Phong trào cách mạng Việt Nam trong thời Thế chiến

Năm 1938, ngày 6-6, tại Mạc Tư Khoa, Nguyễn Ái Kvak (Nguyễn Tất Thành) gởi cho Trung ương CSQT một bức thư thống thiết : “Hôm nay là kỷ niệm 7 năm tôi bị bắt ở Hồng Kông. Ngày này cũng là khởi đầu năm thứ 8 tôi nằm không, không được hoạt động . Tôi viết thư này với mục đích xin các đồng chí thay đổi tình cảnh đau lòng này của tôi.

Xin các đồng chí phái tôi đi bất cứ nơi nào hoặc giữ tôi tại đây cũng được. Nhưng hãy dùng tôi trong bất cứ việc gì mà các đồng chí thấy là có ích. Tôi chỉ yêu cầu các đồng chí đừng bắt tôi phải sống một thời gian quá dài mà không sinh hoạt gì cả và ở bên ngoài đảng”. (HCM Biên niên tiểu sử, Hà Nội,1992, tập 2, trang 60).

Bà Vasiliéva chuyển thư này lên Dimitrov với một tờ trình, đề nghị cho ông NTT được diện kiến trước khi rời khỏi Mạc Tư Khoa. Trong một ghi chú ngắn bên lề của tờ trình, bà Vasiliéva lưu ý rằng ông NTT bất hòa với giới lãnh đạo của ĐCSĐD (Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Nọn, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần…) mà hiện nay mối bất hòa đó vẫn còn (hslt/MTK). Dimitrov quyết định cho Nguyễn Ái Kvak về Trung Hoa, phục vụ trong quân đội của Mao Trạch Đông.

Kế hoạch Hoa quân nhập Việt

Giống như thành phố Quảng Châu của tỉnh Quảng Đông, thành phố Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam của nước Trung Hoa cũng có duyên nợ với lịch sử cách mạng Việt Nam. Nơi đây xuất phát một phong trào giải phóng cho dân tộc Việt Nam khi chiến tranh Thế chiến lần thứ 2 mới bắt đầu vào các năm 1939-1940.

Tỉnh Vân Nam của Trung Hoa giáp giới với tỉnh Lào Cay của Việt Nam. Dân chúng Côn Minh muốn thông thương với Việt Nam thì đi tàu thủy xuôi theo sông Hồng hoặc theo tuyến đường sắt chạy dọc theo Sông Hồng đến Hà Nội, tuyến đường sắt này do người Pháp thiết lập và khai thác. Côn Minh cũng là nơi thông thương với Miến Điện và Thái Lan.

Vì vậy vào năm 1944, sau khi quân Anh chiếm lại Miến Điện thì họ nghĩ tới chuyện tiến quân bằng đường bộ đến Vân Nam và từ đây tiến thẳng ra Hồng Kông. Đồng thời quân đội Hoa Kỳ cũng tính chuyện đưa quân từ Miến Điện đến Côn Minh rồi từ đây tiến vào Đông Dương tấn công quân Nhật để giải phóng Đông Dương.

Quân đội Hoa Kỳ đặt tại Côn Minh một Không đoàn Không quân và một bộ chỉ huy tiền phương do tướng Chenault làm tư lệnh. Về phía Trung Hoa, Tướng Trương Phát Khuê của chính phủ Tưởng giới Thạch được lệnh phối hợp với quân đội của Anh, Hoa Kỳ để tổ chức một đội quân tiền thám gồm người Việt Nam và Lào để hoạt động mở đường cho đoàn quân Đồng Minh sau này.

Ngay từ khi quân Nhật tiến vào Đông Dương vào năm 1940, Tư lệnh đệ Tứ Quân Khu của Quốc dân Đảng Trung Hoa là Tướng Trương Phát Khuê đã đến gặp một người bạn Việt Nam cùng học một khóa sĩ quan với ông là cựu Đại Tá Trương Bội Công đang sinh sống tại Quảng Châu. Tướng Khuê nhờ ông Trương Bội Công trở lại quân đội với cấp bậc thiếu tướng để tuyển mộ người Việt Nam và Lào sinh sống tại vùng biên giới tiếp giáp với Trung Hoa, thành lập một trường huấn luyện biệt kích quân, chuẩn bị tung về hoạt động thám báo tại Đông Dương.

