Sự thật về chuyện Hồ Chí Minh cưới Nguyễn Thị Minh Khai

Tất cả mọi tin đồn về chuyện ông Hồ Chí Minh có thời sống chung với bà Nguyễn Thị Minh Khai đều khởi đầu từ bài viết của bà Quin Judge đăng trên Website của trường Đại học Yale Hoa Kỳ năm 1994.  Sau đó ông Bùi Tín xin phép dịch lại một đoạn nói về chuyện bà NTMK rồi xuất bản thành cuốn sách “Về Ba Ông Thánh” năm 1995.

Năm 1992, sử gia Quinn Judge đang làm việc tại Mạc Tư Khoa.  Năm đó các tài liệu mật của tổ chức Đệ Tam Quốc Tế Cọng sản (CSQT) được đưa ra công chúng.  Sở dĩ bà Quinn Judge chú ý tới tài liệu nói về CSVN vì trước năm 1975 bà và chồng phục vụ trong ngành báo chí quốc tế tại Sài Gòn.  Khi đọc hồ sơ lưu trữ về ĐCSVN, có 3 tài liệu đề cập tới một người phụ nữ khiến cho Quinn Judge quan tâm:

(1) – Hồ sơ RC 495,154,569:  Một lá thư đề ngày 12-1-1931 của Cục Viễn Đông/ CSQT ở Thượng Hải, yêu cầu ông Nguyễn Tất Thành báo trước 2 tháng ngày làm đám cưới của ông.  Để tìm hiểu thêm về lá thư này, bà Quinn Judge đối chiếu với một bức thư khác của ông NTT được lưu trữ tại Văn khố Quốc gia Pháp, hồ sơ mang số AOM.SPCE 367, đây là thư của ông NTT gửi cho Cục Viễn Đông vào ngày 12-2-1931, trong thư có nói vợ ông đang bận đón tết Nguyên Đán và đón khách từ Sài Gòn, Hà Nội.

(2) – Hồ sơ RC 495,154,688:  Một bức điện của Hà Huy Tập tại Hồng Kông, ngày 31-3-1935, báo cáo cho Mạc Tư Khoa danh sách 6 đại biểu tham dự đại hội 7 Cọng Sản Quốc tế, gồm có Litvanop, Quốc, Cao Bang, vợ NTT, một cán bộ đến từ Nam kỳ và một cán bộ đến từ Lào

(3) – Hồ sơ RC 495,201,35:  Một phiếu khai lý lịch của Nguyễn Thị Minh Khai, cô viết tên “Lin” trong dấu ngoặc, gần  cột chữ “Đã lập gia đình”.  Phiếu này được điền vào ngày 14-12-1934, lúc cô vừa mới từ Trung Hoa tới Mạc Tư Khoa để tham dự đại hội 7 CSQT vào cuối năm 1934.

Về  hồ sơ RC 495,154,569:

Sau khi thấy có dấu hiệu có một đám cưới giữa Nguyễn Tất Thành và một người phụ nữ vào đầu năm 1931, bà Quinn Judge truy tìm tài liệu nói về những người cùng hoạt động xung quanh ông Nguyễn Tất Thành thời bấy giờ, nhưng bà chỉ tìm được một quyển tiểu thuyết nhan đề là “Chị Minh Khai” của nhà văn nữ Nguyệt Tú, do Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, phát hành năm 1976.

Bà Nguyệt Tú tưởng tượng Minh Khai gặp ông Hồ tại Hồng Kông, cùng làm việc với ông vào khoảng đầu năm 1931 và được ông hướng dẫn về tư tưởng chính trị.  Tuy nhiên Nguyệt Tú không ngờ rằng đầu năm 1931 Nguyễn Thị Minh Khai đang còn ở Việt Nam và nằm trong tù.

Bộ Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn, xuất bản tại Sài Gòn năm 1972, quyển 7, trang 161 cho thấy:  Ngày 30 tháng 5 năm 1929 Bí thư Tỉnh ủy Hải Phòng của VNTNCMĐCH là Nguyễn Đức Cảnh hội cùng 2 tỉnh ủy viên là Nguyễn Thị Vịnh (Minh Khai), Nguyễn Tường Loan quyết định đưa hai cô gái tên Uyển và Nhu sang Trung Hoa để khỏi phải làm chỉ điểm cho mật thám Pháp.

