Nhà báo Võ Nguyên Giáp

Năm ông 27 tuổi, 1937, Mặt trận Bình dân bên Pháp lên cầm quyền, cho nới rộng các quyền tự do cho các xứ thuộc địa, trong đó có quyền tự do lập hội và tự do ra báo.  Ông Võ Nguyên Giáp cùng ông Hoàng Minh Giám và một nhóm giáo sư tại trường Thăng Long thành lập một tổ chức chính trị lấy tên là Mặt trận Dân Chủ Bắc Kỳ, các ông cho ra tờ báo Notre Voix do Võ Nguyên Giáp làm chủ bút.

Biết Võ Nguyên Giáp cần người viết báo, anh vợ của VNG là Nguyễn Duy Trinh mới giới thiệu một người bạn tù của ông ta tên là Phạm Văn Đồng.  Ông Đồng bị bắt cùng một vụ với ông Nguyễn Duy Trinh vào năm 1929 và cùng đựơc tha vào năm 1936. Lúc bị bắt thì ông Đồng là đảng viên của Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội và ông Trinh là đảng viên của Tân Việt Cách mạng Đảng.

Notre Voix là một tuần báo viết bằng tiếng Pháp, số đầu tiên ra ngày 15-1-1937, tuy nhiên chỉ được 2 tháng, báo ra được tới số thứ 9 thì đóng cửa vì lý do lủng củng tài chính, số cuối cùng là ngày 16-3-1937. Nguyễn Duy Trinh biết được Phạm Văn Đồng mất việc bèn nhờ ông Đặng Thái Mai là thầy dạy học của Trinh và Giáp giới thiệu Phạm Văn Đồng qua viết cho tờ Le Travaile của Đặng Xuân Khu vào đầu tháng 4-1937.  Lúc đó ông Mai đang viết cho Le Travaile.

Le Travaile là một tờ tuần báo viết bằng tiếng Pháp, do Nguyễn Thế Rục, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), thuộc CS Đệ Tam phối hợp với Trần Đình Long là một lãnh tụ Cọng sản thuộc ĐCS Pháp;  Trần Huy Liệu, cựu đảng viên VQDĐ;  và Trịnh Văn Phú, thuộc CS Đệ Tứ; lập ra tại Hà Nội.  Số đầu tiên ra ngày 16-9-1936.

Nguyễn Thế Rục là 1 trong 5 người thuộc chi bộ Cọng sản đầu tiên của Việt Nam được CSQT lập ra tại Mạc Tư Khoa vào năm 1928. Trần Đình Long là sinh viên du học tại Pháp, được ĐCS Pháp gởi sang Mạc Tư Khoa theo học tại học viện Stalin, sau đó về Hà Nội sinh hoạt trong chi bộ ĐCS Pháp.  Trịnh Văn Phú là một du học sinh tại Pháp, theo khuynh hướng Cọng sản Đệ Tứ, bị trục xuất về nước sau vụ biểu tình tại Paris để phản đối xử án Nguyễn Thái Học năm 1930.  Đặng Xuân Khu là một học sinh tham gia Đông Dương Cọng sản Đảng của Ngô Gia Tự, bị bắt vào trại tù Sơn La mới theo học Nguyễn Thế Rục là người cùng làng Hành Thiện tỉnh Nam Định .

Nhưng sau khi ông Phạm Văn Đồng sang viết cho tờ Le Travaile vào đầu tháng 4 năm 1937 được nửa tháng thì ngày 19-4-1937 tờ Le Travaile bị đóng cửa do có sự chia tay giữa Cọng sản Đệ Tam và Cọng sản Đệ Tứ.  Từ Mạc Tư Khoa Stalin ra lệnh tất cả các tổ chức Cọng sản Đệ Tam không được cọng tác với Cọng sản Đệ Tứ.

Như vậy tính ra trong cuộc đời chính trị của ông Võ Nguyên Giáp có 2 tháng làm báo tại Hà Nội và ông Phạm Văn Đồng có 2 tháng rưỡi.  Sau này các tài liệu của CSVN cố tình hướng dư luận tin rằng ông Giáp và ông Đồng là hai nhà báo gạo cội nhưng trên thực tế thì kể như hai ông chưa từng làm báo.

Tuy nhiên trong những ngày cọng tác làm báo, ông Phạm Văn Đồng rất khâm phục kiến thức quân sự của ông Giáp và khuyên nên theo học một trường võ bị để thích hợp với khả năng thiên phú của ông ta.  Năm 1938 nhân dịp thất nghiệp do hai tờ báo Notre Voix và Le Travaile bị đóng cửa, ông Đồng dẫn ông Giáp sang Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam của Trung Hoa để cho ông Giáp theo học Trường Võ bị Côn Minh.

