Mao Trạch Đông phát động chiến tranh Đông Dương

Năm 1950, tháng 6, Trung Cọng phái 2 phái đoàn cố vấn sang Việt Nam.  Một đoàn chính trị do La Quý Ba làm trưởng đoàn, ông này trước kia là bí thư của Mao Trạch Đông, là người tín cẩn của họ Mao.  Một đoàn tổng cố vấn về quân sự gồm 79 người do Vi Quốc Thanh cầm đầu, có đầy đủ các chuyên viên tham mưu về quân sự.

Hồi ký của Hoàng Tùng :  “Đầu năm 1950, Bác cùng Bộ chính trị phân tích tình hình, mối quan hệ giữa thế và lực. Lực của ta còn yếu… Nên ta tính năm 1950 chưa thể tổng phản công được. Vi Quốc Thanh chuẩn bị, mọi việc nhất nhất xin ý kiến của Mao.  Mùa thu năm 1950, ta đánh chiến dịch Biên giới Đường số 4…”.

Năm 1950, ngày 28-7, Tướng vố vấn Trần Canh đến Thái Nguyên gặp Hồ Chí Minh và cố vấn chính trị La Quí Ba.  Trần Canh  cho biết ông ta đã trình kế hoạch đánh Cao Bằng cho Bắc Kinh và đã được Quân ủy Trung ương Trung Cọng gởi điện chấp thuận ngày 26-7  ( Nhật ký của Đại Tướng TC Trần Canh ).

Năm 1950, ngày 2-8, tại Quảng Uyên, một thị trấn sát biên giới Trung Hoa, thuộc tỉnh Cao Bằng, Tướng Hoàng Văn Thái triệu tập các trung đoàn trưởng trở lên, phổ biến kế hoạch “tiêu diệt thị xã Cao Bằng”, sau đó cùng với một số cố vấn của Đại đoàn 308 đi trinh sát thực địa.

Ngày 3-8, Võ Nguyên Giáp đến Quảng Uyên.  Được Trần Đăng Ninh là Cục trưởng hậu cần cho biết số người trực tiếp tham gia trận đánh là 30.000, cần 2.700 tấn gạo và 200 tấn vũ khí đạn dược.  Đồng bào địa phương chỉ cung cấp được cỡ 100 tấn gạo.  Số còn lại sẽ do Trung Quốc chở từ tỉnh Quảng Tây sang.  Sau đó Trần Đăng Ninh đi Quảng Tây  ( Hồi ký Đường Tời Điện Biên Phủ của Võ Nguyên Giáp, bản in lần 2, trang 22 ).

Con số 200 tấn vũ khí đạn dược cho một trận đánh đủ chứng minh trận đánh Cao Bằng là của ai. Và con số 2.700 tấn gạo cho một trận đánh mà trong đó Trung Quốc phải chi 2.600 tấn cho thấy mức độ can thiệp của Trung Quốc đối với quân đội của Võ Nguyên Giáp như thế nào.

Một trận đánh mà quân lính do Trung Quốc trang bị và tổ chức, vũ khí do Trung Quốc cung cấp, gạo ăn từng ngày cũng do Trung Quốc cung cấp, ban nghiên cứu kế hoạch đánh cũng là chuyên gia Trung Quốc, và người tổng chỉ huy cũng là tướng Trung Quốc. Vậy thì là quân đội của ai ?

Năm 1950, ngày 12-8, phái đoàn cố vấn Trung Quốc gồm có Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Nhất Phàn… đến Cao Bằng bàn thảo với đoàn cố vấn của Đại Đoàn 308 đang giúp Tướng Hoàng Văn Thái soạn thảo kế hoạch đánh Cao Bằng.  Đoàn cũng trú quân tại Tả Phày Tử cùng một nơi với sở chỉ huy của Võ Nguyên Giáp ( Hồi ký Võ Nguyên Giáp ).

