Kiến thức quân sự hoang đường

Những hồi ức tâm đắc mà Tướng Giáp kể lại trong hồi ký cho thấy ông có vẻ là một nhà giáo hơn là một nhà tham mưu quân sự.  Ông kể lại một đoạn chiến đấu mà ông cho là oai hùng:  “ …Xích xe tăng chà lên chiến hào và ụ súng.  Các chiến sĩ, kể cả những người đã bị thương, giật giây lựu đạn, chờ xì khói rồi mới ném thẳng vào quân địch.  Cuối cùng lựu đạn cũng hết.  Các chiến sĩ dùng búa đanh, kìm, lắc lê, chân súng gãy…lăn xả vào quân địch đánh giáp lá cà.  Cuộc chiến không cân sức kéo dài tới 2 giờ chiều…”( Điện Biên Phủ, Điểm Hẹn Lịch Sử, in lần 2, trang 244).

Nếu là một tướng thiên tài về quân sự phải biết cân nhắc trước sức mạnh của địch và của ta.  Nếu biết cân nhắc thì khi đối diện trước trận đấu mà một bên là xe tăng với súng đạn đầy đủ; một bên với búa, kìm và chân súng gảy thì chỉ có nước hô quân bỏ chạy hay đầu hàng để giữ mạng sống.  Đàng này ông Tướng lại hô quân nhào vào thí mạng với quân thù thì rõ ràng ông đâu có biết tính toán hay biết cân nhắc;  thậm chí giống như điên khùng.

Cũng may là ngoại trừ ông Tổng tư lệnh, tất cả các vị tướng khác như Lê Thiết Hùng, Vương Thừa Vũ, Lê Tùng Sơn, Đặng Văn Cáp, Bùi Đức Minh, Bùi Ngọc Thành, Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm, Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Thái, Hoàng Minh Thảo, Đàm Quang Trung, Nam Long, Vũ Lập, Cao Hồng Lãnh, Lê Trọng Tấn… đều là những nhà quân sự thứ thiệt mà quân Pháp không ngờ tới.

Những ông tướng cấp dưới này không bao giờ nghe theo cái kiểu suỵt chó vô gai của Võ Nguyên Giáp.  Đáng tiếc là những vị tư lệnh này xuất thân không phải là Cọng sản nên phải chịu đời khổ sở với những ông tướng chính ủy của ĐCSVN như Nguyễn Chí Thanh, Văn Tiến Dũng, Chu Huy Mân, Song Hào, Lê Liêm, Trần Độ, Phạm Hùng, Đỗ Mười, Vũ Anh, Lê Quang Đạo…

Những ông tướng chính ủy này không phải là nhà quân sự  cho nên chuyên môn khóa tay các ông tư lệnh trong những pha quyết định.  Đặc biệt các ông chính ủy chỉ có một chiến thuật duy nhất là hô hào binh sĩ nhào tới trước họng súng địch, tức là chiến thuật “biển người” của Mao Trạch Đông.  Sau này tướng Westmoreland của Hoa Kỳ cho rằng Tướng Giáp chỉ có tài thí quân. Quả nhiên có đọc hồi ký của Võ Nguyên Giáp mới thấy rằng Tướng Westmoreland nói không oan.

Chẳng những vậy, Tướng Giáp còn nêu những gương anh dũng không thể nào chấp nhận được:  “Phương là một y tá, đã bị gãy cả hai tay.  Đức là chiến sĩ, một thiếu sinh quân 17 tuổi vừa vào bộ đội, bị thương cả hai mắt không còn nhìn thấy gì. Trong những giờ qua, hai người đã dựa vào nhau tiếp tục chiến đấu.  Phương quan sát mục tiêu, Đức dùng tay bóp cò súng. Vừa lúc các đồng đội tới thì Phương trút hơi thở cuối cùng” (trang 244).

