Nước Nam Kỳ tự trị

Năm 1946, ngày 25-5, Tại Sài Gòn, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ là luật sư Béziat gửi cho Cao Ủy Pháp một bức thư chính thức xin thành lập một chính phủ lâm thời của nước Cọng Hòa Nam Kỳ.  Ngày 27-5, Cao ủy Pháp trả lời tạm thời chấp thuận việc thành lập chính phủ đó.  Tuy nhiên cũng lưu ý rằng “Nam Kỳ là một mãnh đất thuộc di sản Quốc gia Pháp” cho nên cần phải được Quốc hội Pháp thông qua (Hsltr/Quốc gia Pháp).

*Chú giải :  Nam Kỳ là đất bị quân Pháp đánh chiếm rồi bắt vua Tự Đức phải bán cho họ vào năm 1874 với giá do họ ấn định.  Từ đó nước Việt Nam có hai nước là nước An Nam của nhà Nguyễn và nước Nam Kỳ của Pháp.  Tháng 3 năm 1945 Nhật chiếm Nam Kỳ của Pháp rồi tháng 6 năm 1945 giao lại cho Bảo Đại, nhập trở lại nước Việt Nam.  Giờ đây Pháp thành lập nước Nam Kỳ tự trị để tách ra Nam Kỳ khỏi Việt Nam như trước.

Giống như Pháp đã tách Lebanon ra khỏi nước Syria, hay như Anh đã tách Singapore ra khỏi Malaysia, hay như Hòa Lan tách Đông Timore ra khỏi Indonesia. Họ làm như vậy để dân trong nước tự chống lẫn nhau;  có như vậy thực dân mới có cớ để tiếp tục duy trì quân đội của họ tại xứ thuộc địa để “ổn định an ninh” nhưng thực chất là tiếp tục thống trị xứ thuộc địa.

Năm 1946, ngày 1-6-1946, Chính phủ “Cọng Hòa Nam Kỳ Tự trị” do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng ra mắt dân chúng trước nhà thờ Đức Bà Sài Gòn.  Ngày 8-6 biểu tình lớn tại Hà Nội phản đối việc thành lập Nam Kỳ Quốc vì như vậy là chia cắt đất nước Việt Nam thành 2 Quốc gia.

Năm 1946, ngày 14-9, Hòa đàm Fontainebleau tan vỡ chỉ vì phía Việt Nam không chấp nhận tách Nam Kỳ ra khỏi nước Việt Nam.  Phái đoàn đàm phán lên đường về nước, riêng ông Hồ Chí Minh ở lại để ngày hôm sau đến nhà riêng của Bộ trưởng bộ Thuộc địa Pháp ký một bản tạm ước chấp nhận Nam Kỳ tự trị và quân Pháp được quyền chiếm đóng Bắc Kỳ và Trung Kỳ.  Ông HCM về đến Hải Phòng ngày 21-10-1946.

Năm 1946, ngày 10-11, Thủ tướng Nam Kỳ tự trị Nguyễn Văn Thinh tự sát vì thấy rõ Pháp chỉ lừa gạt ông để âm mưu lập trở lại hai nước Việt Nam.  Ngày 15-11 Pháp đưa Bác sĩ Lê Văn Hoạch là người của Cao Đài lên làm thủ tướng Nam Kỳ Quốc.

Năm 1946, ngày 19-12.  Khoảng 20 giờ đêm quân của Võ Nguyên Giáp tấn công nhà máy điện Hà Nội và các nơi trọng yếu.  Hồ Chí Minh cùng chính phủ rút về Hà Đông, tuyên bố toàn quốc kháng chiến. Việc ngăn chận quân Pháp được giao cho 8 ngàn Thiếu niên Tự Vệ Hà Nội và 6 ngàn Thiếu niên Tự Vệ Nam Định.

Việt Nam vô chính phủ, Pháp tìm người cai trị Việt Nam

Năm 1947, ngày 14-4, sau khi đã quyết định trở mặt với Hồ Chí Minh, quân Pháp hành quân lên Hà Đông truy kích Bộ chỉ huy Việt Minh, quân Võ Nguyên Giáp chạy về Hòa Bình.  Ngày 15-4 quân Pháp đánh chiếm Hòa Bình.  Hồ Chí Minh rút về Chợ Bờ, ngày 17-4 quân Pháp chiếm Chợ Bờ.  Hồ Chí Minh rút về Tuyên Quang.