Ngoài ra Tướng Trương Phát Khuê cũng nhờ ông Trương Bội Công thành lập một tổ chức chính trị cho nước Việt Nam, chuẩn bị theo quân Đồng Minh tiến vào Hà Nội tiếp thu chính quyền. Kế hoạch dự trù quân đội Trung Hoa sẽ tiến vào Việt Nam được gọi ngắn gọn là “Kế Hoạch Hoa Quân Nhập Việt”.

Ông Trương Bội Công vội vàng thông báo cho các nhà ái quốc Việt Nam đang sống lưu vong trên đất Hoa Nam được biết để cùng nhau chuẩn bị cho đại sự của Quốc gia. Trong số những người được thông báo, có ông Hồ Học Lãm là một nhà cách mạng Việt Nam thời phong trào Đông Du, cũng là một nhà cách mạng của Quốc Dân Đảng Trung Hoa và cũng là một sĩ quan cao cấp trong quân đội của Tưởng Giới Thạch.

Nguyễn Tất Thành trở lại Trung Hoa lần thứ 3

Năm 1938, Mùa thu, sau 4 năm bị kỷ luật, Nguyễn Ái Kvak rời Nga với tên mới là Hồ Quang, đến Tây An vào tháng 11. Sau đó đến Quế Lâm vào tháng 2 năm 1939 và chuyển về Hành Dương tỉnh Hồ Nam. Ông phục vụ trong Đệ Bát lộ quân của Mao Trạch Đông, giữ chức sĩ quan tâm lý chiến, lo việc vệ sinh dịch bệnh, sinh hoạt văn nghệ, viết truyền đơn, biểu ngữ và viết bài trong tờ báo của đơn vị.

Lợi dụng công việc viết báo, ông gởi bài về cho tờ Đời Nay của Trần Huy Liệu tại Hà Nội, ký tên là Lin, ông hy vọng người ta nhận ra ông nhưng những người ở Hà Nội lại nghĩ rằng ông là một cán bộ của ĐCS Trung Quốc vì tinh thần các bài viết dùng cho quân đội Trung Cọng.

Năm 1938, cuối năm, ông Phạm Văn Đồng dẫn ông Võ Nguyên Giáp sang Côn Minh, tính gởi ông Giáp theo học trường võ bị Côn Minh nhưng lúc này trường đã dời đi vì chiến tranh Hoa-Nhật. Hai ông nghe tin ông NTT xuất hiện tại Hoa Nam nhưng tìm gặp không được nên cả hai trở lại Việt Nam ( Hồi ký Võ Nguyên Giáp ).

*Chú giải : Phạm Văn Đồng sinh năm 1908 tại tổng Lai Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, cha của ông làm quan trong triều đình Huế. Ông theo học trường Bưởi tại Hà Nội, tham gia VNTNCMĐCH. Cuối năm 1926 ông được Lê Duy Điếm dẫn qua Quảng Châu theo học khóa huấn luyện tuyên truyền của Lý Thụy ( NTT ), tuy nhiên vì bị bệnh ông phải nán lại tham dự khóa huấn luyện đầu năm 1927. Tại khóa này ông được làm quen với Tôn Đức Thắng, Lê Văn Phát, Phan Trọng Quảng và Hoàng Văn Hoan.

Trở lại Việt Nam, sau hai lần thi hỏng Tú tài I, ông vào Chợ Lớn dạy học một thời gian, tại đây ông gặp Phan Trọng Quảng là người cùng tham dự khóa huấn luyện tuyên truyền tại Trung Hoa. Quảng dẫn ông về Sa Đéc gặp Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ của VNTNCMĐCH là Châu Văn Liêm; sau đó ông ở lại Sa Đéc, dạy học cùng trường với Châu Văn Liêm, Hà Huy Giáp và Nguyễn Kim Cương. Giáp và Cương là ủy viên của Xứ ủy Nam Kỳ. Từ đó ông tham gia vào Ban chấp hành Xứ ủy Nam Kỳ và cưới em gái của Nguyễn Kim Cương.