Chuyện này chỉ có trong tưởng tượng.  Nếu là một người từng lăn lộn ngoài chiến trường, từng chứng kiến những cảnh thương vong ngoài trận mạc, sẽ không có những tưởng tượng ngây ngô như vậy. Tâm lý của người bị gãy hai tay sắp chết không thể nào có đủ tỉnh táo để quan sát, và người bị thương mù cả hai mắt không thể có lòng dạ nào mà điều chỉnh họng súng bắn trúng nhiều mục tiêu theo lời chỉ dẫn của người khác trong nhiều tiếng đồng hồ; nhất là các mục tiêu đang di động và nhiều mục tiêu cùng xuất hiện một lúc. Ông Giáp hoàn toàn đi trên mây trên gió, ông không thể là một nhà mưu lược quân sự.

Tướng Giáp kể về cái chết của chiến sĩ Phan Đình Giót trong trận đánh đồn Him Lam (Béatric):  “Tiểu đội trưởng Phan Đình Giót mau lẹ trườn lên dưới làn đạn  của địch, dùng tiểu liên bắn và ném lựu đạn về phía lô cốt.  Khi anh tới gần lô cốt thì đạn và lựu đạn đã hết.  Anh lao mình vào lỗ châu mai, làm ngừng tiếng súng địch trong giây lát, tạo thời cơ cho bộ đội xung phong” ( trang 217).

Dĩ nhiên là Tướng Giáp không có mặt để chứng kiến pha đó, ông chỉ nghe và rồi kể lại theo tưởng tượng của chính ông.  Không ai có thể tin rằng trên đời lại có người hành động điên rồ như lời kể của Tướng Giáp, người ta đành phải truy theo hồi ức của Tướng Lê Trọng Tấn là người trực tiếp chỉ huy trận đánh đó.

Tướng Tấn cũng chỉ nghe kể lại chứ ông không mục kích.  Ông kể: “Lúc này Giót đã bị thương tới lần thứ ba. Lợi dụng lúc hỏa lực địch ngưng bắn trong vài giây, xung kích của ta xông lên, thấy cả khuôn ngực của Phan Đình Giót áp vào lỗ châu mai địch…”( Lê Trọng Tấn, Từ Đồng Quan đến Điện Biên, in lần 2, trang 309 ). Cùng nghe kể lại nhưng Tướng Giáp bịa ra theo tưởng tượng của mình, còn Tướng Tấn nghe kể làm sao thì thuật lại y như vậy.

Vui hơn nữa là Tướng Giáp lại có những tưởng tượng mà xi nê cũng không chấp nhận nổi.  Thí dụ như ông nói về cách các tài xế xe tải tránh đạn của máy bay:  “…xe ta thường bị máy bay địch phát hiện. Gặp trường hợp này, phụ xe đứng bên ngoài, nhìn thấy máy bay địch lao xuống bắn thì hét lái xe ngừng lại cho máy bay địch lỡ đà tuôn đạn về phía trước” (trang 331).

Hàng trăm năm nay chưa có nhà đạo diễn phim nào cho diễn cảnh này trên màn ảnh bởi vì trên thực tế không thể nào có chuyện như vậy được, cho dù là thực tế đã được sắp xếp sẵn trong phim trường.  Bởi vì khi máy bay xà xuống bắn thì máy bay và xe cùng tiến trên một trục dọc, máy bay sẽ bay từ phía sau xe rồi vượt qua khỏi xe;  người phi công sẽ bấm cò súng cho viên đạn đầu tiên ghim cách phía sau chiếc xe một khoảng cách thường là gấp 5 chiều dài của thân xe;  loạt đạn sẽ cày một đường dài từ phía sau ra phía trước cách khoảng 5 thân xe nữa mới ngưng.

Do đó khi người phi công đã bấm cò súng thì dầu chiếc xe có chạy hay dừng vẫn nằm trong vệt dài của loạt đạn, không thể nào có chuyện hễ thắng lại thì thoát.  Nếu được như vậy thì người ta đã ghi vào binh thư chống máy bay rồi, nhưng cho tới nay thì không có binh thư nào viết như vậy, kể cả binh thư của quân đội CSVN.