Năm 1947, ngày 19-4, Bộ trưởng Hoàng Minh Giám trong chính phủ Việt Minh đề nghị điều đình với Pháp.  Tướng Valluy chuyển tin này về Paris với ý kiến:  (1) Buộc đối phương phải giao nộp vũ khí trong vòng 15 ngày.  (2) Chấm dứt các hoạt động gây hấn, khủng bố và tuyên truyền.  (3) Trả tự do ngay cho tất cả những con tin và tù nhân chiến tranh.  (4) Giao trả cho Pháp các quân nhân Pháp đào ngũ và các tù binh Nhật.  (5) Lưu thông tự do lập tức.  (Đây là thể thức đầu hàng chứ không phải là đàm phán).

 Trong khi đó Cao ủy Bollaert lại đề nghị chỉ cần giao nạp 50% vũ khí và quân đội Pháp được tự do lưu thông trên toàn quốc trong khi quân đội của Hồ Chí Minh phải ở yên một chỗ.  Paris chấp thuận lời đề nghị của Bollaert.  Bollaert cử Paul Mus đi gặp Hồ Chí Minh.  Tuy nhiên Hồ Chí Minh từ chối vì như vậy cũng là đầu hàng .

Năm 1947, ngày 23-4 chính quyền Pháp tại Hà Nội bãi bỏ thiết quân luật, tuyên bố trở lại tình trạng bình thường.  Dân Hà Nội tản cư chạy loạn đã trở về làm ăn như cũ. Thành lập Ủy ban lâm thời Hành chánh và Xã hội, gọi là Hội đồng An dân, do bác sĩ Trương Đình Tri làm chủ tịch.

Năm 1947, ngày 3-5, Bộ trưởng Quốc Phòng Pháp là Coste Floret tuyên bố quân Pháp đã làm chủ các thành phố lớn và kiểm soát các đường giao thông lớn.  Tổng số quân Pháp tại Đông Dương là 115.000.

*Chú giải :  Tuyên bố của Floret chứng tỏ trong năm 1946 và 1947 người Pháp đã đưa thêm vào  Việt Nam 70.000 quân như kế hoạch ban đầu của De Gaule.  Năm 1945 có 30 ngàn quân Pháp tại chỗ;  sau tháng 8 năm 1945 đưa thêm 15.000 theo như Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-46; từ tháng 9 năm 1945 tới tháng 3 năm 1946 Pháp đã dùng 145 tàu biển của Pháp, Anh và Hoa Kỳ để vận chuyển đến Đông Dương 70.000 quân.

Bước sang năm 1947, với 115 ngàn tay súng thiện chiến, người Pháp không cần điều đình với ai cả.  Giờ đây công việc của họ là giải quyết làm sao với phong trào đòi độc lập đang nổi lên trên toàn thế giới, phong trào này đang được Hoa Kỳ hỗ trợ mạnh mẽ.

Người Pháp đã giải quyết xong đối với Căm Bốt và Lào, họ muốn giải quyết luôn cho Việt Nam nhưng hơi kẹt một nỗi là ông vua Việt Nam đã từng tuyên bố hủy bỏ kác hiệp ước Bảo hộ của Pháp cho nên dân chúng Pháp đang coi ông ta là một kẻ phản bội.

Năm 1947, tháng 5, trong khi chính phủ Việt Minh chạy lên vùng Trung du Bắc Việt thì quân Pháp làm chủ tình hình toàn Đông Dương.  Ngày 6-5 Căm Bốt có Hiến Pháp đầu tiên, theo chế độ Quân chủ lập hiến, có Quốc Vương và 2 Nghị viện.  Ngày 11-5 Lào có Hiến Pháp đầu tiên, theo chế độ Quân chủ Lập hiến, có quốc vương, Quốc hội dân cử và Hội đồng Hoàng gia.

Năm 1947, ngày 19-7, một số báo ở Sài Gòn phát động chiến dịch ủng hộ Bảo Đại.  Lúc này Bảo Đại đang ở Hồng Kông và Hồ Chí Minh đang ở trên rừng Việt Bắc . Ngày 12-8 biểu tình lớn ở Huế, ủng hộ cựu hoàng Bảo Đại.  Ngày 1-9 biểu tình ở Hà Nội, ủng hộ Bảo Đại.  Ngày 5-9 Bảo Đại lên tiếng sẳn sàng tiếp kiến đại diện của dân chúng.  Ngày 14-9 biểu tình ở Sài Gòn ủng hộ Bảo Đại .

