Trò Nguyễn Sinh Cung

Theo công bố của Phủ Chủ tịch nước thì ông Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890.  Sở dĩ Phủ Chủ tịch công bố ngày 19 tháng 5 là ngày sinh nhật của Hồ Chí Minh là vì ngày đó năm 1946 ông Hồ Chí Minh phải rước Cao uỷ Pháp D’Argenlieu đến Hà Nội theo như hiệp ước mà ông đã ký với Pháp.  Nếu treo cờ đón phái đoàn Pháp thì sẽ gây phẫn nộ trong dân chúng, ông giả công bố đó là ngày sinh nhật của Chủ tịch nước .

Một số sử gia ghi rằng “theo hồ sơ lưu trữ tại Văn Khố Hải ngoại Pháp” thì ngày sinh của Nguyễn Tất Thành là 15-1-1895.  Đó là ngày sinh ghi trong chiếu khán của nhà cầm quyền Đức cấp cho Nguyễn Tất Thành để đi Nga.  Hộ chiếu đề ngày 16-6-1923 có dán hình của Nguyễn Tất Thành nhưng tên là Cheng Vang (Trần Vương).  Tuy nhiên chiếu khán này căn cứ theo giấy tờ do Nguyễn Tất Thành đệ nạp.  Ông đã lấy tên giả thì dĩ nhiên ngày sinh tháng đẻ cũng là giả.

Theo đơn ông xin theo học trường Thuộc Địa tại Pháp năm 1911 thì năm sinh là 1892.  Còn theo như tài liệu của Sở Liêm phóng (mật vụ) Pháp sưu tra tại trường Quốc Học Huế thì hồ sơ xin nhập học ghi trò Nguyễn Sanh Côn, sinh ngày 24-1-1892.  Tài liệu của mật thám Pháp ghi trò Côn gốc Nghệ An trước đó đã học trường Pháp Nam Thừa Thiên, được đặc ân vào trường Quốc Học Huế niên khóa 1908-1909.

Ngoài ra còn có một tài liệu của mật thám Pháp cho biết năm sinh của Nguyễn  Sanh Côn được ghi trong sổ Đinh bạ của làng Kim Liên là năm 1894.  Tuy nhiên so lại với tự truyện của ông Hồ Chí Minh viết dưới tên Trần Dân Tiên thì ông đã từ chối lời mời tham gia chính trị của cụ Phan Bội Châu trước khi cụ xuất ngoại vào năm 1905.

Do đó nếu ông sinh năm 1894 thì lúc từ chối lời mời của cụ Phan ông mới có 11 tuổi, còn quá nhỏ để bàn chuyện chính trị với cụ Phan.  Vả lại cũng trong tự truyện này ông có cho biết là sinh năm 1890. Vậy thì năm sinh 1890 được xem là có lý hơn cả.

Năm 1922, khi mật thám Pháp bắt đầu theo dõi nhân vật tên Nguyễn Ái Quốc trong giới Việt kiều tại Paris thì họ phăng lần ra Paul Tất Thành hay Nguyễn Tất Thành là con ông Nghè Nguyễn Sinh Huy.  Họ chỉ thị cho mật thám Pháp tại Trung Kỳ Việt Nam truy lục lý lịch của Nguyễn Tất Thành tại làng Kim Liên huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An.

Các viên chức trong làng đều gọi cha của Tất Thành là ông Nghè Nguyễn Sanh Huy.  Trong chữ Hán thì chữ “sinh” thường được người “Đàng Trong” (Tức là người Miền Trung hay Miền Nam) đọc là “sanh” cũng như chữ “chính” thường được người Miền Trung hay Miền Nam đọc là “chánh”, chữ “tính” đọc là “tánh”, chữ “lĩnh” đọc là “lãnh”…

Ngoài ra hầu hết các tài liệu của mật thám Pháp thường ghi tên thủa nhỏ của ông Thành là “Nguyễn Sanh Côn” vì họ ghi theo cách phát âm của các viên chức chính quyền địa phương thời bấy giờ.  Còn nếu phát âm theo kiểu Hà Nội là Nguyễn Sinh Cung.

Cha của Nguyễn Sinh Cung tên là Nguyễn Sinh Sắc, tên tự là Nguyễn Sinh Huy, thi đỗ Tiến sĩ năm 1901.  Mãi đến năm 1906 mới được bổ làm Thừa biện bộ Lại cùng một lượt với ông Nghè Hoàng Đại Bỉnh.  Chức Thừa biện của cụ Sắc chưa phải là một chức quan, nếu lên thêm một bậc mới là quan.  Do đó mức sống của gia đình cụ trong thời gian này cũng rất thanh bạch.

Tháng 9 năm 1909 Nguyễn Sinh Huy được cử làm tri huyện An Khê tỉnh Bình Định.  Đến tháng giêng năm 1910 vì lỡ tay đánh chết một phạm nhân trong lúc say rượu, ông bị cách chức ( Hsltr/Quốc gia Pháp, báo cáo điều tra của cơ quan mật thám Pháp tại Trung Kỳ gởi cho cảnh sát Paris về cha của NTT ), lúc này bà Sắc đã mất.  Có lẽ lúc làm quan rất thanh liêm nên khi mất chức ông sống chật vật, ông đem các con vào Huế vừa dạy học, vừa làm nghề thuốc Bắc.