Còn nếu ngoài thực địa mà làm được như vậy thì thiếu gì phim chiến đấu cho diễn cảnh đó bởi vì các pha né đạn máy bay ngoạn mục  như vậy sẽ  rất ăn khách.  Thế nhưng thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp lại thản nhiên kể chuyện như thật, không phải ông kể như một chuyện may mắn mà ông nói về một chiến thuật chống máy bay rất hữu hiệu.

Lại một pha tả cảnh các chiến sĩ đang gò lưng kéo pháo lên đèo:  “Bất thần xuất hiện những ánh chớp giật, tiếp theo là tiếng nổ ầm ầm, mãnh đạn cháy bỏng chém gãy những cành cây, cắm vào vách núi.  Chính trị viên hô to: “Các đồng chí, quyết không rời pháo”. Các chiến sĩ gan dạ bám chặt dây kéo, chân như đóng xuống đất, nghiến răng ghìm pháo.  Bài “Quốc tế ca” trầm hùng vang lên như tiếp thêm một sức mạnh nhiệm màu giúp họ vượt qua giờ phút hiểm nghèo” (trang 112).

Quả là phim trường cũng không thể diễn lại được cảnh này vì nó phản tâm lý.  Đang làm việc căng thẳng mà bất thần cái chết ập đến thì không có một tập thể nào có thể tiếp tục thản nhiên làm việc và cất lên bài Quốc tế ca với giọng trầm hùng!  Nếu có bắt buộc phải hát thì họ sẽ hát với giọng hoảng loạn chứ không thể nào lấy được giọng trầm hùng.

Họ còn phải lo giải quyết làm sao neo được khẩu pháo đứng yên để chạy tìm chỗ nấp vì đạn pháo sẽ tiếp tục giáng xuống dài dài;  nhiều người may mắn thoát được loạt đạn đầu nhưng ai cũng lo là còn nhiều loạt đạn kế tiếp sẽ tới.  Vậy mà tướng Giáp lại tưởng tượng ra rằng lính của ông có thể dễ dàng cất lên giọng trầm hùng giữa lúc lo chạy tìm chỗ nấp.

Quả là phim trường cũng chào thua bởi vì nếu có cố diễn thì nét mặt các diễn viên sẽ rất sượng vì phản tâm lý.  Vô tình Tướng Giáp để cho mọi người thấy rõ là ông cầm quân mà không hề biết được tâm lý của người lính như thế nào hay ngay cả tâm lý của con người như thế nào

Danh hiệu thiên tài quân sự

Với những chuyện “trời ơi” như thế này thì người ta cần phải xét lại về thiên tài quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.  Xuất thân con đường binh nghiệp của ông là một thầy giáo dạy môn lịch sử , người thầy giáo dạy sử luôn luôn dùng trí tưởng tượng để chế biến thêm các chi tiết của lịch sử để gây hấp dẫn cho học sinh đang thích thú theo dõi.  Chính điều này đã làm cho Tướng Giáp bị bệnh méo mó nghề nghiệp khi ông làm Tư lệnh quân đội CSVN.

Ngày nay gom lại các truyền thuyết về ông Võ Nguyên Giáp qua các bài tùy bút của các học sinh của ông, hay các bài tùy bút của các nhân viên dưới quyền ông, và hồi ức của các bạn bè cùng trang lứa của Võ Nguyên Giáp, thì ông đã được dư luận Hà Nội ghi nhận về trí nhớ rất đặc biệt của ông với các trận đánh của Napoleon.  Ông có thể  bàn luận thao thao bất tuyệt trong nhiều tiếng đồng hồ về các trận đánh của Napoleon và đưa ra các con số dẫn chứng mà không cần nhìn vào tài liệu.

Tuy nhiên những bài viết nói về thiên tài của Tướng Giáp với các trận đánh của Napoléon lại vô tình điềm chỉ ông ta là tác giả của lệnh “Tiêu thổ kháng chiến” vào năm 1946, bởi vì tiêu thổ kháng chiến là một chiến thuật mà nhân dân Nga dùng để đánh bại đoàn quân bách chiến bách thắng của Napoléon.