Sở dĩ có các cuộc biểu tình ủng hộ Bảo Đại vì nước Việt Nam đang ở trong tình trạng vô chính phủ trong khi các nước khác tại đông Nam Á và Trung Đông đang từng ngày giành lại độc lập.  Các xứ sở đó đều tự thành lập chính phủ để bàn nhận độc lập từ tay các nước thực dân.  Riêng Dân tộc Việt Nam không thể ngồi yên  nhìn sang các nước khác tại Châu Á đều đã được độc lập.

Riêng tại Đông Dương thì vua Cam Bốt rồi vua Lào đã đứng ra nhận độc lập, vậy thì đơn giản nhất là Việt Nam kêu ông vua Bảo Đại về là xong.  Tuy nhiên đối với ông Bảo Đại thì người Pháp có nhiều khó chịu bởi vì tháng 3 năm 1945 Bảo Đại đã tuyên bố độc lập và hủy bỏ các hiệp ước được ký kết từ trước giữa Triều đình nhà Nguyễn với chính phủ Pháp, sau đó ông ta lại từ bỏ ngôi vua với câu thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ, ông ta đã trở thành một tay phản bội dưới con mắt của nhân dân Pháp.

Bảo Đại đưa ra lời kêu gọi

Năm 1947, ngày 9-9, 24 đại diện các đảng phái và đoàn thể sang Hồng Kông gặp Bảo Đại.  Sau cuộc gặp gỡ, ngày 18-9, từ Hồng Kông Bảo Đại gửi thư về cho dân chúng Việt Nam:

“..Mặc dù nền độc tài (CSVN) vẫn tìm cách bịt miệng đồng bào, ngày nay tôi đã nghe thấy tiếng gọi và tiếng kêu đau thương tuyệt vọng của đồng bào, đồng bào đã vẽ nên một bức tranh thống khổ, và kê khai bao điều bất hạnh mà dân tộc Việt Nam chúng ta phải gánh chịu, sau hai năm kinh nghiệm, mà các chủ nhân (CSVN) của đồng bào đã nắm quyền cai trị tuyệt đối gây nên.

Như vậy, dần dà niềm hy vọng và hạnh phúc của đồng bào cũng bị mất đi, dù đã được sự tuyên truyền khôn khéo, và một lý tưởng ngoại lai cám dỗ lúc ban đầu.  Trong niềm tuyệt vọng đồng bào đã chạy đến tôi.  Đồng bào kêu gọi đến uy tín và quyền hành của tôi để đem về cho đất nước bị chiến tranh tàn phá, một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, một nền hòa bình như ở các nước tự do và bình đẳng, một nền hòa bình căn bản của an ninh và trật tự. … …

Đáp ứng lời kêu gọi của đồng bào, tôi nhận sứ mạng mà đồng bào giao phó, và sẳn sàng để bắt liên lạc với nhà cầm quyền Pháp.  Với họ, tôi sẽ nghiên cứu tất cả mọi khía cạnh của những lời để nghị đối với chúng ta.

Trước hết tôi muốn đạt được độc lập thống nhất, đúng như nguyện vọng của đồng bào, đạt tới những thỏa thiệp do sự bảo đảm hỗ tương, và có thể xác nhận với đồng bào là lý tưởng mà chúng ta từng dũng cảm chiến đấu trong cuộc kháng chiến gian lao, sẽ đạt được toàn diện…”

Năm 1947, tháng 9, Thủ tướng Nam Kỳ tự trị Lê Văn Hoạch nhận được điện văn của Bảo Đại cho biết ông ta quyết định đứng ra đại diện cho nhân dân Việt Nam nhận độc lập từ tay người Pháp.  Bảo Đại yêu cầu Lê Văn Hoạch giải tán chế độ Nước Nam Kỳ tự trị vì nó chõi với tinh thần thống nhất ba kỳ của nước Việt Nam.  Nếu ông Hoạch tự tay giải tán chính phủ Nam Kỳ thì sẽ giúp Bảo Đại dễ dàng hơn trong việc thương lượng với Pháp.   Ngày 29-9, Thủ tướng nước Nam Kỳ tự trị là Bác sĩ Lê Văn Hoạch từ chức.

Năm 1947, ngày 1-10, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân được Hội Đồng Nam Kỳ bầu làm thủ tướng nước Nam Kỳ tự trị thay cho Lê Văn Hoạch.

