Người Việt tìm hiểu về đời tư của ông Hồ Chí Minh

Ngày nay có nhiều người Việt Nam cố công đi tìm hiểu về Hồ Chí Minh qua các tài liệu mới được phát hiện. Tuy nhiên những người Việt này lại không chịu xóa bỏ các tài liệu cũ sau khi nhận được các bằng chứng mới. Thí dụ như nhóm Tuyên huấn của CSVN chỉ thêm vào những khám phá mới có lợi cho ông Hồ mà không thừa nhận những khám phá mới có hại cho ông Hồ hoặc giả vờ quên những khám phá có hại cho ông Hồ.

Ngoài ra họ còn hội nhau lại để chế biến lịch sử sao cho phù hợp với những điều vừa mới được các sử gia quốc tế khám phá. Thí dụ như khi người ta phát hiện ra bằng chứng cho thấy Lâm Đức Thụ là một người bạn rất thân của Lý Thụy làm điềm chỉ cho mật thám Pháp, ông ta bán hầu hết những nhà ái quốc Việt Nam trong tổ chức VNTNCMĐCH nhưng riêng Lý Thụy lại không bị bán.

Những nhà tuyên huấn CSVN đã ủy cho Hồng Hà viết trong tác phẩm “Bác Hồ trên đất nước Lê Nin”, xuất bản năm 1990, trang 176, như sau: “Sau khóa học…Lâm Đức Thụ tức Trương Béo lấy máy ảnh chụp cả lớp học làm kỷ niệm. Riêng anh Nguyễn không bao giờ cho hình mình lọt vào ống kính của Trương…”.

Đoạn trích dẫn trên đây có ý giải thích cho dân chúng Việt Nam rằng mặc dầu cộng tác với Lâm Đức Thụ nhưng bác Hồ Chí Minh rất khôn ngoan chứ không phải là Bác ngây thơ trong việc tin cậy Lâm Đức Thụ.

Tuy nhiên Hồng Hà và các ông trong Viện nghiên cứu lịch sử Đảng đã bị hố to: Nếu bác ta khôn ngoan đến độ bảo học viên của mình tới trước ống kính cho Lâm Đức Thụ chụp hình, trong khi máy hình sắp nháy thì bác ta lanh chân né ra khỏi ống kính, thì rõ ràng là Bác chủ mưu hay ít nhất cũng là đồng mưu trong vụ này!

Trong khi những nhà tuyên huấn CSVN “cải biên” lịch sử một cách lố bịch như vậy thì những người chống cộng cực đoan lại làm ngược lại, thêm vào những khám phá mới có hại cho ông Hồ mà không nhận những khám phá mới có thể làm bằng chứng bác bỏ những cáo buộc vô căn cứ về ông Hồ. Tình trạng này khiến cho các sử gia quốc tế vô cùng bối rối khi họ muốn đánh giá về ông Hồ qua tiếp xúc với các nhà nghiên cứu lịch sử chính trị Việt Nam.

Điều đáng buồn hơn nữa là nhiều nhà nghiên cứu lịch sử chính trị Việt Nam lại thêm bớt vào những gì mà mình biết về HCM theo cách suy đoán riêng của mình. Thí dụ như nhà nghiên cứu Minh Võ, người có rất nhiều tác phẩm nghiên cứu chính trị Việt Nam. Sau khi đọc hàng trăm cuốn sách và hàng ngàn tài liệu viết về Hồ Chí Minh, ông Minh Võ đã cho ra đời cuốn sách “Hồ Chí Minh, Nhận Định Tổng Hợp”. Trong sách này ông Minh Võ cho rằng:

Qua ghi nhận của nhiều tác giả thì: “Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai từng hứa hôn từ khi qua Trung Quốc làm việc tại Đông Phương bộ Quốc Tế Cọng sản năm 1930. Năm 1931 Minh Khai đã bị mật thám Pháp bắt giữ cho tới năm 1934 mới được thả. Đây là lúc Lê Hồng Phong và Minh Khai được chọn làm đại biểu tham dự Đại Hội Quốc tế Cọng sản lần thứ bảy tại Mạc Tư Khoa.

Lê Hồng Phong lên đường trước, còn Minh Khai ở lại thụ huấn với Hồ Chí Minh để chuẩn bị cho việc tham gia Đại Hội. Thời gian ngắn ngủi này dẫn tới việc Minh Khai có thai với Hồ Chí Minh và khi hai người tới Mạc Tư Khoa đã có sự can thiệp của tổ chức đảng ở đây để Hồ Chí Minh và Minh Khai chính thức thành hôn. Do đó mới có nghi vấn về bản giá thú của Hồ Chí Minh với Minh Khai lưu trữ tại Văn Khố Mật Liên Xô” ( Minh Võ, Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp, trang 61 ).