Nhưng khi hai ông đến nơi thì trường đóng cửa do chiến tranh giữa Nhật và Trung Hoa. Trong khi còn lưu lại Trung Hoa, ông Đồng được tin ông Lý Thụy tái xuất hiện tại Trung Hoa, hai ông cố tìm nhưng không gặp.  Trên đường về ông Đồng kể cho ông Giáp nghe về nhân vật kỳ bí tên Lý Thụy mà ông Đồng từng theo học một khóa tuyên truyền 2 tháng, cách đó 12 năm.

Đến năm 1940 xảy ra chiến tranh Pháp-Đức.  Chính quyền Pháp tại Đông Dương cho bắt phòng ngừa các nhà hoạt động chính trị.  Ông Đồng và ông Giáp được một người trong nhóm Thiết Huyết hướng dẫn chạy sang Côn Minh, Trung Hoa. Tại đây các ông gặp ông Hồ Học Lãm và nhờ ông Lãm bắt liên lạc với Lý Thụy tức là ông Nguyễn Tất Thành.

Ông Thành tìm đến gặp các ông, thu nhận ông Đồng, ông Giáp làm đệ tử rồi hiệp cùng 4 người khác thành lập ra tổ chức Việt Minh Hội (Việt Nam Độc lập Đồng Minh Hội).  Bốn người kia là Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Hoàng Văn Hoan và Cao Hồng Lãnh.

Khi vừa mới gặp Nguyễn Tất Thành, ông Đồng giới thiệu về ông Giáp với thiên tài quân sự bẩm sinh.  Ông Thành hứa sẽ vận động cho cả ông Giáp lẫn ông Đồng theo học trường Quân chính của Quân đội Mao Trạch Đông tại Diên An.  Trường này vừa dạy quân sự vừa dạy chính trị.

Tuy nhiên vì sự vận động của ông Thành không có kết quả cho nên ông Giáp đành chấm dứt mộng ước theo học trường võ bị.  Cuối năm  1940, bảy ông dẫn nhau về Thành phố Tĩnh Tây thuộc tỉnh Quảng Tây của Trung Hoa, giáp giới với tỉnh Cao Bằng của Việt Nam, để gầy dựng cơ sở chờ thời cơ.

Đầu năm 1941 nhóm của ông Nguyễn Tất Thành bắt liên lạc được với nhóm của ông Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Chu Văn Tấn tại căn cứ Pác Bó nằm gần biên giới Việt Trung, thuộc tỉnh Cao Bằng. Lúc này nhà báo Trường Chinh đã trở thành quyền Tổng bí thư của ĐCSĐD và Hoàng Văn Thụ là Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. ( Tự phong dỏm với nhau chứ không phải thực sự ).

Mùa Xuân năm 1941 ông Nguyễn Tất Thành cùng ông Phùng Chí Kiên đến căn cứ Pác Bó, tính chuyện mở đại hội ĐCSĐD để tái tổ chức lại Đảng sau khi các lãnh tụ Cọng sản khác đều bị bắt vì cuộc Bắc Sơn khởi nghĩa và Nam Kỳ khởi nghĩa. Trong khi đó các ông Đồng, Giáp, Hoan, Anh, Lãnh ở lại Tĩnh Tây để bám vào tổ chức chính trị “Việt Nam Giải Phóng Đồng Minh Hội” do Tướng Trương Bội Công thành lập.

Sau đại hội Trung ương Đảng (gồm 7 người) tại hang Pác Bó vào tháng 5 năm 1941, Phùng Chí Kiên, Chu Văn Tấn, Đặng Văn Cáp đến Bắc Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn để lập chiến khu.

Phùng Chí Kiên từng tốt nghiệp trường võ bị Hoàng Phố, sau đó tốt nghiệp trường chính trị Staline tại Mạc Tư Khoa.  Chu Văn Tấn là Thượng sĩ của quân đội Pháp.  Đặng Văn Cáp tốt nghiệp trường võ bị Côn Minh, cựu sĩ quan trong quân đội của Tưởng Giới Thạch.  Tuy nhiên chỉ vài tháng sau các ông bị quân Pháp càn quét, Phùng Chí Kiên chết, Tấn và Cáp chạy sang Trung Hoa.

Trong khi đó tại Trung Hoa, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Hoan, Vũ Anh, Cao Hồng Lãnh bị chính quyền Trung Hoa phát hiện ra là những người Cọng sản.  Hoàng Văn Hoan bị bắt, Anh, Lãnh chạy về Vân Nam; và Đồng, Giáp chạy về Pác Bó.  Tại Pác Bó ông Đồng và ông Giáp gặp lại người bạn cùng làm báo tại Hà Nội cách đó hơn một năm là ông Trường Chinh.

