Thế chiến thứ 2 bùng nổ, Stalin trở mặt liên minh với Đức và Nhật

Năm 1939, tháng 2, tình hình thế giới căng thẳng; chiến tranh là chuyện không tránh khỏi.  Nước Đức toan tính cùng với nước Ý thống trị Châu Âu, trong khi đó nước Nhật cũng toan tính thống trị Châu Á.

Để chuẩn bị cho chiến tranh tại Châu Á, tháng 2 năm 1939 người Nhật đưa một nhà cách mạng Việt Nam đang lưu vong tại Nhật là Hoàng thân Cường Để sang Thượng Hải để thành lập lực lượng chính trị trong giới Việt kiều lưu vong để dọn đường theo quân Nhật về nước.  Sau đó Cường Để sang Đài Loan lập một đài phát thanh tiếng Việt phát về Việt Nam.

Lúc này tại Sải Gòn có ba tổ chức Cọng sản hoạt động rất mạnh :

(1)  Nhóm đảng viên Đảng Cọng sản Pháp tại Sài Gòn thuộc hệ phái CSQT 3 ( Leninist ), do Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Trần Văn Giàu… lãnh đạo.  Nhóm này chủ trương liên minh với Pháp để chuẩn bị cùng nhau chống Nhật ( Chủ trương của ĐCS Pháp và của Stalin ).

(2) Nhóm CSQT 4 ( Trostkist ), do Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường… lãnh đạo;  chủ trương chuẩn bị chờ Nhật hạ Pháp thì khởi nghĩa nắm chính quyền.

(3)  Đảng Cọng sản Đông Dương ( CSQT 3 ) do Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu… lãnh đạo;  chủ trương chống chống Nhật nhưng không liên minh với Pháp.  Lúc này  Lê Hồng Phong đang bị ở tù 6 tháng tại Chí Hòa vì tội sài căn cước giả.

Trước đó Lê Hồng Phong ( Ủy viên Trung ương CSQT ) chỉ thị cho Hà Huy Tập ( Quyền Tổng bí thư ĐCSĐD ) phải hợp tác với  chính quyền Pháp và nhóm ĐCS Pháp tại Sài Gòn nhưng Hà Huy Tập dứt khoát không nghe.  Lê Hồng Phong họp Trung ương ĐCSĐD cách chức Hà Huy Tập, đưa Nguyễn Văn Cừ lên làm Tổng bí thư, Hà Huy Tập về Hà Tĩnh.

Năm 1939, ngày 23-8, Stalin bất thần trở mặt, ký hiệp ước bất tương xâm với Đức;  Hiệp ước do Ribentrop của Đức ký với Molotov của Nga tại Mạc Tư Khoa.  Hitler sẽ chia cho Stalin một phần đất của nước Pháp.  Do đó ngày 1-9-1939 quân Đức tiến chiếm tỉnh Pologne của Pháp thì ngày 17-9-1939 quân Nga tiến chiếm phía Đông của Pologne.

Cuối năm 1939 Lê Hồng Phong ra khỏi trại giam, kêu Hà Huy Tập vào Nam. Tập giao Xứ ủy Trung Kỳ cho Tôn Quang Phiệt và Nguyễn Khoa Văn, hai ông này đều là cựu tù Côn sơn, bị bắt vì theo Tân Việt Cách Mạng Đảng. *( Hà Huy Tập về nước cuối năm 1936, rủ các ông cựu đảng viên Tân Việt gia nhập ĐCSĐD;  gồm có các ông Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Khoa Văn, Lê Duẩn, Hà Huy Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Thị Quang Thái, Đào Duy Kỳ, Đào Duy Dếnh…Cũng có rủ Đào Duy Anh và Đặng Thái Mai nhưng hai ông này từ chối ).

Năm 1939, ngày 1-9, Hitler xua quân tấn công Ba Lan, Thế chiến thứ 2 bùng nổ.  Ngày 3-9, nước Anh và nước Pháp tuyên chiến với Đức.  Tháng 10, Stalin và Hitler ký thêm hiệp ước cùng nhau chia đôi lãnh thổ Ba Lan.

Sau đó Stalin xúc tiến việc ký một hiệp ước bất tương xâm với Nhật khiến cho Tưởng Giới Thạch phải quay sang vừa chống Nhật vừa chống quân Cọng sản của Mao Trạch Đông.

