Stalin và Hồ Chí Minh năm 1945

Tháng 11 năm 1945 ông Hồ Chí Minh có gởi cho Stalin một bức thư thông báo sự ra đời của “Nước Việt Nam Dân chủ”.   Stalin cho lục lại hồ sơ của nhân vật Nguyễn Ái Kvak ( Nguyễn Tất Thành ) trong hồ sơ lưu trữ của Cọng sản Quốc tế.

Kết quả cho thấy đây là một người theo đảng Cọng sản Pháp, xuất thân là thợ rửa hình, từng có mấy tháng làm nghề viết các bản tin cho báo chí của CSQT tại Mạc Tư Khoa.  Rồi sau đó đã bị 4 năm kỷ luật tại Mạc Tư Khoa vì bị tố cáo là bán các đồng chí của mình và được đánh giá là “chưa bao giờ là người Cọng sản” ( Quinn Judge, Ho Chi Minh, The missing Years, trang 206 ).  Vì vậy Staline cho dẹp hồ sơ của Nguyễn Ái Kvak qua một bên và quên ông này đi

Đến tháng 1-1946 ông Hồ gởi một bức thư nữa cho Stalin nhưng ngày nay văn khố Nga còn lưu lại bức thư được ông S.P.Kozyrep của Bộ ngoại giao Liên Xô phê bên cạnh “Không trả lời” ( Tài liệu của Bukharin đăng trên báo “Xưa và Nay”, Mạc Tư Khoa; số 55, tháng 9-1998; giáo sư Christopher Goscha sưu tầm).

Văn kiện này chứng tỏ ông Hồ Chí Minh và ông Stalin hoàn toàn không có liên quan gì với nhau trước năm 1945 cũng như sau 1945.  Vì vậy các lời cáo buộc rằng Nga đưa Hồ Chí Minh về Việt Nam cướp chính quyền là không đúng.

Tình hình thế giới căng thẳng vì sự phân cực giữa Nga và Mỹ

Cuối năm 1945 Chủ tịch nước Nga và Tổng thống nước Mỹ vui vẻ bắt tay nhau tổ chức lễ mừng chiến thắng Thế chiến thứ 2.  Nhưng sau buổi lễ đó là vấn đề chia lại quyền lực thống trị thế giới sau khi Đức, Ý và Nhật bại trận.  Sự sắp xếp lại trật tự Thế giới trở nên căng thẳng vì ông Stalin cho rằng nhân dân Nga đã bị chết tới 22 triệu người mà phần nhận được sau cuộc chiến chẳng có bao nhiêu so với Mỹ.

Thế là Stalin quyết định hô hào Cọng sản hóa toàn thế giới, gọi Mỹ là “tên đầu sỏ của Đế quốc Thực dân kiểu mới”.  Để đối lại, Mỹ liên minh với các nước tư bản hàng đầu bao vây kinh tế nước Nga khiến cho nước Nga không có cơ hội phục hồi kinh tế sau chiến tranh.  Đến năm 1948 thế giới phân cực và cuộc “chiến tranh lạnh” bắt đầu.

Trước tình hình đó, ông Hồ Chí Minh không biết phải đối xử ra sao giữa việc chống hay không chống lại Mỹ.  Trước kia nếu theo Mỹ thì cũng được coi như là theo Nga vì Nga với Mỹ là Đồng Minh.  Vì vậy HCM đề cử Phạm Ngọc Thạch sang Paris gặp lãnh đạo Đảng Cọng sản Pháp để đặt lại vấn đề.

Ông Thạch được đưa qua Bern, Thụy Sĩ, để gặp đặc sứ Liên Xô tại Thụy Sĩ là Koulachenkov.  Ông Thạch cho biết là người Mỹ đang nhắm nhe dụ dỗ ông HCM để bành trướng thế lực chống Cộng ở Đông Nam Á.  Vì vậy ông Thạch muốn được đi Mạc Tư Khoa để bàn với lãnh đạo Nga về tình hình Đông Nam Á.  Ông Koulachenkov hứa sẽ chuyển đề nghị này về Mạc Tư Khoa ( Hồ sơ lưu trữ Quốc gia Tiệp Khắc, giáo sư Christopher Goscha sưu tầm).

Ông Phạm Ngọc Thạch trở về Pháp chờ đợi, và đến tháng 12-1947 ông lại gửi một tập tài liệu cho Mạc Tư Khoa, phân tích tình hình Đông Nam Á, nêu rõ quyết tâm ủng hộ Liên Xô của ông HCM và ĐCSVN trước sự phân cực giữa Tư bản và Cọng sản, đồng thời nêu rõ khả năng lãnh đạo Cọng sản trong vùng Đông Nam Á của lãnh tụ HCM.