Tác phẩm Hồ Chí Minh, Nhận Định Tổng Hợp là một công trình nghiên cứu công phu nhất về Hồ Chí Minh của người Việt Nam và ra đời sau cùng, tức là vào cuối năm 2003, sau khi bà Quinn Judge cho công bố các tài liệu mật của CSQT liên quan tới Hồ Chí Minh trong tác phẩm Ho Chi Minh, The Missing Years được xuất bản vào đầu năm 2003. Ông Minh Võ đã đọc tác phẩm của bà Quinn Judge trước khi tổng hợp nhưng không hiểu ông tổng hợp cách nào mà hóa ra:

(1) – Nguyễn Thị Minh Khai đã từng làm việc tại Đông Phương Bộ và hứa hôn với Lê Hồng Phong vào thời 1930. Nhưng các tài liệu trưng dẫn của sử gia Quinn Judge cho thấy Lê Hồng Phong sang Nga học về quân sự từ năm 1926., mãi tời đầu năm 1932 thì Mạc Tư kHoa mới cử Lê Hồng Phong và Trần Ngọc Danh về Trung Hoa để tổ chức lại ĐCSĐD sau biến cố Xô viết Nghệ Tĩnh.

Nhưng Lê Hồng Phong hoạt động tại Quảng Tây, trong khi Minh Khai và Trần Ngọc Danh hoạt động tại Thượng Hải. Cho đến giữa năm 1933 Lê Hồng Phong mới gặp NTMK. Do đó chuyện Lê Hồng Phong gặp Nguyễn Thị Minh Khai và hứa hôn vào năm 1930 là không có. Thời gian đó Lê Hồng Phong ở Nga và Nguyễn Thị Minh Khai ở Việt Nam.

(2) – Chuyện Minh Khai bị bắt từ năm 1931 đến năm 1934 cũng không đúng. Tài liệu của bà Quinn Judge cho thấy Minh Khai bắt đầu được ghi nhận hoạt động tại Trung Hoa là vào đầu năm 1932. Tài liệu tại Văn khố Quốc gia Pháp còn lưu lại các báo cáo của nhân viên mật thám Anh ghi nhận đầu năm 1932 Minh Khai hoạt động tại Thượng Hải cùng với Trần Ngọc Danh là người mới từ Mạc Tư Khoa đến Trung Hoa.

Đến tháng 9 năm 1932 Lê Tán Anh và Trần Ngọc Danh bị bắt tại Thượng Hải, Minh Khai chạy về Quảng Đông và gặp Lê Hồng Phong tại đây vào giữa năm 1933 rồi cùng Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập lập ra một tổ chức gọi là “Cục hải ngoại” của ĐCSĐD vào cuối năm 1933. Tổ chức này là tổ chức duy nhất của CSVN tại Trung Hoa lúc bấy giờ.

Ngoài ra trong mẫu kê khai lý lịch trích ngang của Minh Khai khi tham dự đại hội 7 CSQT cho thấy trong đời cô có một lần ở tù và chỉ có 1 năm. Vậy chuyện Minh Khai bị bắt từ 1931 đến 1934 là không đúng.

(3) – Chuyện năm 1934 ông Lê Hồng Phong lên đường đi Mạc tư Khoa trước, Nguyễn Thị Minh Khai ở lại Trung Hoa với ông HCM và mang thai với ông này lại càng không đúng. Vì tại liệu còn lưu trữ tại Mạc Tư Khoa cho thấy ông Hồ bị bắt tại Hồng Kông từ ngày 6-6-1931, sau khi thoát khỏi nhà tù năm 1933 ông lên đường đến MTK.

Ông xin tiền một đồng chí người Pháp tại Thượng Hải và khởi hành từ Hán Khẩu vào tháng 8 năm 1933 nhưng mãi đến tháng 7 năm 1934 tức là gần 1 năm sau ông mới đến MTK, ông khai là ông vào đất Nga vào cuối năm 1933 nhưng bị bệnh nên phải lưu lại một thành phố nào đó của Nga để chữa bệnh.

