Làm quen với những nhà cách mạng Việt Nam

Năm 1924, một tháng sau khi đến Quảng Châu, ngày 18-12, Nguyễn Tất Thành gởi thư báo cho CSQT rằng ông lấy tên Trung Hoa là Lý Thụy, đã gặp một số người Việt Nam lưu vong tại Quảng Châu.  Trong số đó ông làm quen và chiêu dụ được một nhân vật lãnh đạo một nhóm ái quốc, nhân vật này có gia đình bị Pháp tàn sát và ông ta phải rời đất nước cách đây 30 năm, ông ta chẳng biết gì về chính trị.(Hsltr/MTK)

* Chú giải:  Sử gia Qiunn Judge đoán rằng nếu chấp nhận hoặc là nhân vật đó nói thêm hoặc là NTT nói thêm thì trừ đi 10 năm, có 3 người đã lưu vong 20 năm, thích hợp cho nhân vật này, đó là Phan Bội Châu, Hồ Học Lãm và Nguyễn Hải Thần.  Nhưng  Quinn Judge cho rằng ông Châu và ông Lãm lúc đó ở Hàng Châu cho nên nhân vật đó phải là Nguyễn Hải Thần (Ho Chi Minh, the missing years, trang 78).

Tuy nhiên sử gia Quinn Judge không biết rằng thời đó ông Nguyễn Hải Thần đang phục vụ trong quân đội Trung Hoa tại Vân Nam, gia đình chẳng bị tàn sát, ông sang Nhật năm 1906 theo học trường võ bị Nhật đợt đầu tiên.  Sau khi bị Nhật trục xuất ông về lại Việt Nam, bị bắt vì liên can tới vụ đầu độc lính Pháp năm 1908 nhưng được tha vì không đủ chứng cớ.

Năm 1912 mới sang Tàu và năm 1915 còn dẫn quân kháng chiến đánh vào Hà Khẩu tỉnh Lạng Sơn.  Coi như ông mới rời đất nước có 10 năm.  Vậy thì Nguyễn Hải Thần hoàn toàn không phù hợp với nhân vật mà NTT nêu trong thư .

Nếu như những điều NTT nêu trong thư là có thật thì có lẽ đó là ông Nguyễn Thiện Thuật.  Lúc đó ông Nguyễn Thiện Thuật đang sống tại Quảng Đông, rời đất nước khoảng 30 năm, có em trai bị tử hình cùng bản án với Phan Bội Châu và đã bị hành quyết;  có con trai cũng bị án tử hình khiếm diện cùng bản án với Phan Bội Châu, sau bị chết trong trận tấn công vào ba tỉnh biên giới năm 1915.

Phan Bội Châu cho Nguyễn Tất Thành một bài học

Năm 1925, đầu năm, Nguyễn Tất Thành gởi một bức thư làm quen với cụ Phan Bội Châu.

Không biết trong thư nói gì nhưng mật thám Pháp còn lưu lại một bức thư trả lời của cụ Phan, trong đó ông bảo rằng ông rất khâm phục Lý Thụy.  Ông tự cho mình là một người hủ lậu, không bỏ được cái đầu óc suy nghĩ mà ông học được trước khi rời đất nước với tuổi đời trên 40.  Ông thấy rằng chỉ có Lý Thụy mới là người thay thế ông trong vai trò cứu dân cứu nước.  Ông đánh giá cái biết của Lý Thụy vượt xa ông gấp trăm lần.  Cuối cùng ông mong được gặp mặt để nghe một đôi lời chỉ bảo (Hslt/Quốc gia Pháp).

* Chú giải:  Sử gia Quinn Judge căn cứ vào lá thư này để khẳng định rằng tuy NTT mới đến Trung Hoa hơn một tháng nhưng vị thế chính trị của NTT đối với người Việt yêu nước tại Quảng Đông vượt trội Phan Bội Châu mà ngay chính cụ cũng đã “Tâm phục khẩu phục”.  Do đó có những cáo buộc cho rằng Thành mưu triệt cụ Phan để tranh giành uy thế chính trị là không đúng (Ho Chi Minh, The Missing Years , trang 76).

Đó là Quinn Judge suy luận theo tâm lý của người Tây Phương, nhưng nếu theo tâm lý của người Việt Nam thì có lẽ ông NTT không dám đưa cho ai coi lá thư này vì rõ ràng đây là một cách nói khiêm tốn của người Việt Nam dành cho một người thiếu khiêm tốn.  Cụ Phan muốn sửa lưng Lý Thụy.