Năm 1950, ngày 16-8, Võ Nguyên Giáp họp quân ủy, quyết định bỏ kế hoạch đánh Cao Bằng và chuyển sang nghiên cứu đánh Đông Khê.  Sau cuộc họp Võ Nguyên Giáp đến gặp tướng cố vấn Vi Quốc Thanh và trình bày ý định đánh Đông Khê thay vì đánh Cao Bằng. Vi Quốc Thanh bảo đợi Đại tướng TC Trần Canh  ( Hồi ký Võ Nguyên Giáp. Trần Canh là tướng tư lệnh quân Trung Quốc tại Quảng Tây, tiếp giáp với Cao Bằng, Ủy viên dự khuyết Trung ương ĐCS Trung Quốc.  Lúc đó Trần Canh đang ở Thái Nguyên tiếp xúc với Hồ Chí Minh ).

Năm 1950, ngày 8-9, tại Quảng Uyên, Tướng Trần Canh thuyết trình cho Tướng cố vấn Vi Quốc Thanh và đoàn cố vấn, cùng với Tướng Võ Nguyên Giáp và Tướng Hoàng Văn Thái của Việt Nam về kế hoạch đánh chiếm Cao Bằng.  Sau đó ông dành 4 tiếng đồng hồ để thuyết trình cho các vị chỉ huy trận đánh là Đại đoàn trưởng 308, các Trung đoàn trưởng 36, 88, 102 và 209, 174 ( Nhật ký của Trần Canh ).

Kế hoạch phòng thủ của Pháp tại Cao Bằng

“Phòng tuyến Biên thùy Đông Bắc” của quân đội Pháp là một phòng tuyến nằm trên Quốc lộ 4, mà quốc lộ này chạy song song với đường biên giới Việt Trung, từ tỉnh Mong Cáy ở bờ biển vịnh Bắc Việt qua tỉnh Lạng Sơn đến tỉnh Cao Bằng.  Từ Cao Bằng đến Mong Cáy có rất nhiều cửa ngõ thông sang biên giới Tàu. Vì vậy khi người Pháp tái chiếm Việt Nam thì họ đã tái chiếm Cao Bằng, Lạng Sơn , Mong Cáy trước bởi vì ba tỉnh này trù phú nhờ giao thương với Trung Hoa.

Sở dĩ họ rải quân dọc theo Quốc lộ 4 là để ngăn chận sự dòm ngó của quân Trung Hoa cũng như ngăn chận các hoạt động qua lại của các lực lượng yêu nước Việt Nam.  Các hoạt động này nhằm chuyển vận vũ khí hoặc chạy qua chạy lại mỗi khi bị quân Pháp truy kích.  Khu vực Mong Cáy, Lạng Sơn Cao Bằng cũng là nơi có nhiều quyền lợi thiết thực của các doanh nhân người Pháp với các mỏ than, mỏ kim loại và các đồn điền trà, cà phê đều tập trung dọc theo Quốc lộ 4.

Địa đầu giới tuyến của “Phòng tuyến Đông Bắc” là tỉnh Cao Bằng.  Có 2 ngã tiếp tế cho tỉnh địa đầu giới tuyến này, ngã thứ nhất là từ Hà Nội đi theo Quốc lộ 3, qua tỉnh Vĩnh Phúc Yên rồi tỉnh Thái Nguyên, rồi Bắc Cạn, đến Cao Bằng.  Ngã thứ 2 từ Hải Phòng theo Quốc lộ 5 qua Quảng Yên, bắt đầu gặp tỉnh Mong Cáy tại Tiên Yên thì chuyển sang hướng  tây theo Quốc lộ 4, đến Lạng Sơn, rồi đến Cao Bằng. Từ Mong  Cáy đến lạng Sơn là 197 Km và từ Lạng Sơn đến Cao Bằng là 136 Km.