Cuối cùng ông kêu gọi Stalin viện trợ quân sự và kinh tế (Hsltr/MTK, giáo sư Christtopher Goscha sưu tầm).  Kết quả là Stalin không thèm để ý đến chuyện này.  Ông Thạch trở lại Việt Nam vào mùa thu năm 1948 mà chẳng có  kết quả gì.

Nhưng sau khi Mao Trạch Đông chiếm xong toàn cõi Trung Hoa vào cuối năm 1949, thì đầu năm 1950 họ Mao sang Mạc Tư Khoa để báo công với Stalin đồng thời vạch kế hoạch sắp tới cho phong trào Cọng sản hóa toàn thế giới.

Khi bàn về Đông Dương, Mao cho biết ông ta mới nhận được điện chúc mừng của nhân vật Hồ Chí Minh, một cán bộ Cọng sản  đang cầm đầu một tổ chức kháng chiến Cọng sản được dân chúng theo rất đông.  Tuy nhiên nhân vật này không có vẻ gì là Cọng sản vì chính ông ta đã vận động giải tán đảng Cọng sản của Trường Chinh.

Hơn nữa, cuốn tiểu sử chính thức của Hồ Chí Minh do Trần Dân Tiên viết và do Bộ Thông tin của chính phủ Việt Minh phát hành vào năm 1948 đã cho thấy ông ta từng sang Trung Hoa cầu viện Tưởng Giới Thạch vào năm 1942.

Về phần Staline thì cũng cho biết là ông ta đã xem kỹ hồ sơ của nhân vật này;  không thể dùng HCM như một nhân vật lãnh đạo phong trào Cọng sản tại Đông Dương.  Tuy nhiên không thể phế bỏ ông ta vì uy thế của ông ta đang có lợi cho ĐCSVN, phế bỏ ông ta thì ẽ phế bỏ hơn phân nửa cán bộ và sự ủng hộ của dân chúng.

Vì vậy có thể dùng uy tín của HCM để vực dậy đảng Cọng sản của Trường Chinh và giao cho Trường Chinh nhiệm vụ hoàn thành chế độ Cọng sản tại Việt Nam.  Sau khi bàn bạc, Stalin và Mao Trạch Đông cho gọi Hồ Chí Minh sang Mạc Tư Khoa và số phận của đất nước Việt Nam thay đổi từ ngày đó, tức là đầu năm 1950.

Stalin cho gọi Hồ Chí Minh sang Mạc Tư Khoa

Hồi ký của Hoàng Tùng: “Năm 1950 Stalin và Mao Trạch Đông cho gọi Bác sang”.

Năm 1950, ngày 20-1, Hồ Chí Minh bí mật rời Tổng Bộ Việt Minh tại Tuyên Quang lên đường sang Trung Quốc qua cửa khẩu Thủy Khẩu tỉnh Quảng Tây.  Chỉ có một tiểu đội bảo vệ đưa tới biên giới, cùng đi với ông có giáo sư Nguyễn Khánh Toàn là thông dịch viên tiếng Nga cho HCM.  Tướng Trần Canh của Trung Quốc đón Hồ Chí Minh tại Quảng Tây và đưa ông về Bắc Kinh  ngày 26-1 (Nhật ký của Tướng TQ Trần Canh).

Năm 1950, giữa tháng 2, Hồ Chí Minh sang Mạc Tư Khoa gặp Stalin và Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đang có mặt tại đó.  Sau nửa tháng bàn bạc với Stalin và Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh rời Mạc Tư Khoa về lại Bắc Kinh ngày 4-3, hội đàm với Chu Ân Lai về vấn đề viện trợ quân sự cho CSVN (Tài liệu của Hồ Thức Hòa, đăng trên báo Lao Động của CSVN số Xuân Canh Thìn năm 2.000).

*Chú giải : Theo cựu Bí thư Hoàng Tùng, khi Hồ Chí Minh sang Trung Quốc thì chỉ gặp Phó chủ tịch Nhà nước Trung Quốc là Lưu Thiếu Kỳ:  “Khi gặp Bác, Lưu Thiếu Kỳ nói ngay rằng:  Các đồng chí giải tán Đảng, các đồng chí tưởng đâu lừa được địch, nhưng địch không lừa được mà lại lừa chính chúng tôi vì chúng tôi tưởng rằng các đồng chí giải tán Đảng thật.  Còn địch nó thừa hiểu các đồng chí không giải tán Đảng”( Hoàng Tùng, những kỷ niệm về Bác Hồ).