Tuy nhiên chuyện gởi người sang Tàu không thành.  Để khỏi bị lộ tổ chức, Đổ Ngọc Du đề nghị thủ tiêu hai cô, giao cho Hồ Ngọc Lân thi hành.  Tuy nhiên cô Uyển chết, cô Nhu chỉ bị gẩy chân.  Cảnh sát Pháp điều tra, bắt Nguyễn Đức Cảnh tháng 4 năm 1931.

Tháng 6 năm 1931 bắt Dương Hạc Đính và Đỗ Ngọc Du, còn Nguyễn Thị Vịnh và Lê Thị Chắt là vợ Đỗ Ngọc Du cũng bị bắt ( Không nói rõ là lúc nào nhưng trong phiếu khai lý lịch của Nguyễn Thị Minh Khai còn lưu trữ tại Mạc Tư Khoa thì cô có 1 lần ở tù và thời gian là 1 năm.  Suy ra ngày bị bắt là cuối năm 1930 ).

Tháng 12 năm 1931, hội đồng đề hình do Bouchet chủ tọa tuyên án Nguyễn Đức Cảnh, Hồ Ngọc Lân tử hình;  Đỗ Ngọc Du, Dương Hạc Đính khổ sai chung thân;  Nguyễn Thị Vịnh và Lê Thị Chắt phát lưu chung thân ( Bị chỉ định cư trú tại địa phương vắng vẻ, thường là vùng biên giới ) .

Như vậy hồ sơ RC.495 và hồ sơ AOM, SPCE 367 nói về cuộc hôn nhân của ông NTT vào đầu năm 1931 là nói về Lý Ứng Thuận chứ không phải Minh Khai.  Chỉ cần xem lại hồ sơ vụ xử án Dương Hạc Đính, Nguyễn Đức Cảnh và Đỗ Ngọc Du còn lư trữ tại Văn khố Pháp thì xác nhận được rằng lúc đó Minh Khai đang ở trong tù.

Vì không rõ các chi tiết hoạt động của Minh Khai nên bà Quinn Judge đành dựa theo tiểu thuyết của bà Nguyệt Tú mà tưởng tượng ra người vợ của NTT là Minh Khai, Quinn Judge viết :

“Vào năm 1930 bà được cử đi công tác tại cảng Hải Phòng và sau đó được gởi đi Hồng Kông để phụ tá cho ông Hồ.  Một tiểu sử bán hư cấu xuất bản tại Hà Nội lại nhấn mạnh đến sự kiện bà đã được ông Hồ tự tay huấn luyện về chủ nghĩa Cọng sản trong khi bà đang sống tại bộ chỉ huy của Đảng”  (Nhật Nam dịch).

 Đây là đoạn Nguyệt Tú gới thiệu sơ về khung cảnh mà ông Hồ gặp cô Nguyễn.  Một khung cảnh tưởng tượng 100% lại được bà Quinn Judge ghi nhận là một “tiểu sử bán hư cấu”, tức là chuyện có thật 50%.  Theo nguyên tắc cơ bản của ngành điều tra thì “Một nửa ổ bánh mì là bánh mì.  Nhưng một nửa sự thật không phải là sự thật”.

Và rồi nếu cứ tiếp tục theo cái đà “tiểu sử bán hư cấu” của Nguyệt Tú thì sau đó cô gái Minh Khai gặp chàng trai lý tưởng Lê Hồng Phong, hai người tỏ tình với nhau trên chuyến tàu cùng nhau sang Nga năm 1934 và họ làm lễ kết hôn tại Mạc Tư Khoa, v.v…

Thế nhưng bà Quinn Judge lại không chấp nhận tiếp cái đoạn sau như thế.  Bà lại lái “tiểu sử bán hư cấu” của Nguyệt Tú thành ra “toàn hư cấu” theo ý bà.  Bà viết tiếp:

“Trước cuối năm, ông Hồ giao nhiệm vụ cho bà Minh Khai làm liên lạc giữa ông và đảng Cọng sản Trung Quốc.  Loại công tác này hiển nhiên là rất bí mật, và ta có thể phỏng đoán rằng ông Hồ đã chỉ chọn những đồng chí trẻ tuổi và trung thành với riêng ông”.