Lúc này lực lượng ĐCSĐD tại hang Pác Bó do Hoàng Văn Thụ chỉ huy cho nên Võ Nguyên Giáp là người duy nhất có thể bàn bạc với Hoàng Văn Thụ trong công việc phòng thủ tại hang Pác Bó.  Tiếng là phòng thủ nhưng thực ra chỉ là chạy tránh mỗi khi có quân của Pháp càn quét.

Tuy nhiên lực lượng quân sự duy nhất của Thụ chỉ có trung đội lính dõng do Chu Văn Tấn chỉ huy nhưng Tấn đã dẫn quân chạy sang Trung Hoa cho nên lúc đó tại hang Pác Bó có một nhóm lãnh đạo của ĐCSĐD nhưng không có súng, vì vậy khả năng hiểu biết về các trận đánh của Napoléon của Võ Nguyên Giáp cũng không giúp gì được cho Hoàng Văn Thụ.

Tháng 6 năm 1942 quân Pháp càn quét gắt gao khu vực Pác Bó, Nguyễn Tất Thành trở lại Trung Hoa để chữa bệnh và tìm cách gỡ thế bí cho ĐCSĐD nhưng không ngờ ông lại bị bắt.  Trong khi đó thì Chu Văn Tấn đã dẫn quân từ Trung Hoa trở lại Pác Bó vào năm 1943.

Hoàng Văn Thụ tổ chức lại lực lượng vũ trang.  Tuy có thêm thanh niên gia nhập nhưng không có thêm súng, tất cả số súng có được vẫn là  mấy chục cây súng trường trong tay binh sĩ của Chu Văn Tấn.  Vì vậy cho tới lúc này Võ Nguyên Giáp vẫn chỉ là một giáo sư dạy Sử Địa.

Đến tháng 8 năm 1943 Hoàng Văn Thụ bị Pháp bắt, và bị xử bắn giữa năm 1944.  Nhóm lãnh đạo tại Pác Bó không có người chỉ huy về quân sự ngoại trừ Chu Văn Tấn.  Tuy nhiên vì Chu Văn Tấn là người Tày và trình độ văn hóa có hạn cho nên ông không thích ngồi bàn bạc suông trong nhóm lãnh đạo Cọng sản.  Ông chỉ muốn khi nào đụng chuyện cần tới quân đội thì kêu ông, vậy thôi.  Vì vậy các ông đề nghị Võ Nguyên Giáp làm tham mưu cho Chu Văn Tấn nhưng thực ra chỉ là nói thay cho Tấn trong các cuộc họp chính trị.

Thời vận của Võ Nguyên Giáp hoàn toàn biến đổi vào cuối năm 1944 khi Hồ Chí Minh đột ngột xuất hiện cùng với các nhà quân sự thứ thiệt là 18 người mới tốt nghiệp trường sĩ quan Đại Kiều do Tướng Tiêu Văn cung cấp, trong số đó có các ông nổi tiếng sau này như Hoàng Văn Thái, Hoàng Minh Thảo, Đàm Quang Trung, Vũ Lập, Nam Long, Bằng Giang v,v…

Ngoài ra cùng về trong chuyến này còn có những tay tổ trong nhóm Thiết Huyết như Vương Thừa Vũ, Bùi Đức Minh, Bùi Ngọc Thành, Lê Tùng Sơn, Đặng Văn Cáp là những người tốt nghiệp trường Võ bị Côn Minh.

Ngoài nhóm Thiết Huyết còn có Lê Thiết Vũ từng tốt nghiệp trường Võ bị Hoàng Phố, Cao Hồng Lãnh tốt nghiệp trường võ bị Thiểm Cam Ninh.  Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm là những người tốt nghiệp  trường Hạ sĩ quan Pháp.  Hồ Chí Minh giao cho Võ Nguyên Giáp tổ chức nhóm người mới tới này thành đội ngũ để chuẩn bị tiếp nhận toán OSS của Hoa Kỳ đến huấn luyện.

Nhóm huấn luyện của Mỹ nói tiếng Pháp cho nên Võ Nguyên Giáp được đề cử làm người liên lạc và là thông dịch viên của toán huấn luyện.  Từ đó cuộc đời của ông Võ Nguyên Giáp từ một ông thầy giáo dạy lịch sử trở nhành một nhà quân sự.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - BIÊN KHẢO VỀ VÕ NGUYÊN GIÁP