Bốn ngày sau khi ông Xuân được bầu làm Thủ tướng Nam Kỳ, Bảo Đại gởi điện văn cho Cao ủy Pháp yêu cầu bãi bỏ Chính phủ Nam Kỳ nếu như người Pháp muốn ông đứng ra nhận độc lập.  Bởi vì ông không thể nhận một nước Việt Nam mà thiếu mất Nam Kỳ. Cao ủy Bollaert vô cùng khó xử vì quả thật người Pháp chỉ muốn trao trả độc lập cho Bảo Đại có Bắc và Trung Kỳ mà thôi.

Tuy nhiên Nguyễn Văn Xuân đã nhanh chóng giải quyết vấn đề giùm Bảo Đại bằng cách thay tên gọi chính phủ của ông là “Chính phủ lâm thời Miền Nam Việt Nam” và đổi tên gọi Nam Kỳ thành ra là Nam Phần, có nghĩa là Miền Nam Việt Nam chỉ là một phần của Nước Việt Nam gồm 3 phần là Bắc Phần, Trung Phần và Nam Phần.

Còn Chính phủ Lâm thời Miền Nam Việt Nam có nghĩa là một tổ chức hành chánh tạm thời của Miền Nam trong khi chờ đợi thành lập Chính phủ Trung ương cho cả ba Miền là Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam. Quyết định của ông Xuân làm cho Cao Ủy Pháp Bollaert bị Paris khiển trách và dân Tây thuộc địa tại Việt Nam phản đối mạnh mẽ vì Paris đâu có chủ trương như vậy.

Thủ hiến Nam Kỳ De la Tour yêu cầu Nguyễn Văn Xuân điều chỉnh lại thì ông Xuân sang Hồng Kông gặp Bảo Đại và xúi Bảo Đại gấp rút điều đình với Pháp để nhận lại độc lập và thống nhất chứ không chấp nhận độc lập mà chỉ có hai Kỳ.  Sau khi xúi Bảo Đại xong, Nguyễn Văn Xuân trở lại Sài Gòn và cứ thế mà đặt tên cho chính phủ của ông ta mặc cho De la Tour muốn nói gì thì nói.

Bảo Đại từ chối nhận độc lập mà không có Nam Kỳ

Năm 1947, ngày 6-12, Bảo Đại và Bollaert gặp nhau 2 ngày tại Vịnh Hạ Long. Theo hồi ký của Bảo Đại thì vừa mới chào nhau Bollaert đã trưng ra 2 văn kiện mà người Pháp đã soạn sẵn.  Gồm một bản tuyên bố chung, trong đó Pháp công nhận Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp và một “Bản Thể Chế” quy định về quyền hạn, quyền lợi của các thành viên trong “Liên Hiệp Pháp”.

Bảo Đại chấp nhận bản tuyên bố nhưng từ chối Bản Thể Chế vì theo đó thì Việt Nam chỉ tiến tới mức độ bán thuộc địa là hết.  Tuy nhiên trước sự năn nỉ của Bollaert Bảo Đại miễn cưỡng ký hai chữ VT (Vĩnh Thụy) vào Bản Thể Chế.  Hai người chia tay trong bầu không khí nặng nề.

Năm 1947, ngày 19-12, tại Hồng Kông Bảo Đại mời họp các ông Nguyễn Văn Xuân, thủ tướng Nam Kỳ; Trần Văn Lý, Chủ tịch Hội đồng an dân Huế và Ngô Đình Diệm.  Theo hồi ký Bảo Đại thì:  “Tất cả ba người đều nhận bản tuyên bố chung thì được, nhưng khi đọc bản văn kiện nói về thể chế đều tỏ vẻ tức giận.  Diệm là người nổi sùng nhất”.

Trong 3 ngày bàn bạc, các ông đã đề ra những đòi hỏi tối thiểu mà người Pháp phải nhượng cho Việt Nam.  Đồng thời các ông tính trước có thể Bollaert sẽ lợi dụng chữ ký của Bảo Đại để coi Bản Thể Chế như là một văn kiện căn bản mà phía Việt Nam đã chấp nhận.  Trong trường hợp này Bảo Đại sẽ phản ứng bằng cách tuyên bố cuộc gặp mặt với ông Bollaert tại Vịnh Hạ Long chỉ là với tính cách riêng tư, không đại diện cho dân tộc Việt Nam.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - BIÊN KHẢO VỀ NGUYỄN TẤT THÀNH