Cũng như cụ Phan Chu Trinh trong một bức thư gởi cho Nguyễn Tất Thành vào năm 1922 đã tự cho rằng mình là một người hủ lậu, kém xa Nguyễn Tất Thành về hiểu biết thời sự;  nhưng sau đó là một tràng dạy cho Nguyễn Tất Thành về các ý tưởng ích kỷ của NTT.  Vậy nên nếu đúng theo tâm lý Việt Nam qua lá thư này thì dưới con mắt của Phan Bội Châu, NTT chưa thể là một lãnh tụ, ông nhắc khéo cho Thành là cần phải học hỏi thêm về đức khiêm tốn .

Có lẽ bà Quinn Judge không hiểu cách nói năng giao tiếp của người Á Đông thời trước.  Một khuôn cách ngoại giao sang trọng dành cho người có học là đức khiêm tốn.  Câu cuối của bức thư được bà Quinn Judge dịch ra tiếng Anh là : “Will you share one or two task with me?”, thực ra trong tiếng Việt thì câu này là “Mong được nghe một đôi lời chỉ giáo”.  Câu này sẽ có ý nghĩa chân thành nếu như đó là câu của một người nhỏ tuổi nói với một người lớn tuổi nhưng nếu một người lớn tuổi mà nói câu này với một người nhỏ tuổi thì đó là một câu mĩa mai.

Có lẽ người cố vấn dịch thuật đã cẩn thận nhắc cho bà Quinn Judge rằng ý nghĩa câu này không phải là ý nghĩa thật mà nó có tính cách mĩa mai cho nên sau khi dịch câu này thì bà Quinn Judge viết tiếp theo: “He asked, perhaps with a touch of irony”, ( Có lẽ ông viết câu này với đôi chút mĩa mai ).

Mở cơ sở hoạt động chính trị

Năm 1925, ngày 5-1, NTT báo cáo về Mạc Tư Khoa rằng ông mới thành lập Đông Dương Quốc Dân Đảng vào ngày 3-1 gồm 3 hội viên ban đầu.  Một hội viên sẽ về Trung Kỳ và Lào ( Vương Thúc Oánh ), một hội viên khác ( Lê Duy Điếm ) sẽ về Bắc Kỳ để đưa học viên sang Quảng Đông cho ông huấn luyện.  Ông yêu cầu MTK chỉ thị cho những người trong phái bộ Borodin hỗ trợ tài chánh cho ông (Hsltr/MTK).

Năm 1925, ngày 19-2, NTT gởi thư cho CSQT báo cáo ông đã phát triển đảng của ông được 9 người, có 5 người là dự tuyển Đảng viên của ĐCS Trung Hoa ( Lâm Đức Thụ, Lê Tán Anh, Hồ tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lê Quang Đạt ), 2 người trở về Việt Nam và 3 đang ở trong quân đội của Tưởng Giới Thạch.  Ông cho biết ông tính ra cần phải có 5.000 dollar để hoàn thành công việc.  Ông cũng vẽ ra hướng phát triển của ông là tổ chức cơ sở tại Quảng Đông, Quảng Tây và Thái Lan  ( Hslt/Mạc Tư Khoa ).

*Chú giải:  Mới bước chân tới Trung Hoa có hai tháng và mới kết nạp được 9 người mà ông đã vòi tiền CSQT thì hơi sớm.  Người ta sẽ không chi tiền vì chưa có gì chứng tỏ tầm cỡ hoạt động của ông so với 5.000 dollar là số tiền trả 10 năm lương cho một thầy giáo tại Hoa Kỳ lúc bấy giờ.

Một điều đáng lưu ý khác, là bắt đầu từ lúc mới bước chân đến Trung Hoa cho tới khi ông rời Trung Hoa vào năm 1927 thì mọi báo cáo của NTT gửi về CSQT tại Mạc Tư Khoa hoàn toàn không theo hệ thống của phái bộ Borodin, chứng tỏ mọi hoạt động của ông đối với người Việt Nam không dính dáng đến công việc của ông tại phái bộ Borodin.    Vì vậy những nguồn tin nói rằng NTT theo phái bộ Borodin về Trung Hoa để hoạt động cho phong trào CSVN là không đúng.