 “Liền sau đó, hình như ông Hồ bắt đầu có những tình cảm lãng mạn…”(!?).

Các đoạn văn trên đây của bà Quinn Judge được trích trong bài viết “Ho Chi Minh : New Perpective From The Comintern Files”, đăng trên “The Viet Nam Forum 14” của trường Đại học Yale năm 1994.

Quinn Judge đoan quyết rằng trong cả hai bức thư vào tháng 1 và tháng 2 người ta đều dùng bạch văn chứ không phải là văn mật mã cho nên chắc chắn thực sự ông HCM có lấy vợ vào khoảng tháng 1-1931 và rồi đến tháng 2-1931 thì vợ của ông bận dọn dẹp nhà cửa để đón tết và đón khách từ Việt Nam.

Tuy nhiên, nếu đối chiếu lại với các tài liệu được sưu tập vào thời kỳ sau tết 1931 thì không có một tài liệu nào khác có liên quan đến người vợ cùng đón tết với ông NTT.  Rồi sau tết 3 tháng thì ông NTT bị bắt tại nhà riêng vào ban đêm, trong nhà lúc đó chỉ có cô Lý Ứng Thuận, cô khai là cháu của ông Tống Văn Sơ (NTT).

Trong biên bản của Cảnh sát Hồng Kông còn lưu giữ tại Văn Khố Quốc gia Hoa Kỳ thì sau khi ông Tống Văn Sơ và cô Lý Ứng Thuận bị bắt thì nhà ông Sơ bị niêm phong, chứng tỏ vợ của ông không sinh sống tại đó.  Hoặc nếu quả thực ông đang sống với vợ thì người vợ đó phải là Ứng Thuận chứ không còn ai khác.

Về hồ sơ RC 495,154,668:

Về bức điện Hà Huy Tập báo danh sách tham dự đại hội 7.  Bà Qiunn Judge viết:

“Một lá thư của Cục Hải Ngoại tại Hồng Kông ( Hà Huy Tập), lá thư xác nhận  rằng đại biểu được chọn để tham dự Đai hội khoáng đại CSQT lần 7 gồm có:  Livinop (Lê Hồng Phong), Quốc, Cao Bang (Hoàng Văn Nọn), Vợ Quốc và 2 cán bộ từ Nam Kỳ và Lào.  Vì bà Minh Khai là đại biểu phái nữ duy nhất của Việt Nam tham dự đại hội, hẵn bà là người được nói đến như “Vợ Quốc”.

Theo như tinh thần của bức thư thì Hà Huy Tập và Mạc Tư Khoa đều biết rõ “vợ Quốc” là ai.  Thế nhưng trong bản khai lý lịch của NTT trước đó 5 tháng thì ông ghi rằng ông không có vợ, và 3 năm sau, trước khi rời Mạc Tư Khoa, ông cũng khai trong tờ khai lý lịch là không có vợ.

Về hồ sơ RC 495,201,35 :

Năm 1992 bà Quinn Judge tìm thấy một phiếu kê khai lý lịch của NTMK khi mới đến Mạc Tư Khoa, để tham dự đại hội 7, có ghi chữ (Lin) bên cạnh cột chữ “đã lập gia đình” (Married).

Bà Quinn Judge đánh dấu hỏi về chữ (Lin) này;  sau khi “tham khảo” với một số các ông “thầy bàn” Việt Nam, bà đã ghi vào website của Đại học Yale vào năm 1994:  “…bà Minh Khai cũng đến được Mạc Tư Khoa vào cuối năm 1934 với tên chồng là “Lin”.  Khi điền đơn, ở mục “Tình trạng gia cảnh”, bà viết tên “Lin” gần với chữ “Có chồng”.

Bà tin ngay “Lin” phải là một nhân vật đang là chồng của Minh Khai, rồi bà đi tìm người tên Lin mà điền vào cho vừa cái nhân vật Lin đó.  Tại Nga thời đó có cả triệu người tên Lin nhưng bà Quinn Judge chỉ lựa ra một người có bí danh là Lin mà bà cho là có thể dùng được.  Nhưng người tên Lin không thể có bí danh là Lin.  Trong khi ông NTT lại có bí danh là Lin !

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - BIÊN KHẢO VỀ NGUYỄN TẤT THÀNH