Mặc dầu có 2 ngã tiếp tế cho Cao Bằng,  nhưng trên thực tế các đoàn tiếp tế chỉ đi theo ngã thứ 2, tức là từ Cảng Tiên Yên thuộc tỉnh Mong Cáy theo Quốc lộ 4 đi lên bởi vì ngã thứ nhất là Quốc lộ 3 chạy giữa các rặng núi đá vôi tuy không hiểm trở nhưng rất nhiều đèo dốc.  Suốt một vùng đèo dốc 140 cây số từ Cao Bằng đến Thái Nguyên đều thuộc quyền kiểm soát của Việt Minh.

Vì vậy khi quân Pháp đặt kế hoạch di tản khỏi Cao Bằng thì họ cho 15 Tiểu đoàn tiến chiếm Thái Nguyên để làm thế nghi binh, giả cách sẽ cho quân Cao Bằng rút về bằng ngã Quốc lộ 3 với tính toán là quân của Võ Nguyên Giáp sẽ tập trung vào Quốc lộ 3 mà bỏ lơ Quốc lộ 4.  Tuy nhiên khi các đơn vị nghi binh lên chiếm Thái Nguyên thì toàn bộ Thái Nguyên bỏ trống, quân của Võ Nguyên Giáp đã kéo hết lên đánh Cao Bằng, kế hoạch nghi binh với 15 tiểu đoàn vô tác dụng.

Năm 1950, ngày 15-9, quân CSVN gồm 9 tiểu đoàn tấn công 1 tiểu đoàn quân Pháp tại thị trấn Đông Khê trên Quốc lộ 4, giữa Lạng Sơn và Cao Bằng. Quân CSVN gồm có Trung đoàn 36 thuộc Đại đoàn 308.  Trung đoàn 209 ( Trước đây là Trung đoàn Sông Lô, do Lê Trọng Tấn chỉ huy và Trần Độ là Chính ủy ), Trung đoàn 174 (Trước đây là Trung đoàn Cao Bắc Lạng do Đặng Văn Việt chỉ huy và Chu Huy Mân là Chính ủy), Tiểu đoàn 11 biệt lập và Tiểu đoàn 426 biệt lập.

Cuộc tấn công do Thiếu tướng Hoàng Văn Thái chỉ huy và Lê Trọng Tấn làm phó ( Theo hồi ký của Võ Nguyên Giáp và Lê Trọng Tấn thì quân CSVN khoảng 6.500.  Nhưng theo nhật ký của Tướng Trần Canh thì quân của Võ Nguyên Giáp là 10,000 người và quân Pháp tại Đông Khê là 260 người ).

Năm 1950, ngày 18-9, Tướng Tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương là Carpentier nghe tin Đông Khê bị tấn công thì cùng Tư lệnh tuyến Biên thùy Đông Bắc là Đại tá Constans bay lên lạng Sơn.  Tại đây ông ra lệnh cho thả một Tiểu đoàn dù để tái chiếm Đông Khê nhưng địa thế tại đây không có bãi thả dù cho nên Tiểu đoàn Dù được thả xuống Thất Khê để đợi lệnh.  Sau đó Carpentier quyết định rút khỏi Cao Bằng và lấy Thất Khê làm địa đầu của phòng tuyến Biên thùy Đông Bắc, ông ra lệnh cho binh đoàn của Lepage lên Lạng Sơn rồi lên Thất khê.

Năm 1950, ngày 20-9, Tướng Tư lệnh quân Pháp tại Bắc Kỳ là Alessandri đang nghỉ phép tại Pháp vội bay về Hà Nội, ông đề nghị tái chiếm Đông Khê nhưng Tướng Carpentier không chấp thuận và ra lệnh rút tất cả quân Pháp tại Cao Bằng về Lạng Sơn,  lấy Lạng Sơn làm địa đầu giới tuyến cho khu biên thùy Đông Bắc.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - BIÊN KHẢO VỀ VÕ NGUYÊN GIÁP