Tại MTK ông bị điều tra về lý do tại sao ông và tổ chức Cục Viễn Đông của Noulens tại Thượng Hải bị phá vỡ và về lý do tại sao ông thoát được ngục tù tại Hồng Kông trong khi những người khác như Hồ Tùng Mậu, Trần Ngọc Danh, Lê Tán Anh, Nguyễn Lương Bằng, Trương Văn Lệnh lại bị dẫn độ về Việt Nam.

Về phần Minh Khai, đến cuối năm 1934, sau khi ổn định tổ chức “Cục Hải ngoại” của CSVN, cô cùng với Lê Hồng Phong và Hoàng Văn Nọn lên đường đi MTK để tham dự đại hội 7 CSQT dự trù nhóm họp vào tháng 12 năm 1934. Vậy chuyện ông Phong đi trước, ông Hồ ở lại lấy vợ chưa cưới của ông Phong là không đúng.

(4) – Chuyện Minh Khai có bầu với ông HCM rồi mới đến MTK và được CSQT làm thủ tục hợp thức hóa là không đúng. Vì theo bản kê khai lý lịch của HCM khai với an ninh CSQT vào tháng 10 năm 1934 ghi là độc thân, rồi bản kê khai lý lịch trước khi ông rời MTK vào tháng 9 năm 1938 cũng ghi là độc thân.

Vậy chuyện chính quyền MTK hợp thức hóa cho ông lấy Minh Khai vào cuối năm 1934 là không có. Còn con gái đầu lòng và duy nhất của bà Minh Khai là Lê Thị Hồng Minh thì mãi đến năm 1939 mới sinh ra ( Hsltr/Quốc gia Pháp, Hồ sơ về vụ án Nam Kỳ khởi nghĩa ).

(5) – Chuyện Minh Khai có một tờ giá thú với ông HCM còn lưu trữ tại Văn Khố Mật tại MTK là không có. Chỉ có một mẫu khai lý lịch trích ngang của Minh Khai , không biết là cô hay ai đó đã ghi một chữ Lin trong dấu ngoặc bên cạnh cột chữ in “Đã lập gia đình”. Bà Quinn Judge nghi chữ Lin đó ám chỉ ông Hồ cho nên bà nêu vấn đề đó ra vào năm 1994.

Ngoài ra, trong sách của bà Quinn Judge có ghi rõ là phiếu khai lý lịch của ông NAQ trước khi ông rời Mạc Tư Khoa năm 1938 vẫn ghi rằng ông độc thân. Việc này chứng minh chuyện ông NAQ có vợ là Nguyễn Thị Minh Khai tại Mạc Tư Khoa là chuyện không bao giờ có. Hệ thống an ninh của Stalin không phải là một hệ thống tồi đến nỗi một người có vợ, sống ngay tại Mạc Tư Khoa, và có giấy hôn thú được CSQT lưu trong hồ sơ cá nhân mà lại dám khai trong hồ sơ an ninh rằng không có vợ.

Trong một bài viết đăng trên báo Thế Kỷ 21, số 164, phát hành tháng 12 năm 2002, ông Minh Võ viết rằng: “Quốc được cử làm phụ tá và thông dịch viên cho Borodin, trưởng phái bộ Liên Xô cạnh chính phủ Trung Hoa Quốc dân Đảng của bác sĩ Tôn Dật Tiên. Đó chỉ là bình phong. Nhiệm vụ hay sứ mạng đích thực của Quốc quan trọng hơn thế nhiều và nằm trong kế hoạch tối mật. Được biết, để chu toàn nhiệm vụ bí mật đó, Hồ thường xuyên tiếp xúc, nhận chỉ thị và báo cáo thi hành chỉ thị tại Trung Quốc cho Hilaire Noullens, đại diện của QT 3 thuộc cục Đông Phương có văn phòng tại Thượng Hải…”.

Tuy nhiên trên thực tế thì ông Nguyễn Tất Thành làm việc trong Đông Phương Cục của Borodin từ năm 1925. Đến năm 1927 phái bộ Borodin bị đuổi về Nga. Sau đó CSQT bí mật tái lập Đông Phương Cục tại Thượng Hải vào năm 1929, do Hilaire Noulens chỉ huy. Ông Nguyễn Tất Thành không thể nào làm việc với cả hai cơ quan cùng một lúc bởi vì cơ quan này giải tán trước khi cơ quan kia được thành lập.

Chẳng qua là ông Minh Võ đã “tổng hợp” hai việc làm tại hai cơ quan trong hai thời điểm khác nhau làm thành một. Cho nên ông Nguyễn Tất Thành trở thành một con người siêu đẳng, làm việc vượt thời gian, cùng một lúc làm hai công việc của hai thời gian khác nhau.