Năm 1925, ngày 2-3, NTT gởi cho Hiệp Hội Nông Dân Quốc Tế tại mạc Tư Khoa một báo cáo dài về phong trào Nông dân nổi dậy ở vùng Hoa Nam do lãnh tụ  Bành Bái cầm đầu.  Phong trào này bùng phát vào giữa năm 1924 và đến đầu năm 1925 thì phát triển mạnh, khống chế chính quyền tại nhiều nơi trên khắp vùng Hoa Nam.

Hiệp hội Nông Dân Quốc Tế của CSQT tại Mạc Tư Khoa đang muốn theo dõi và yểm trợ cho cuộc nổi đậy này nhưng họ không có cán bộ chuyên về nông dân tại Hoa Nam.  Nhận được báo cáo của NTT thì họ mừng lắm và nhờ ông theo dõi cũng như báo cho họ các diễn tiến (Hsltr/MTK).

Năm 1925, Từ tháng 1-1925 đến tháng 9 năm 1925, Trung tâm Huấn luyện Chính trị của Bành Bái mở 3 khóa huấn luyện tuyên truyền, gồm khóa 3, khóa 4 và khóa 5. Khóa nào cũng có một số học viên Việt Nam tham dự.  Trong số này có Nguyễn Sơn, Nguyễn Hữu Cần (Phi Vân), Mai Ngọc Thiệu, Nguyễn Phong Sắc, Trịnh Đình Cửu, Lê Văn Lương, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Văn Nọn, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Văn Cừ, Mạch Văn Liệu (Phùng Chí Kiên) v.v…

Sau khi Lénin lên nắm chính quyền nước Nga vào năm 1918 thì năm 1919 ông giải tán QTCS 2 và thành lập QTCS 3.  Đến năm 1921, nhân danh Chủ tịch nước Nga, Lénin tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước bất công mà trước đây nước Trung Hoa bị ép buộc phải ký với nước Nga.  Cử chỉ đẹp này đã khiến cho lãnh tụ cách mạng Trung Hoa Tôn Dật Tiên rất hài lòng, ông cử người em cột chèo của mình là Tưởng Giới Thạch sang Nga để vận động QTCS 3 ủng hộ nhân dân Trung Hoa làm cách mạng.

Cũng cùng lúc này, tại Trung Hoa có rất nhiều lãnh tụ chính trị hưởng ứng tư tưởng Léninist, ngã theo khuynh hướng Cọng sản.  Trong số đó có những nhân vật có nhiều uy thế như Trần Độc Tú, Trương Thái Lôi, Lý Đại Chiêu…

Tháng 7 năm 1921 Tú và Chiêu thành lập Đảng Cọng sản Trung Hoa, số đảng viên ban đầu là 57 người.  Năm 1923 Tôn Dật Tiên nhận viện trợ và cố vấn quân sự của Nga để tổ chức lại quân đội Trung Hoa.  Đích thân Tôn Dật Tiên giới thiệu 13 cán bộ của Đảng Cọng sản Trung Hoa gia nhập Quốc dân Đảng Trung Hoa, coi như là hợp lực cùng nhau làm cách mạng. Trong số 13 cán bộ này có Bành Bái và Mao Trạch Đông.

Bành Bái xuất thân là con nhà đại điền chủ nhưng lại theo chủ nghĩa Cọng sản của Marx, tranh đấu cho quyền lợi cho nông dân nghèo nên được nông dân miền Hoa Nam ngưỡng mộ.  Sau khi được Tôn Dật Tiên đề cử gia nhập vào Quốc Dân Đảng, ông được giao chức vụ Bí thư Ban Nông Hội của Đảng.  Từ vị trí này Bành Bái lập ra Trung tâm Huấn luyện Chính trị cho nông dân, đào tạo cán bộ cốt cán cho Hiệp Hội Nông Dân, một nhánh ngoại vi của QDĐTH.

Nhưng rồi các cán bộ được đào luyện đã trở thành cán bộ Cọng sản bởi vì các bài huấn luyện đều tuyên truyền cho chủ nghĩa Marx-Lénin, trong đó nhấn mạnh về phương pháp “Vận động thổ ti cải cách”, mà sau này CSVN gọi là “Cách Mạng Cải Cách Ruộng Đất”.  Sau khi Phong trào “Nông dân nổi dậy” của Bành Bái bị Tưởng Giới Thạch dẹp tan thì Mao Trạch Đông thay Bành Bái tiếp tục lãnh đạo Phong trào Nông Dân.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - BIÊN KHẢO VỀ NGUYỄN TẤT THÀNH