Năm 1946, ngày 20-12, từ Hà Đông Hồ Chí Minh phát đi lời kêu gọi toàn quốc tiêu thổ kháng chiến:  “Bất kỳ đàn ông đàn bà, bất kỳ người già người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm dùng cuốc xuổng gậy gộc!  Mọi người đều phải hết sức chiến đấu chống thực dân xâm lược để cứu vãn tổ quốc”, “Các em quyết tử cho tổ quốc quyết sinh…”

Cũng vào sáng ngày 20, quân Pháp kiểm lại kết quả trận kháng chiến đêm 19-12:  có 43 dân sự Pháp bị chết và 200 người bị bắt đi làm con tin.  Trung tá Sainteny cũng bị thương khi xe bọc thép của ông bị quăng một trái lựu đạn.

Truyền thuyết kháng chiến chống Pháp

Hằng năm CSVN tổ chức kỷ niệm “Ngày toàn quốc kháng chiến” 19-12-1946.  Đây là bằng chứng cho thấy trước đó chưa có kháng chiến.  Do đó các truyền thuyết cho rằng ông Hồ Chí Minh kháng chiến chống Pháp từ năm 1945 chỉ là dối trá.

Khi ông Hồ Chí Minh kêu gọi kháng chiến thì 75 ngàn quân Pháp đã đổ bộ và chiếm xong toàn Việt Nam.  Họ có đầy đủ vũ khí với tàu thủy, xe tăng và máy bay. Lúc đó quân đội Pháp do tướng Valluy chỉ huy, đặt bản doanh tại Sài Gòn. Riêng tại Bắc Kỳ thì quân Pháp do tướng Morlière chỉ huy 13.000 quân và đang chờ đợi 10.000 quân tăng viện từ Pháp sẽ đến vào tháng 1- 1947.

Trong khi đó thì lực lượng của Hồ Chí Minh là Trung đoàn Thủ Đô, có chưa tới 1 ngàn khẩu súng, nhưng là súng mua lại của quân đội Lư Hán, không có đạn.  Một khẩu súng phải có 3,4 người thay phiên nhau sử dụng chứ không thể nào có đủ mỗi người một khẩu.  Và khi súng nổ thì nhiều khi cơ bẩm súng văng đi mất.

Khi Trung đoàn Thủ Đô của Võ Nguyên Giáp bảo vệ Hồ Chí Minh chạy lên Hà Đông thì giao cho khoảng 8.000 “Tự vệ thành” tức là các thiếu  niên vũ trang bằng dao, gậy, với một ít lựu đạn cố cầm chân quân Pháp để Ủy ban Kháng chiến trung ương có đủ thời giờ di tản.  Ngoài ra tại thành phố Nam Định thì cũng giao cho 6.000 thiếu niên Tự vệ thành cầm chân quân Pháp .

Sau này rất nhiều truyện ký và hồi ức của những thiếu niên Tự vệ thành kể lại tình cảnh dở khóc dở cười của họ lúc đó.   Một số bị chết, một số đuổi theo Ủy ban Kháng chiến, còn đa số bị kẹt ở lại, sau này họ gia nhập Quân đội Quốc gia chống lại Cọng sản.

Trong khi đó bác Hồ miệng hô “Các em quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” nhưng chân thì chạy vắt giò lên cổ chứ chẳng hề quyết tử… (sic).  Bác vừa chạy vừa ra lệnh : “có súng dùng súng, có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc dùng gậy”.  Đây chỉ là một tiếng kêu la trong lúc bị đánh đuổi bất ngờ chứ không hề có kế hoạch hay có tổ chức.

So sánh với người xưa :  So sánh với lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Vua Hàm Nghi vào tháng 7 năm 1885 thì nhà vua đã có kế hoạch và có tổ chức :  Trước đó Tôn Thất Thuyết đã cho lập chiến khu Tân Sở trong rừng Quảng trị, chuẩn bị sẵn lương thực, tiền bạc và những đường giao liên thông với các chiến khu khác từ Quảng Trị ra tới Thanh Hóa.  Mặc dầu cuộc kháng chiến của Vua Hàm Nghi không thành công tuy nhiên lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của ông là một lời kêu gọi nghiêm túc, có suy nghĩ.  Hịch Cần vương không hề kêu gọi nhân dân thí mạng với quân Pháp mà phải có tổ chức để đi đến thành công :

“Trẫm tài hèn đức mỏng, gặp biến cố không thể đối phó được để thành bị bức, xa giá Tam cung phải rời xa, tội ở mình Trẫm cả.  Thật là xấu hổ vô cùng.  Nhưng chỉ có luân lý quan hệ với nhau, các quan khanh sĩ không kể lớn nhỏ, tất không bỏ Trẩm.  Kẻ trí hiến mưu, người dũng hiến sức, ai giàu có bỏ của ra giúp, đồng bào, đồng chủng chớ nề nguy hiểm mới phải. 