Nhưng đời sống khó khăn cho nên cuối cùng ông tìm cách vào Nam mưu sinh, ông gởi con cho ông nghè Võ Văn Giáp nhờ chăm nom giùm.  Cụ Giáp cho người con cả là Nguyễn Sinh Khiêm, tên tự là Nguyễn Tất Đạt;  và cô gái thứ là Nguyễn Thị Thanh, tên tự là Nguyễn Thị Kim Liên; cùng học nghề thuốc bắc.  Còn Nguyễn Sinh Cung, tên tự là Nguyễn Tất Thành, được hội tương tế Nghệ Tĩnh giúp đỡ học tiếp ở trường Quốc Học ( Hồi ức của ông Võ Như Nguyện, giáo sư Nguyễn Lý Tưởng ghi ).

Năm 1910, cuối năm, nhân dịp Toàn quyền Pháp cho xử lại vụ án Phan Chu Trinh, Cung tham gia biểu tình đòi tha Phan Chu Trinh rồi sau đó trốn luôn vì sợ bị bắt, ông lên đường vào Nam mong tìm gặp cha của mình.  Ngang Long Hương Phan Thiết ông ghé hỏi thăm cha tại nhà ông Nghè Trương gia Mô, cụ Mô không biết tin tức về cụ Sắc nhưng khuyên Cung nên lưu lại Phan Thiết trong khi chờ dò tin của cha mình.

Cung lưu lại Duồng, Phan Thiết một thời gian rồi xin dạy học ở trường Dục Thanh Phan Thiết, tại đây ông có dịp làm quen với các thương buôn hải ngoại thường ghé bến Phan Thiết lấy hàng, từ đó ông có ý xuất dương.  Lúc dạy học ông lấy tên tự của mình làm giấy tờ là Nguyễn Tất Thành  (Tài liệu của báo Thanh Niên thành phố Hồ Chí Minh, báo này do Trần Bạch Đằng sáng lập và làm việc trong ban biên tập).

* Chú giải : Ông nghè Trương Gia Mô là cha của ông Trương Gia Kỳ Sanh và là ông nội của ông Trương Gia Triều tức Trần Bạch Đằng.  Cụ Mô cùng học trường Quốc tử giám với ông Nghè Nguyễn Sinh Sắc và hai ông cùng đỗ tiến sĩ với Phan Chu Trinh vào năm 1901.

Năm 1905 Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp đi thăm các tỉnh Miền Nam.  Đến Phan Thiết các ông ghé lại nhà ông Trương Gia Mô thì Phan Chu Trinh bị bệnh phải ở lại dưỡng bệnh.  Sau khi hết bệnh Phan Chu Trinh tiếp tục đi thăm Miền Nam và trở về năm 1906.

Cụ Mô bị Pháp bắt giam trong vụ nổi dậy chống thuế năm 1908.  Trường Dục Thanh là trường học do cụ Mô cùng Hồ Tá Bang và Nguyễn Trọng Lôi hưởng ứng lời kêu gọi của Phan Chu Trinh mà lập ra.  Ngoài trường Dục Thanh, các ông còn lập ra hãng nước mắm Liên Thành tại Phan Thiết.

Chuyện dạy học tại trường Dục Thanh là do tác phẩm “Bác Hồ” (trang 23) của Hoài Thanh và Thanh Tịnh viết ra chứ trong 2 tự truyện của ông Nguyễn Tất Thành không hề nhắc tới.  Tuy nhiên ông Hồ Tá Khanh là con trai của chủ nhân trường Dục Thanh cho biết thì gia đình ông không nhớ ra nhân vật NTT.  Truy lại hồ sơ các giáo viên tại trường cũng không có, nhưng em gái của ông Khanh cho biết có nhiều người chỉ dạy thêm trong một mùa hè nên không nhớ được.

Trước khi tài liệu của Bộ Hải Ngoại Pháp được giải mã vào năm 1980 thì có hai nhà báo nổi tiếng của Pháp đã đến Hà Nội phỏng vấn các lãnh tụ CSVN cũng như phỏng vấn ngay cả Hồ Chí Minh để viết về tiểu sử của Hồ Chí Minh.  Nhà báo Jean Lacouture đến Hà Nội vào tháng 11 năm 1961 và nhà báo Bernard Fall đến Hà Nội vào tháng 7 năm 1962.  Tuy nhiên các câu trả lời phỏng vấn đều xác nhận lại những gì do Viện nghiên cứu lịch sử Đảng đã từng công bố.

Theo đó thì cụ Nguyễn Sinh Sắc đã từ quan vào năm 1908 để phản đối chính sách cai trị của Pháp.  Và NTT bỏ học vào năm 1908 vì tham gia biểu tình chống thuế do Phan Chu Trinh phát động.  Ông Phạm Văn Đồng có cho Bernard Fall biết rằng ông Hồ Chí Minh rời trường Quốc Học Huế vào năm 1910 mà không có bằng cấp gì.

Đến năm 1980 tài liệu mật của Bộ Hải Ngoại Pháp được giải mã, sử gia Daniel Hémery của Pháp cho công bố những báo cáo của mật thám Đông Dương về ông Nguyễn Tất Thành thì mọi người mới biết rằng cụ Sắc bị cách chức vì lỡ tay đánh chết tội nhân trong lúc say rượu vào năm 1910.

Sau này lãnh tụ Cọng sản Hoàng Tùng là người thân cận của Hồ Chí Minh cũng xác nhận chuyện này trong hồi ký của ông.  Hoàng Tùng giải thích tai nạn xảy ra do cụ Sắc ra lệnh đánh tội nhân bằng roi vì người này can tội trộm cắp;  tuy nhiên không ngờ là tội nhân này đang bị bệnh sẳn nên không chịu nỗi đòn roi mà chết.  Có lẽ Hoàng Tùng tự ý bào chữa cho cụ Sắc chứ không chắc Hoàng Tùng biết rõ chuyện này bởi vì nếu đúng là tai nạn thì triều đình đã không cách chức cụ Sắc.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - BIÊN KHẢO VỀ NGUYỄN TẤT THÀNH