Vì vậy sau khi cuốn sách của ông Minh Võ ra đời năm 2003 mà rồi người ta vẫn chưa có kết luận về ông Hồ Chí Minh, người ta vẫn tiếp tục bàn bạc, coi như tác phẩm “Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp” không có xuất hiện trên cõi đời. Do đó ông Minh Võ lại phải tiếp tục viết nhiều bài báo bàn cãi về con người của Hồ Chí Minh, ông kêu gọi mọi người hãy đọc lại những sự kiện mà ông đã dẫn chứng trong tác phẩm của ông.

Tuy nhiên hầu hết những gì ông viết ra trong 746 trang sách đều nhằm chứng minh rằng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Cọng sản là một. Rồi cũng theo ông Minh Võ thì chủ nghĩa Cọng sản đồng nghĩa với tàn bạo và gian ác cho nên ông kết luận rằng Hồ Chí Minh đồng nghĩa với “Việt gian”.

Người đọc không thể đồng ý với lập luận này của ông Minh Võ. Bởi vì mục tiêu của chủ nghĩa Cọng sản không gian ác mà là trái lại; trên lý thuyết, thiên đường Cọng sản, do Kal Marx là con của một vị mục sư vẽ ra, tốt đẹp không khác gì thiên đường của tôn giáo. Cho nên nếu càng chứng minh rằng Hồ Chí Minh với Cọng sản là một thì lại càng chứng tỏ Hồ Chí Minh suốt đời theo đuổi mục tiêu giải phóng giai cấp, tranh đấu cho quyền lợi của dân nghèo.

Vì vậy khi ông Minh Võ cho rằng ông Hồ Chí Minh đồng nghĩa với Chủ nghĩa Cọng sản thì những người Cọng sản rất hoan nghênh nhưng những nhà nghiên cứu sử thì không đồng ý; bởi vì thứ nhất là các sử gia quốc tế không cho rằng Cọng sản đồng nghĩa với tội phạm, và thứ hai là họ đã có nhiều bằng cớ để chứng minh được rằng ông Hồ Chí Minh không phải là một con người “Cọng sản chủ nghĩa” mà là một con người “Cơ hội chủ nghĩa”.

Ông Minh Võ khăng khăng rằng Cọng sản đồng nghĩa với tội phạm cho nên ông cho rằng không những Hồ Chí Minh mà bất cứ người nào bắt đầu theo đuổi mục tiêu Cọng sản là họ đã chấp nhận phạm tội ác đối với dân tộc bởi vì ngay từ lúc đó họ đã biết Cọng sản là tàn ác, là vô nhân. Điều này hoàn toàn không đúng đối với những người đã từng theo Cọng sản.

Còn đối với những người theo Việt Minh thì ông Minh Võ cho rằng những người này không biết đó là một tổ chức Cọng sản, họ đã bị đánh lừa. Lập luận này cũng không đúng bởi vì hầu hết những người theo Việt Minh vẫn tiếp tục theo Việt Minh khi biết Việt Minh là Cọng sản. Thậm chí có người mới đầu chỉ theo Việt Minh nhưng sau đó biết được Việt Minh là Cọng sản thì lại xin gia nhập Đảng Cọng sản.

Ngoài ra, trước khi có Việt Minh thì đã có rất nhiều người Việt Nam theo đuổi chủ nghĩa Cọng sản, họ là những người yêu nước, họ chịu đựng rất nhiều hy sinh gian khổ chỉ vì hạnh phúc của dân tộc.

Ông Nguyễn Tất Thành cũng vậy, ông không có tội lỗi gì khi ông quyết định theo Cọng sản vào năm 1922. Chính ông đã thú nhận trong tự truyện của mình rằng ông theo Cọng sản chẳng qua là vì Đảng của ông chuyển thành đảng Cọng sản. Lúc đó ông cũng chẳng biết “Cọng sản nghĩa là gì”, nhưng ông mường tượng được chủ nghĩa Cọng sản là một chủ nghĩa tranh đấu cho người nghèo và xóa bỏ bất công trong xã hội. Vậy thì quan điểm Cọng sản của ông không có gì đáng trách. Và chuyện ông phục vụ cho Quốc tế Cọng sản cũng không phải là một tội ác.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - BIÊN KHẢO VỀ NGUYỄN TẤT THÀNH