Cờ đỏ sao vàng tung bay tên thủ đô nước Pháp

Năm 2000 Võ Nguyên Giáp cho xuất bản tác phẩm “Điện Biên Phủ, Điểm Hẹn Lịch Sử”, ông có thêm trong phần cuối sách một đoạn giải thích lại lý do phải ký Thỏa ước sơ bộ 6-3-1946:

“Hiệp định mồng 6 tháng 3 năm 1946.  Kẻ xâm lược buộc phải ký kết ngưng chiến, công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (sic).  Lá cờ Đỏ sao vàng của nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa tung bay trên thủ đô nước Pháp” (Bản in lần 2, trang 426).

Tuy nhiên các sử gia quốc tế không đồng ý với lối giải thích này: Thứ nhất, từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 3 năm 1946 hai bên không có đánh nhau thì làm sao có chuyện Pháp bị buộc phải ngưng chiến?

Thứ hai văn kiện được hai bên ký kết ngày 6 -3- 46 chỉ công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do chứ không phải là một quốc gia độc lập. Vậy thì chính ông Hồ Chí Minh đã phủ nhận hai chữ “Độc Lập” mà ông từng hô hào vào ngày 2-9-1945. Đây cũng là bằng chứng cho thấy thời 1945-1954 lá cờ Đỏ sao vàng chưa phải là Quốc Kỳ của một quốc gia độc lập.

Thứ ba là “kẻ xâm lược” không bị buộc phải ký kết mà Hồ Chí Minh mới là người bị buộc.  Bởi vì kẻ xâm lược đang có 45 ngàn tay súng và đang kiếm tàu chở thêm 70 ngàn tay súng khác vào Việt Nam;  trong khi Võ Nguyên Giáp chỉ có  400 tay súng mà không có đạn ( Hồi ký của Võ Nuyên Giáp và hồi ký Bảo Đại ).

Thứ tư là lá cờ Đỏ sao vàng tượng trưng cho chính phủ Việt Minh có xuất hiện tại nước Pháp vào năm 1946 nhưng nó được treo ủ rũ trong một góc nhà có phái đoàn của Hồ Chí Minh tham dự hội nghị Fontainebleu chứ không hề có chuyện tung bay trên thủ đô nước Pháp.

Thứ năm là sau một lần được “tung bay” trong phòng hội đàm thì lá cờ Đỏ sao vàng phải cuốn lại và xếp xó vì quân Pháp đuổi Hồ Chí Minh chạy dài cho tới năm 1950 mới được Mao Trạch Đông dựng lại.

Phân tích thực lực của Hồ Chí Minh vào năm 1946

Tháng 7 năm 2013 lãnh tụ CSVN Trương Tấn Sang đến Washington với một món quà ý nghĩa, đó là bức thư của Hồ Chí Minh xin được theo Mỹ vào năm 1946.  Nhân dịp đó BBC online phỏng vấn sử gia Hoa Kỳ William Duiker.

 Với cuốn sách “Ho Chi Minh, A Life” William Duiker cho rằng Hoa Kỳ hay Pháp cứ tiếp tục nắm bàn tay của HCM năm 1945-1946 thì Việt Nam sau này không có ai theo Cọng sản….(sic).  Đó là một giả thuyết của một người ngoại quốc muốn tìm hiểu Việt Nam, họ cứ tập trung vào lãnh tụ HCM, họ đinh ninh rằng lúc đó HCM là Staline, Tito, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Fidel Castro…

Họ không thấy rằng những lãnh tụ như Staline, Mao… thực sự là Tổng bí thư Đảng Cọng sản của họ trong khi Hồ Chí Minh chưa bao giờ được nắm Tổng bí thư đảng cả.  Lực lượng hậu thuẩn của Staline, Mao, Tito, Fidel là kết quả biết bao nhiêu năm nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử, gầy dựng cơ sở từ con số không.

Còn Hồ Chí Minh sau 33 năm ra khỏi nước, ông chưa có một tên quân nào và cũng không biết máu của người chiến sĩ cách mạng đổ ra tại Việt Nam ra sao.  Năm 1941, sau 30 năm lưu vong, ông ghé tạt qua căn cứ Pác Bó tại biên giới Việt- Trung trong vài tháng rồi sau đó lại sang Trung Hoa và bị bắt.