Cứu nguy chống đở, mở chỗ truân chuyên, giúp nơi kiển bách đều không thể tiếc tâm lực, ngõ hầu chuyển loạn thành trị, nguy ra yên, thu lại giang sơn bờ cõi, ấy là cơ hội này, phúc của tôn xã là phúc của thần dân, cùng lo với nhau, cùng nghĩ với nhau, há chẳng tốt lắm ru?”.

Trước tiên Vua Hàm Nghi tự nhận lỗi về phía mình, sau đó ông mới nhân danh tình đồng bào, nghĩa dân tộc mà kêu gọi người có trí giúp mưu, người có của góp của, người có sức góp sức. Cuối cùng ông hướng tới kết quả là thành công, đem lại yên bình cho xứ sở.

Trong khi đó Hồ Chí Minh nhân danh là một người sáng suốt hơn toàn dân, tài giỏi hơn toàn dân để ra lệnh cho mọi người thí mạng với quân Pháp mà chẳng cần biết việc thí mạng này đi tới đâu.  Đặc biệt là ông ra lệnh toàn dân thí mạng trong khi ông và băng đảng của ông ta chỉ bỏ chạy chứ không hề thí mạng (sic).

Cuộc rút lui thần kỳ:  Năm 2.000, Tướng Võ Nguyên Giáp viết hồi ký kể lại giai đoạn bị Pháp hất cẳng và đuổi chạy khỏi Hà Nội : “Quân và dân ta cầm chân quân địch ở khắp nơi.  Đặc biệt tại thủ đô Hà Nội, ta chiến đấu với 6.500 quân viễn chinh Pháp suốt hai tháng, gấp đôi thời gian dự định.  Trung đoàn Thủ Đô được thành lập ngay giữa vòng vây, gồm những chiến sĩ quyết tử, tiến hành một cuộc rút lui thần kỳ trước mũi súng của quân thù” (Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử, in lần 2, trang 427).

Trung đoàn Thủ đô của Tướng Giáp đã chiến đấu với 6.500 quân Pháp suốt hai tháng.  Trận chiến đấu này mới đáng gọi là thần kỳ vì chỉ có 1 trung đoàn khoảng 2.500 người với vũ khí thô sơ mà đánh nhau với 6.500 quân tinh nhuệ của Pháp trong hai tháng trời.  Thần kỳ là ở chỗ đánh nhau khốc liệt suốt 2 tháng mà không có ai chết cả;  bên Pháp không chết một quân, bên Võ Nguyên Giáp cũng không mất một người, quả là một trận chiến thần kỳ.

Còn chuyện rút lui khỏi thủ đô mà cả trung đoàn không chết một người thì không có gì là thần kỳ cả.  Điều đó có nghĩa là nửa đêm cha con nhà anh lén bỏ chạy trước dân, vậy thì đâu có gì là thần kỳ?  Tuy nhiên cuộc rút lui lại trở thành tội ác vì có quá nhiều người chết, đó là các em thiếu niên tự vệ thành đã ở lại để làm vật cản đường cho quân của Tướng Giáp rút chạy.

Cái chết oan uổng của các em sẽ mãi mãi đè nặng lên lương tâm của người làm Tướng.  Câu kêu gọi “Các em quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” đã có một ý nghĩa chua xót là “Các em quyết tử cho Bác và Đảng được sinh”.  Lẽ ra theo đạo lý của dân tộc Việt thì Bác và Đảng phải quyết tử cho các em được sinh nhưng đàng này các ông đã làm ngược lại.

Tiêu thổ kháng chiến:  Càng thêm đau lòng hơn nữa là trong lời kêu gọi kháng chiến thì các ông luôn luôn nói tới cụm từ “tiêu thổ kháng chiến”.  Không biết “Tiêu Thổ Kháng Chiến” nghĩa là gì nhưng các cán bộ Cọng sản tại địa phương giải thích là đốt hết nhà cửa và chạy lên rừng, để cho quân Pháp đến nơi thì không có nhà ở và không có thức ăn ắt chúng phải đi chỗ khác.  Thế là có những thành phố như thành phố Tuy Hòa biến thành tro bụi, Thành phố Hà Đông bị san thành bình địa và thành phố Vinh chỉ còn viên gạch này chồng lên viên gạch kia.  Ngoài ra thì khắp nơi chỗ nào cũng có đốt nhà để gồng gánh dắt nhau lên rừng.