Năm 1939, ngày 17-9, quân của Stalin theo chân quân Hitler tiến chiếm phía Đông tỉnh Pologne của nước Pháp.  Chính quyền Paris ra lệnh đặt Cọng sản ra ngoài vòng pháp luật.  Tại Đông Dương, thực dân Pháp nghe tin Stalin phản bội liền cho bắt hết những tay Cọng sản Đệ Tam cũng như Đệ Tứ.

Cựu chủ nhiệm Báo Le Travaile Đặng Xuân Khu (tức là Trường Chinh sau này) được một cán bộ Cọng sản nằm vùng tại Hà Nội là Vũ Đình Huỳnh giúp trốn lên Phúc Yên.  Và Hạ Bá Cang (tức Hoàng Quốc Việt sau này)  cũng được Huỳnh giúp trốn về Phủ Lý.  Sau khi Đặng Xuân Khu và Hạ Bá Cang đi thoát thì Vũ Đình Huỳnh bị bắt.

*Chú giải : Đặng Xuân Khu là người làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.  Năm 1926, 19 tuổi, bị đuổi học tại trường Tiểu học Nam Định vì tham dự biểu tình trong dịp đám tang Phan Chu Trinh.

Năm 1927 cùng Nguyễn Đức Cảnh tiếp tục sự học tại trường Bưởi Hà Nội.  Năm 1929 theo học trường Cao đẳng Thương Mại Hà Nội.  Năm 1930 theo Nguyễn Đức Cảnh gia nhập Đông Dương Cọng sản Đảng của Ngô Gia Tự.  Bị bắt cuối năm 1930 trong biến cố Sô Việt Nghệ Tĩnh.  Được thả năm 1936 trong dịp Mặt trận Bình Dân cầm quyền tại Pháp.

Trong thời gian 6 năm trong nhà tù Sơn La, Đặng Xuân Khu kết thân với một người cùng làng Hành Thiện tỉnh Nam Định, đó là ông Nguyễn Thế Rục là 1 trong 5 người của chi bộ Cọng sản Việt Nam đầu tiên được CSQT thành lập tại Mạc Tư Khoa. Bốn người kia là Trần Phú, Ngô Đức Trì, Bùi Lâm, Bùi Công Trừng.

Khi mới bị bắt vào tù Đặng Xuân Khu cũng chưa rành về học thuyết Cọng sản, nhưng ông đã được học hỏi nhiều nơi Nguyễn Thế Rục.  Năm 1936 cả hai ông được thả nhờ ảnh hưởng của Mặt trận Bình Dân bên Pháp, cùng nhau về Hà Nội tiếp tục hoạt động chính trị với nghề làm báo, các ông đã liên minh với nhóm Đệ Tứ Quốc tế tại Hà Nội để lập ra tờ tuần báo Le Travaile rất nổi tiếng.

Đáng tiếc là đến năm 1938 thì Nguyễn Thế Rục chết vì bệnh lao, công việc điều hành tổ chức CSVN được giao cho Bùi Công Trừng.  Tuy nhiên Trừng mới từ Côn Đảo ra Hà Nội nên chưa nắm vững tình hình, mọi công tác tuyên truyền tạm thời do Đặng Xuân Khu cáng đáng.

Năm 1940, ngày 17-1, sau khi Stalin đưa quân chiếm tỉnh Pologne của nước Pháp, chính quyền Pháp tại Đông Dương quyết định bắt hết các tay Cọng sản trên toàn Đông Dương.  Ngày 17-1, tại Sài Gòn, Tổng bí thư ĐCSĐD là Nguyễn Văn Cừ bị bắt cùng với Võ Đình Hiệu, Lê Duẫn, Vũ Thiên Tân.

Ngày 6-2, Lê Hồng Phong bị bắt ở Phan Thiết.  Ngoài ra nhóm Cọng sản Đệ Tam thuộc ĐCS Pháp là Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Sô cũng bị bắt tại Sài Gòn.  Đến tháng 8-1940 thì Nguyễn Khoa Văn bị bắt tại Huế.