Đoạn hồi ký này cho thấy kể từ khi Hồ Chí Minh cho giải tán Đảng Cọng sản vào tháng 11 năm 1945 cho tới năm 1950 thì ĐCSVN và ĐCS Trung Quốc hoạt động độc lập, hai bên không có gì liên hệ hới nhau cũng như CSVN không liên hệ với Stalin.  Rõ ràng là trong vòng 5 năm đầu tiên Việt Minh không nhờ vả gì được nơi phe Cọng sản mà trái lại, muốn nương dựa vào thế lực của Hoa Kỳ, hay Tưởng Giới Thạch và ngay cả Pháp.

Vì vậy, những cáo buộc cho rằng Hồ Chí Minh và Đảng Cọng sản Việt Nam hoạt động dưới sự chỉ đạo của Stalin và Mao Trạch Đông từ năm 1945 là không đúng.

Cũng theo Hoàng Tùng, tại Mạc Tư Khoa Stalin đã phân công cho Đảng Cọng sản Trung Quốc là cơ quan chủ quản mới của tổ chức Việt Minh:  “Chuyến đi Trung Quốc và Liên Xô của Bác năm 1950 là chuyến đi gian khổ.  Khi đó Staline nói:  Bây giờ cách mạng Trung Quốc thành Công rồi, Trung Quốc có trách nhiệm giúp đỡ các nước Phương Đông cũng như Liên Xô có trách nhiệm giúp đỡ các nước Châu Âu và Châu Mỹ.  Trung Quốc cho như thế là Quốc tế cọng sản đã phân công cho Trung Quốc phụ trách Châu Á”.

Năm 1994 Tướng Võ Nguyên Giáp cho xuất bản cuốn sách “Đường Tới Điện Biên Phủ”, Ngay trong những trang đầu, Tướng Giáp đã ghi rõ một dấu mốc lịch sử của việc thay ngôi đổi chủ của Quân đội Nhân dân Việt Nam :

“Trong một buổi làm việc ở Mátxcơva cùng với Xtalin, có cả Mao Trạch Đông, Bác đề nghị Liên Xô giúp trang bị cho 10 đại đoàn bộ binh và 1 trung đoàn pháo cao xạ.  …” Mao Trạch Đông nói :  “Việt Nam có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đất Trung Quốc.  Tỉnh Quảng Tây sẽ là hậu phương trực tiếp của Việt Nam”…

“Ngay sau khi Bác trở về nước cuối tháng 3 năm 1950, các bạn Trung Quốc đã nhanh chóng thực hiện lời cam kết” ( Đường tới Điện Biên Phủ, in lần 2, trang 14 và 15)… “Cho tới hết năm 1950, ta đã tiếp nhận của Trung Quốc 1.200 tấn vũ khí, đạn dược, 180 tấn quân trang quân dụng, 2.634 tấn gạo, 20 tấn thuốc và dụng cụ quân y, 800 tấn hàng quân giới, 30 ô tô, 120 tấn xăng dầu và phụ tùng ô tô”(Trang 109). 

* Chú giải :  Quyển hồi ký Đường Tới Điện Biên Phủ của Võ Nguyên Giáp được đưa ra công chúng sau khi các tài liệu mật của Trung Quốc về quan hệ Việt-Trung mới được công bố.  Các tài liệu này được Chen Jian sưu khảo và do China Quaterly ấn hành vào tháng 8 năm 1993 với tựa đề “China and the First Viet Nam war, 1950-1954”. Và cuốn sách “China and the Viet Nam wars, 1950-1975” của Quang Zhai do North Caroline ấn hành năm 2.000.

Ngoài ra, các chi tiết về quan hệ giữa Mao Trạch Đông đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam được ghi lại tỉ mỉ trong nhật ký của Đại tướng Trần Canh.  Ông này qua đời năm 1961 nhưng người nhà của ông vẫn giữ nhật ký của ông làm lưu niệm.  Đến năm 1984, sau cuộc đánh nhau giữa Trung Quốc và CSVN thì phía Trung Quốc cho xuất bản nhật ký của Tướng Trần Canh.  Vì vậy hồi ký của Tướng Giáp ghi rõ từng chi tiết của giai đoạn 1950-1951 là nhờ so lại với nhật ký của Trần Canh.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - BIÊN KHẢO VỀ NGUYỄN TẤT THÀNH