Mãi tới cuối năm 1944 ông mới trở về với 18 chuyên viên của Tưởng Giới Thạch.  Rồi ông lại sang Trung Hoa gặp Tiêu Văn và trở về với toán OSS Hoa Kỳ vào tháng 5 năm 1945.  Như vậy cho tới tháng 8 năm 1945 dưới tay HCM không có ai là người từng nằm gai nếm mật hoặc từng sát cánh chiến đấu với HCM, ông ta thực sự không có một lực lượng hậu thuẩn.

Ngoài sử gia William Duiker còn có sử gia người Pháp Philip Deviller với cuốn sách Paris-Saigon-Hanoi phát hành năm 1988.  Devillers đến Việt Nam vào tháng 11 năm 1945, lúc đó 25 tuổi, làm việc tại cơ quan báo chí của Bộ Tổng tham mưu của quân đội Pháp, đồng thời là phóng viên của báo Caravelle, báo Paris-Saigon và là thông tín viên bí mật của báo Le Monde, Paris. Ông về lại Pháp năm 1950 và trở thành sử gia chuyên nghiên cứu về Đông Nam Á.

Những bí ẩn khó hiểu của diễn biến thời cuộc trong những năm 1945-1947 đã ám ảnh Devillers, ông tự hứa là đừng vội chết trước khi rọi được ánh sáng vào cái năm 1946!  Ông đợi đến 40 năm sau, năm 1987, các hồ sơ lưu trữ của Bộ Quốc phòng Pháp được giải mật.

 Sau đó Devillers đã xin phép được đối chiếu lại với các tư liệu lưu trữ cá nhân của gia đình cựu thủ tướng Bidault và gia đình của nhà thương thuyết Sainteny.  Cuối cùng Devillers đi tới kết luận rằng chuyện đàm phán giữa Pháp và Hồ Chí Minh vào năm 1946 chỉ là một kế hoạch bề mặt của người Pháp.  Bên trong là bằng mọi giá phải giữ cho bằng được Đông Dương.

Tuy nhiên đáng tiếc là Devillers đã quên rọi ánh sáng về phía Việt Nam, ông quên rằng đằng sau Hồ Chí Minh là những người từng tốt nghiệp trường đại học chính trị nổi tiếng thế giới là Học viện Staline như Trần Ngọc Danh, Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Bùi Lâm, Bùi Công Trừng, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Văn Trân, Hoàng Văn Nọn, Trần Văn Kiệt…;  từng là Ủy viên Trung ương của Đảng Cọng sản Pháp như Nguyễn Văn Tạo;  từng là Ủy viên Trung ương của Đảng Cọng sản Trung Quốc như Nguyễn Sơn và những người còn lại đều có ít nhất là 5 năm đào luyện trong các trại tù của thực dân Pháp.

Họ không phải là những người ngây thơ nhưng họ bị đặt trước một tình thế là không thể làm gì khác hơn.  Họ bị buộc phải ngồi đối diện với các chính trị gia Pháp mà trong tay họ không có gì cả, họ không có một lợi thế nào để có thể khả dĩ nói chuyện phải quấy với người ta.  Họ thừa biết ngồi nói chuyện bình đẳng với người Pháp tại Fontainebleu là một điều vô lý. Họ không thể đi đánh bạc mà trong lưng không có một đồng làm vốn.

Riêng ông Hồ Chí Minh cũng  thừa biết trong tay ông không có gì cả.  Nhưng ông cần chứng tỏ với dân chúng Việt Nam rằng ông là người duy nhất đại diện cho dân chúng Việt Nam.  Ông thừa biết nếu người ngồi tại Fontainebleau là Nguyễn Tường Tam hay Bảo Đại thì đương nhiên ông sẽ trở thành một phó thường dân, hiện nguyên hình là một người làm nghề rửa hình hay làm nghề phụ bếp.

Trong khi đó nếu ông còn ngồi tại bàn hội nghị thì nhân dân Việt Nam còn thắp hương van vái cho ông được thành công, người Việt Nam sẽ dồn hết nỗ lực tuyên truyền tạo uy tín cho ông để ông có thể dùng uy tín đó làm một thế mạnh để đàm phán.

Tại sao một người hầu bàn lại được lên ngôi thần thánh?