Năm 1940, chính quyền thực dân Pháp lập phiên tòa xử án các chính trị gia về tội lập hội kín, phá rối trị an:  Các ông Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Phạm Ngọc Cư, Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Sô, mỗi người 5 năm tù ở và 10 năm biệt xứ ( Biệt xứ nghĩa là không được trở lại nơi từng sinh sống trước khi bị bắt ).  Các ông Võ Công Tồn, Hồ Hữu Tường, Trần Văn Thạch, mỗi ông bị 4 năm tù, 5 năm biệt xứ.  Các ông Nguyễn Văn Sâm, Trương Lập Tạo, mỗi ông bị 3 năm tù, 5 năm biệt xứ.

Năm 1940, ngày 1-5, Hà Huy Tập bị bắt tại Hà Tĩnh, bị tuyên án 5 năm tù vì tội hoạt động chống Pháp.

Nhóm khởi thủy của Việt Minh Hội

Năm 1940, tháng 5, một người trong nhóm Thiết Huyết tại Côn Minh là Bùi Đức Minh về Hà Nội thăm dò tình hình nhưng gặp lúc người Pháp đang tổng truy nã các chính trị gia từng can án, trong số đó có hai nhà báo là Phạm Văn ĐồngVõ Nguyên Giáp, ông Minh vội dẫn hai ông chạy trở về Côn Minh.

Tại thành phố Côn Minh các ông gặp Hoàng Văn Hoan từ Thái Lan lưu lạc sang từ năm 1935.  Ông Hoan và ông Đồng quen biết nhau vì cùng học một khóa huấn luyện tuyên truyền của Lý Thụy vào năm 1927.  Sau đó Hoan giới thiệu Đồng và Giáp cho Vũ Anh, Phùng Chí Kiên và Cao Hồng Lãnh.

*Chú giải : Hoàng Văn Hoan sinh năm 1905 tại Nghệ An.  Năm 1926 tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội tại Trung Kỳ, được đưa đi học khóa huấn luyện tuyên truyền do Lý Thụy ( NTT ) tổ chức tại Quảng Châu.  Tuy khóa học có 2 tháng nhưng nhờ dịp này ông làm quen được với bạn cùng theo học là Tôn Đức Thắng và Phạm Văn Đồng, cũng là đảng viên Việt Nam thanh niên cách mạng Đồng chí hội.

Năm 1928 Hoàng Văn Hoan lưu lạc sang Thái Lan và sống trong cộng đồng người Việt.  Tại đây vô tình ông gặp lại người thầy dạy chính trị là NTT.  Lúc này NTT vừa mới từ Châu Âu về nằm chờ thời tại Thái Lan.

Nhưng đến năm 1930, Chính phủ Thái Lan ký hiệp ước với Toàn quyền Pháp tại Đông Dương, cho truy bắt các nhà hoạt động cách mạng Việt Nam thì NTT biến mất.  Hoàng Văn Hoan không ngờ là NTT đã di cư tị nạn tại Hồng Kông và rồi bị bắt vì tội hoạt động gián điệp cho CSQT.

Năm 1935 Hoàng Văn Hoan cùng với một người bạn là Đặng Văn Cáp từ Thái Lan lưu lạc sang Trung Hoa, gặp được người đồng hương Nghệ An là ông Hồ Học Lãm. Hai ông theo Hồ Học Lãm tham gia thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội. Sau đó Hoàng Văn Hoan cùng Đặng Văn Cáp về sinh sống tại thành phố Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam là tỉnh giáp giới với tỉnh Lào Cay của Việt Nam. Tại Côn Minh Hoàng Văn Hoan làm quen được với một người làm tài xế cho hãng dầu cù là Vĩnh An Đường, người tài xế tên Vũ Anh , bí danh là Trịnh Đông Hải.

Vũ Anh được Lê Hồng Phong kết nạp vào ĐCSĐD năm 1933 và giao cho nhiệm vụ lập cơ sở tại Vân Nam, bắt liên lạc với trong nước.  Tuy nhiên sau đó Lê Hồng Phong trở lại Ma Cao hoạt động với Hà Huy Tập rồi về Việt Nam và bị bắt nên Vũ Anh hoạt động độc lập.