Tháng 5 năm 1929 Phạm Văn Đồng cùng Châu Văn Liêm, Phan Trọng Quảng sang Hồng Kông dự đại hội của VNTNCMĐCH tại nhà riêng của Lâm Đức Thụ. Đại hội bất thành, các ông trở về Sài Gòn. Tuy nhiên vừa về tới Sài Gòn thì ông Đồng bị bắt ngay khi đến gỏ cửa nhà của Lê Văn Phát. Hai ông Liêm và Quảng nhờ đi sau nên thoát được và chạy trở lại Hồng Kông.

Sau đó Phạm Văn Đồng cùng Tôn Đức Thắng, Nguyễn Kim Cương, Nguyễn Duy Trinh ra tòa vì tội tham gia hội kín và có liên can trong vụ giết người. Phạm Văn Đồng cũng như Nguyễn Kim Cương bị kêu án 10 năm và đày đi Côn Đảo.

Riêng Nguyễn Duy Trinh thì chỉ bị án 18 tháng, nhưng mãn án trở về lại bị bắt tại Ban Mê Thuột vào năm 1933 vì tội “tham gia hội kín”, lại bị ra Côn Đảo lần thứ hai với mức án 5 năm. ( Nguyễn Duy Trinh là em ruột của Nguyễn Thị Minh Khai, sinh năm 1912, thua Minh Khai 2 tuổi, cũng là cựu đảng viên Tân Việt ).

Năm 1936, Mặt trận Bình Dân lên nắm chính quyền tại Pháp, 252 tù chính trị tại Côn Đảo có mức án dưới 5 năm được tha. Ông Đồng, ông Cương bị án 10 năm nhưng chỉ còn 3 năm thụ án nên cũng được tha cùng một lượt với Nguyễn Duy Trinh. Trong thời gian 3 ông ở trong tù thì ở ngoài Châu Văn Liêm và Phan Trọng Quảng, Hà Huy Giáp, Nguyễn Thị Thập đã chuyển VNTNCM thành An Nam Cọng sản Đảng , rồi sau đó sát nhập vào Đảng Cọng sản Đông Dương của Trần Phú.

Có người cho rằng PVĐ được kết nạp vào ĐCSĐD lúc còn trong tù Côn Đảo, nhưng hồi ký của những nhân vật Cọng sản hoạt động tại Hà Nội thời 1936-1940 cho thấy ông Đồng và ông Nguyễn Kim Cương không tham gia sinh hoạt trong các chi bộ của ĐCSVN mặc dầu ông đang làm báo tại Hà Nội và có lần viết báo cho Đặng Xuân Khu.

Do vì có sự mù mờ về ngày tháng gia nhập Đảng của ông Đồng cho nên hồi ký của Vũ Thư Hiên đã ghi lại rằng: “Ông Đặng Xuân Thiều, anh em con chú con bác với nguyên tổng bí thư Trường Chinh, không rõ từ đâu lại biết được câu chuyện hy hữu trong lịch sử nước ta, rằng do sự trớ trêu của số phận vị thủ tướng thâm niên cao nhất thế giới lại…chưa từng vào đảng Cọng sản bao giờ” ( Đêm Giữa Ban Ngày, trang 162 ).

Sau khi ra tù năm 1936, ông Đồng bị quản thúc tại Quảng Ngãi. Hai người bạn chung án cùng được tha là Nguyễn Duy Trinh bị quản thúc tại Ban Mê Thuột, và Nguyễn Kim Cương bị quản thúc tại Nghệ An. Mỗi ông bị 1 năm quản thúc. Nhưng chưa đầy 1 năm thì ông Đồng nhận được thư của ông Cương rủ ra Hà Nội viết cho tờ Notre Voix của em rễ Nguyễn Duy Trinh là Võ Nguyên Giáp.

