạc cái mồm ra mà ngụy biện rằng CSVN không phải bọn tội đồ Việt Gian phản động phản quốc bán nước? Đã có bao nhiêu lần CSVN vẽ thêm sao trên cờ bọn Tầu Phù Tầu Ô Tầu Cộng trong quá khứ?

Nguyn  trả lời  Vo San

Đã có 2 lần đích xác:

1/ Hồi tháng 6 mùa hè 2011, lúc 11 cuộc biểu tình chống tàu xâm lăng rầm rộ, trên đài truyền hình quốc gia việt cọng chưng là cờ chệt 6 sao làm phong cho xướng ngôn viên đoc bản tin.
2/ Hồi tháng 12 năm 2012, vẹm Ba Đình cho thiếu nhi cầm cờ 6 sao phất đón chệt tập tuần du an nam.

Tôi vừa vào trang báo Thanh Niên vc để xác minh câu chuyện cờ chệt 6 sao. Đọc lướt qua một số trang, chưa tìm thấy lá cờ ô nhục hán ngụy, nhưng bất ngờ đọc thấy một bài thật lý thú về câu chuyện ” Siêu Kinh Đào Kra. ”

Chuyện kể rằng:

” TTO – Chính phủ Thái Lan cho biết dự án kênh đào Kra hiện không phải là một ưu tiên và người dân nước này cần cẩn trọng, tránh bị “dắt mũi” bởi các thông tin sai lệch.

Trong một tuyên bố được đưa ra hôm 10-2, người phát ngôn chính phủ Thái Lan, Trung tướng Sansern Kaewkamnerd nói rõ dự án kênh đào Kra hiện không phải là một ưu tiên của nước này và Bangkok cho đến nay cũng không có chính sách cụ thể nào dành cho dự án trên.

“Hiện vẫn còn nhiều vấn đề khác trong khu vực, do đó những vấn đề này cần được dành ưu tiên” – ông Sansern cho biết.

… Tướng Sansern cũng kêu gọi người dân ở miền Nam Thái Lan cẩn trọng khi đón nhận các thông tin kêu gọi ủng hộ dự án kênh đào Kra vì những thông tin này có thể sai lệch và tạo ra những hiểu lầm trong lòng công chúng.

“Thủ tướng Prayut Chan-o-cha đã nhấn mạnh rằng cuộc vận động ủng hộ dự án kênh đào Kra vẫn không được chính phủ tán thành và dự án này vẫn đang được nghiên cứu” – Tướng Sansern khẳng định.

Tuyên bố trên của ông Sansern được cho nhằm phản ứng với cuộc vận động của Hiệp hội nghiên cứu và phát triển kênh đào Thái (TCA). Tổ chức gồm toàn cựu chiến binh cao cấp thuộc quân đội Thái này thời gian qua liên tục kêu gọi sự ủng hộ dành cho dự án hàng tỉ USD xuyên qua miền Nam Thái Lan.

Hôm 1-2 vừa qua, một hội thảo lớn về kênh đào Kra còn được tổ chức tại tỉnh Phuket với sự tham dự của Chủ tịch TCA, Tướng Pongthep Thesprateep.

TCA kêu gọi người dân Thái Lan lan truyền sự ủng hộ đối với dự án Kra trên mạng Internet cũng như đăng tải những bài hát được sáng tác đặc biệt dành cho mục đích kêu gọi xây dựng kênh đào.

Theo đề xuất, siêu kênh đào dài hơn 100 km này sẽ cắt ngang vùng Kra Isthmus ở miền Nam Thái Lan, kết nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Kênh đào Kra sẽ ngốn khoảng từ 20-30 tỉ USD tùy theo tuyến xây dựng và có thể mất 10 năm để hoàn thành.

Trái lại, siêu kênh đào này sẽ giúp tiết kiệm được 1.200 km quãng đường di chuyển so với các lộ trình hàng hải hiện nay thông qua eo biển Malacca.

Tuy nhiên, giới quan sát lo ngại vị trí nhạy cảm của khu vực này.

Trước hết, kênh đào sẽ xuyên qua miền Nam Thái Lan, nơi xảy ra các cuộc đối đầu liên miên giữa lực lượng chính phủ Thái Lan và các nhóm ly khai người Hồi giáo trong hai thập niên qua, do đó có thể kích động thêm các cuộc nổi loạn.

Thứ hai, siêu dự án rõ ràng sẽ chia cắt vương quốc nụ cười ra làm đôi theo đúng nghĩa đen, khiến một phần miền Nam Thái Lan bị cô lập.

Đó là chưa kể những hậu quả được cảnh báo kéo theo khi Trung Quốc thời gian qua được cho tích cực vận động để xúc tiến đề xuất xây kênh đào Kra như một phần của “Vành đai, con đường” – sáng kiến kết nối hạ tầng và thương mại qua một loạt quốc gia Á – Phi – Âu.”

*********

Bản tin ngắn nói lên 3 điều nghiêm trọng:

1/ Vấn đề an ninh Quốc gia Thái: Người Hồi giáo 3 tỉnh phía Nam có cơ làm loạn.

2/ Nguy cơ chia đôi đất nước Thái trên thực tế.

3/ Mối lo OBOR chệt: Kinh đào Kra ” Mở đường cho âm mưu bành trướng chệt ” xuyên qua Đông Nam Á.

Trông người lại ngẫm đến ta!

Lãnh đạo Thái biết nhìn xa, trông rộng, cương quyết gạt bỏ mối lợi trước mắt để giữ được sự toàn vẹn của Đất nước dài lâu.

Bọn lãnh đạn cu li vô học việt cọng cáo hồ bất chấp mọi phản kháng của các tầng lớp nhân dân, quyết đàn áp, gạt bỏ đem dâng 3 yếu điểm quốc gia Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc cho chủ chệt.

Giới nghiên cứu quốc tế đã cảnh cáo từ lâu: Việt Nam sẽ là nạn nhân đầu tiên, dê tế thần bành trướng OBOR chệt khựa.

Cho nên, dù vụ lá cờ 6 sao trên báo Thanh Niên vc có hay không, quốc dân Việt,

nếu muốn sống còn, khỏi đem thân làm tôi mọi cho chệt thì phải liều chết vùng lên đập cho tan bọn phản nước, hại dân cọng phỉ.

Bọn phản quốc trọng lú sắp đem ra xét xử các nghĩa sĩ  Việt Nam anh hùng quyết vì Dân trừ bạo để răn đe.

Đó chỉ rõ là lúc nầy hán ngụy đang suy yếu.

Vậy, toàn dân tất cả, nhân dịp hi hữu nầy can đảm vùng lên.

Tuần lễ thứ 4 Ngày Toàn Quốc Tổng Biểu Tình 10 tháng 6 năm 2018

Nguyễn Nhơn

7/7/2018

[yourchannel user=”Nguyễn Tuấn” search=”biển đông”]

Đã xem 5513 lần

>>> Tìm Kiếm Video Mà Quý Vị Quan Tâm <<<

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.