Trong khi hoạt động Vũ Anh có liên lạc với nhóm Thiết Huyết là một nhóm cán bộ Việt Nam Quốc dân Đảng ly khai khỏi đảng của Vũ Hồng Khanh. Vũ Anh dự trù sẽ giới thiệu nhóm này với Lê Hồng Phong nếu sau này Lê Hồng Phong trở lại Vân Nam.

Đến năm 1939 một lãnh tụ của ĐCSĐD là Phùng Chí Kiên bị chính quyền Hồng Kông truy nã nên chạy về Vân Nam gặp Vũ Anh và Hoàng Văn Hoan.

Phùng Chí Kiên là người huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An.  Năm 1926, 25 tuổi, ông cùng với một người cùng quê là Nguyễn Sơn lén sang Hoa Nam tham dự khóa huấn luyện chính trị của lãnh tụ Cọng sản Bành Bái.  Sau 2 tháng thì mãn khóa học, ông và Nguyễn Sơn được người đồng hương Đinh Tế Dân giúp theo học trường Võ bị Hoàng Phố với tên là Mạch Văn Liệu.  Năm 1929 ông tham gia cuộc nổi dậy tại vùng Sơn Đông tỉnh Quảng Châu rồi cùng với Nguyễn Sơn gia nhập Đảng Cọng sản Trung Hoa.

 Năm 1932 ông được ĐCS Trung Hoa gởi sang Mạc Tư Khoa theo học trường Stalin cùng với một người Việt Nam khác là ông Trần Văn Diệm.  Nhưng sau khi tốt nghiệp, năm 1934 ông được CSQT cử về Trung Hoa giúp Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập dựng lại ĐCSĐD bị tan nát sau biến cố Sô Viết Nghệ Tĩnh ở Việt Nam và biến cố Cục Phương Đông ở Thượng Hải trong năm 1931.

Năm 1935 ông tham dự đại hội Đảng tại Ma Cao, được bầu vào ban chấp hành trung ương Đảng.  Năm 1936 Phùng Chí Kiên theo Hà Huy Tập dời Tổng bộ ĐCSĐD về Sài Gòn nhưng sau đó ông được cử trở lại Trung Hoa để phụ trách Cục Hải ngoại của ĐCSĐD tại Hồng Kông.  Nhiệm vụ của ông là trung gian liên lạc giữa ĐCSĐD với ĐCS Trung Hoa và CSQT.

Năm 1937 Phùng Chí kiên về Việt Nam để tham dự đại hội Trung ương.  Đại hội bầu Hà Huy Tập làm Tổng bí thư lâm thời của ĐCSĐD.  Sau đại hội Phùng Chí Kiên về lại Hồng Kông.  Đến tháng 9 năm 1939 ông bị nhà cầm quyền Hồng Kông truy nã nên chạy về Vân Nam tìm gặp Vũ Anh là cơ sở cũ của Lê Hồng Phong.

Cao Hồng Lãnh là một cựu đảng viên VNTNVMĐCH tại Quảng Châu thời 1925-1927.  Năm 1936 Lãnh có theo ông Hồ Học Lãm thành lập Việt Nam Cách Mạng Đồng minh Hội nhưng hội này không hoạt động, Lãnh trở lại theo học trường võ bị của THQDĐ tại Thiểm Cam Ninh, Diên An, sau một thời gian phục vụ trong quân đội của Tưởng Giới Thạch thì bỏ ngũ, về gặp ông Hồ Học Lãm tại Quý Dương tỉnh Quý Châu, ông Lãm khuyên nên về nước hoạt động.

Ông Lãnh nghe lời về Côn Minh tìm cách về nước.  Tại đây gặp lại Hoàn Văn Hoan và Đặng Văn Cáp là các bạn trước kia ở trong Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của ông Hồ Học Lãm;  rồi được Hoan giới thiệu với Phùng Chí Kiên, Vũ Anh và nhóm Thiết Huyết.

Sau khi gặp lại nhau thì các ông nhờ ông Hồ Học Lãm tìm cách bắt liên lạc với Nguyễn Tất Thành, tức là Thiếu tá Hồ Quang, đang làm việc cho một đài phát thanh của quân đội Mao Trạch Đông ( Tự truyện của ông HCM dưới tên T.Lan ).

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - BIÊN KHẢO VỀ NGUYỄN TẤT THÀNH