Tờ Notre Voix do một nhóm trí thức Hà Nội thành lập, đa số là giáo sư dạy học tại trường Thăng Long Hà Nội. Lúc này Võ Nguyên Giáp chưa gia nhập ĐCS, ông ta chỉ là một cựu đảng viên của Tân Việt Cách mạng Đảng và đã từng bị 1 năm tù vì biểu tình chống đối Pháp xử án Nguyễn Thái Học. Vợ của Võ Nguyên Giáp là Nguyễn Thị Quang Thái cùng với anh trai là Nguyễn Duy Trinh và chị gái là Nguyễn Thị Minh Khai cũng là những người có gốc từ Tân Việt Cách mạng Đảng.

Tờ tuần báo Notre Voix ra đời được 2 tháng thì đóng cửa do lủng củng tài chánh. Thấy ông Đồng và ông Cương thất nghiệp, ông Giáp nhờ thầy dạy học của mình là ông Đặng Thái Mai giới thiệu hai ông qua viết cho tờ Le Travaile của Đặng Xuân Khu. Lúc đó Đặng Thái Mai đang làm việc cho tờ Le Travaile.

Ông Mai là cựu sáng lập viên của Tân Việt Cách Mạng Đảng và cũng là người giới thiệu Võ Nguyên Giáp vào Tân Việt. Nhưng khi ông Đồng và ông Cương bắt đầu cọng tác với tờ Le Travaile vào đầu tháng 4-1937 thì đến ngày 19-4-1937 tờ báo phải giải tán vì Staline phát động chiến dịch thanh toán những người Cọng sản Đệ Tứ trong khi tờ Le Travaile là tờ báo liên minh giữa CSQT 3 và CSQT 4.

Không ai ngờ là cuộc gặp mặt ngắn ngủi giữa 3 nhà báo Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và Đặng Xuân Khu vào đầu năm 1937 là mở màn cho một khúc quanh quan trọng của lịch sử Việt Nam.

Năm 1939, ngày 22-6, tại Sài Gòn, Lê Hồng Phong bị bắt vì tội sài căn cước giả, ông bị tuyên án 6 tháng tù. Cuối năm ông ra khỏi tù, gặp lại vợ là Nguyễn Thị Minh Khai và đứa con đầu lòng của hai người là Lê Thị Hồng Minh.

Năm 1939, tháng 9, Hồ Quang ( Nguyễn Tất Thành ) phục vụ trong trường huấn luyện kháng chiến quân của Mao Trạch Đông tại Hành Dương, tỉnh Hồ Nam. Ông cũng giữ nhiệm vụ sĩ quan tâm lý chiến nhưng đặc trách về đài phát thanh cho quân đội. Ông nghe đài ngoại quốc và dịch các tin tức sang tiếng Hoa để phát thanh. Ông tìm cách liên lạc với kiều bào Việt Nam ( Tự truyện của Hồ Chí Minh với tên T.Lan trong tác phẩm “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện” ).

Năm 1939, Nguyễn Ái Kvak liên tục báo cáo về Mạc Tư Khoa rằng mình vẫn thường xuyên liên lạc với CSVN. Ông cũng thường xuyên phân tích tình hình Đông Dương trong các báo cáo gởi về Mạc Tư Khoa với hy vọng người ta sẽ chuyển ông về Việt Nam thay vì làm việc cho Mao Trạch Đông. Ông trích dẫn những bài báo của tờ Notre Voix của Võ Nguyên Giáp và tờ Đời Nay của Trần Huy Liệu. Vào tháng 7 ông báo cáo rằng ông đã liên lạc được với ĐCSĐD và đã gởi các chỉ thị của CSQT cho ĐCSĐD qua một người bạn và vị chủ nhiệm của tờ Notre Voix.

BÙI ANH TRINH

Diễn Đàn Facebook
Advertisements

Bùi Anh Trinh - BIÊN KHẢO VỀ NGUYỄN TẤT THÀNH