Thuở đó người dân Việt Nam nguyện một lòng đoàn kết sau lưng ông Hồ Chí Minh không phải vì ông ta tài giỏi hay sáng suốt mà vì ông ta là người duy nhất đại diện cho dân Việt để nói chuyện phải quấy với quân thù.  Tự nhiên Hồ Chí Minh được toàn dân Việt Nam đánh bóng;  mọi cá nhân, mọi đoàn thể, mọi đảng phái đều lên tiếng ca tụng ông;  lâu dần ông trở thành một nhân vật thần thánh trong truyền thuyết của dân tộc Việt Nam.

Nửa năm ngồi tại bàn đàm phán là thời gian đủ cho người Pháp đổ bộ 55.000 quân vào Việt Nam nhưng cũng là thời gian đủ cho ông Hồ Chí Minh từ một người hầu bàn trở thành một chính trị gia đại tài.

Trong suốt quyển sách Paris-Saigon-Hanoi, Devillers luôn luôn vẽ ra hình ảnh một ông Hồ Chí Minh ngây thơ trước những gian trá của phía Pháp, một Đảng Việt Quốc luôn luôn đả kích ông Hồ Chí Minh đã thỏa thuận cho quân Pháp trở lại Việt Nam và chê ông HCM đã nhân nhượng quân Pháp quá nhiều…

Devillers tội nghiệp cho ông Hồ Chí Minh quá thực thà và quá ngay thẳng trước các tay cáo già như Pignion, Valluy và D’Argenlieur.  Ngoài ra Devillers cũng cho rằng lẽ ra thuở đó người Pháp phải ôm ông Hồ Chí Minh vào lòng, thay vì sau này phải khổ sở đi tìm Bảo Đại.  Dervillers cho rằng mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp nếu năm 1946 người Pháp chỉ cần trao cho ông Hồ Chí Minh một nửa cái mà sau này họ đã trao cho ông Bảo Đại.

Tuy nhiên có một điều quan trọng mà De Villers quên nghĩ tới là:  Người Pháp chỉ giao chủ quyền cho Bảo Đại vì họ thấy cần phải có viện trợ của Hoa Kỳ để duy trì đội quân bảo vệ Đông Dương nhằm chống lại sữ bành trướng của làn sóng Đỏ.  Nhưng Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận cho Pháp bàn giao chủ quyền cho HCM, bởi vì họ biết HCM là người theo Cọng sản.

BÙI ANH TRINH

*Chú thích của người viết :

 Đầu năm 2015 ông Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng hô hào “Học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh”.  Nghĩa là ông HCM đã chết nhưng tư tưởng của ông ta còn sống.  Hoặc nói một cách văn hoa là ông ta chết nhưng mà chưa chôn.  Vậy nên người đào bới lịch sử có nhiệm vụ phải mai táng ông HCM cho kỹ càng để môi trường lịch sử Việt Nam được trong sạch.

Trong bài viết trên đây có 3 tấm gương đạo đức của ông HCM mà người Việt không nên học tập :

(1).  Trong lúc toàn dân quyết tâm chống Pháp thì bè đảng của HCM bắt tay với Pháp. Nhưng sau này Hồ Chí Minh lại biến đổi lịch sử trở thành chỉ có một mình HCM và bè đảng của ông ta chống Pháp, còn toàn dân theo Bảo Đại, tức là toàn dân phản quốc.( Lưu manh ).

(2). Dân tộc Việt Nam cần có một minh chủ đứng ra lãnh đạo công cuộc chống Pháp, cho nên người ta đứng đằng sau lưng ông HCM là người từng  được Mỹ đưa về. Thế nhưng sau khi được dân chúng tôn làm minh chủ thì ông ta tự xưng là “cha già dân tộc”. Rồi nhân danh cha già dân tộc HCM giết sạch những người nào không ủng hộ ông ta. ( Gian ác ).

 (3). Kể từ khi được Mỹ đưa về nước vào năm 1944 cho tới khi chết, ông HCM chưa bao giờ lấy tên đảng của ông ta là đảng Cọng sản.  Vậy mà đã có 160 ngàn đảng viên Cọng sản hăng hái chết cho ngai vàng của HCM. ( Bịp bợm ).

Bùi Anh Trinh - BIÊN KHẢO VỀ NGUYỄN TẤT THÀNH