Có rất nhiều nhà báo cho rằng người ta đã hiểu lầm lời kêu gọi kháng chiến của ông Hồ Chí Minh mà đốt nhà, chứ không thể nào có một cái lệnh đốt nhà điên khùng như thế.  Nhưng một năm sau, chính ông Hồ Chí Minh viết sách Cuộc Đời Hoạt Động Cách Mạng Của Bác Hồ, trong đó ông cho biết nguyên do vì đâu có lệnh Tiêu thổ kháng chiến:

“Hy sinh thành phố lớn của mình, thực hiện chiến thuật tiêu thổ, nhân dân Mạc-Tư-Khoa đã quyết tâm hy sinh tất cả, tự tay đốt cháy thành phố, lửa đã đuổi Napôlêông; rét, đói và du kích đã tiêu diệt đại quân của Napôlêông”.

Hóa ra là ông học cách của dân Nga.  Tuy nhiên dân Nga làm như vậy vì quân của Pháp phải hành quân cách xa nơi tiếp tế của mình hơn 3.500 cây số, bằng đường bộ và trong thời tiết đông giá, bắt buộc đội quân viễn chinh của Napoleon phải tìm tiếp liệu ngay tại địa phương mà họ chiếm đóng.  Nhưng nếu tại đại phương không có dân chúng thì dĩ nhiên quân viễn chinh phải rút lui về phía sau để tìm cái ăn.

Còn trong trường hợp của ông HCM thì một khi quân Pháp bị đói thì ắt hẳn lúc đó dân chúng Việt Nam đã chết đói hết rồi.  Chứ nếu như chỉ còn một hạt gạo cuối cùng, thì quân Pháp sẽ là người ăn hạt gạo cuối cùng đó. Người ta kết tội ông HCM đã ra một cái lệnh “ngu xuẩn”, quả là không oan.

Tuy nhiên lấy công tâm mà xét thì có lẽ ông Hồ Chí Minh không phải là tác giả của lệnh Tiêu Thổ Kháng Chiến.  Mà là nhà thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp.  Ngay từ thời còn đi dạy học ông Giáp đã nổi tiếng là một thiên tài quân sự với trí nhớ tuyệt vời đã nhớ từng trận đánh của Napoléon với bao nhiêu tiểu đoàn và bao nhiêu súng đại bác.

Vậy thì ắt hẳn ông Giáp phải thuộc nằm lòng vì sao Napoléon bị thua tại Mạc Tư Khoa.  Và rồi có thể ý kiến của ông Giáp đã tác động đến ông Hồ Chí Minh và các ông trong Trung ương ĐCSVN khiến cho các ông quyết định ra lệnh “tiêu thổ”.

BÙI ANH TRINH

*Chú thích của người viết :

 Đầu năm 2015 ông Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng hô hào “Học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh”.  Nghĩa là ông HCM đã chết nhưng tư tưởng của ông ta còn sống.  Hoặc nói một cách văn hoa là ông ta chết nhưng mà chưa chôn.  Vậy nên người đào bới lịch sử có nhiệm vụ phải mai táng ông HCM cho kỹ càng để môi trường lịch sử Việt Nam được trong sạch.

Trong bài viết trên đây có 6 tấm gương đạo đức của ông HCM mà người Việt không nên học tập :

(1). HCM kêu gọi mọi đoàn thể, mọi tôn giáo đứng lên chống Pháp.  Thế nhưng sau khi ông ta được làm vua vào năm 1954 thì mọi tôn giáo, mọi đảng phái trở thành kẻ có tội với chế độ Hồ Chí Minh.( Bạc ác ).

(2). HCM ra lệnh cho toàn dân dùng cuốc xuổng gậy gộc để đánh nhau với súng đạn của quân Pháp, thế nhưng chính ông ta và băng đảng của ông ta chạy vắt giò lên cổ chứ không hề thí mạng.( Lưu manh ).

(3). HCM ra lệnh cho các em thiếu niên tự vệ : “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, nhưng ông ta và băng đảng của ông ta chờ hề quyết tử. ( Tàn nhẫn ).

(4). HCM dùng xác của thiếu niên tự vệ để chặn đường quân Pháp hầu cho ông ta kịp thời chạy thoát.  Vậy mà khi thành công thì chớ hề có một câu cảm ơn các em, trái lại còn vênh mặt ca rằng “đường vinh quang xây xác quân thù”.( Vô ơn ).

(5). Bắt chước dân Nga đốt nhà tại một xứ nhiệt đới là một điều cực kỳ ngu xuẩn.  Vậy mà cũng viết sách huênh hoang là ta bắt chước Nga.  Từ đó có thể suy ra bắt chước chế độ Xã hội chủ nghĩa của Nga là khôn hay dại. ( Ngu dốt ).

(6). Sau này HCM căn cứ vào lời kêu gọi kháng chiến ngày 20-12-1946 để huênh hoang rằng chỉ có một mình ông ta chủ trương kháng chiến và một mình ông ta chỉ huy kháng chiến.( Bịp bợm ).

Bùi Anh Trinh - BIÊN KHẢO VỀ NGUYỄN TẤT THÀNH