Lệnh tiêu thổ kháng chiến kêu gọi hễ quân địch tới đâu thì dân chúng hãy đốt hết nhà cửa làng mạc rồi rút lên rừng để địch không có gì ăn, không có chỗ trú ngụ thì chúng sẽ bỏ đi.  Kết quả của lệnh này là thành phố Tuy Hòa biến thành tro bụi, thành phố Vinh chỉ còn viên gạch này chồng lên viên gạch kia, các cung điện tại thành phố Huế bị đốt và thành phố Hà Đông trở thành một đống đổ nát hoang tàn.

Đây là một lệnh vô cùng khôi hài bởi vì quân Pháp được nuôi ăn bằng vựa lúa Miền Nam và vựa lúa Căm Bốt thì biết bao giờ họ mới ăn hết gạo.  Còn nhà ở thì ngay giữa rừng núi Điện Biên Phủ và trong hầm hố họ vẫn ở được thì cần gì phải có nhà.

Ngày nay đọc lại các hồi ký, bút ký về thời kỳ đó người ta cứ tưởng là chuyện bịa đặt nhưng may nhờ cuốn sách Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện của ông Hồ Chí Minh mà người ta mới có hân hạnh được biết rằng chuyện đó có thật.

Còn danh hiệu “thiên tài quân sự” là do sáng kiến của ông Trần Huy Liệu, Bộ trưởng bộ Thông tin của Chính phủ Việt Minh.  Đó là vào đầu năm 1946, Hồ Chí Minh giải tán đảng Cọng sản của Trường Chinh, đưa Võ Nguyên Giáp lên làm Tổng tư lệnh quân đội thay cho Bộ trưởng Quốc phòng Chu Văn Tấn.

Sở dĩ phải thay Chu Văn Tấn bởi vì Tấn là cán bộ cao cấp của ĐCSĐD, trong khi Tướng Tiêu Văn của Trung Hoa không muốn thấy đảng viên CS trong nội các Việt Minh.  Ngày đó Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trần huy Liệu chưa lộ diện là đã theo Cọng sản nên VNG mới được HCM sắp xếp làm Tổng tư lệnh quân đội, PVĐ nắm Bộ trưởng Tài Chánh. Trần Huy Liệu làm Bộ trường Thông tin.

*( Sau này mới hợp thức hóa bằng cách sửa hồ sơ, cho rằng HCM kết nạp VNG và PVĐ tại Trung Hoa vào năm 1940 và Trần Huy Liệu được kết nạp hồi còn ở Côn Đảo.  Nhưng thực ra hồi ký của Hoàng Văn Hoan cho thấy cuối năm 1944 hai ông này vẫn ghưa gia nhập ĐCS. Và lời kể của Bùi Công Trừng cho thấy THL không được kết nạp ở Côn Đảo.  Thời đó, 1943-1945, Cọng sản Quốc tế đã bị Stalin giải tán để làm vừa lòng Hoa Kỳ và Anh, Pháp.  Do đó ông Đồng, ông Giáp, ông Liệu không điên gì mà theo CS ).

Nhưng vì ông Tổng tư lệnh VNG chỉ là một ông thầy dạy môn lịch sử, chưa qua một trường lớp quân sự nào, cho nên ông Bộ trưởng bộ Thông tin Trần Huy Liệu cho phao lên rằng VNG có thiên tài quân sự bẩm sinh.  Bằng chứng là ông ta nhớ thuộc làu tất cả các trận đánh của Napoléon (sic).

Ngoài sản phẩm “thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp”, ông Liệu còn sáng tác ra sản phẩm “thiếu niên anh hùng Lê Văn Tám”;  cũng là một nhân vật anh hùng không có thật nhưng được nhân dân tôn thờ (!)..

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - BIÊN KHẢO VỀ VÕ NGUYÊN GIÁP