Trả bằng dầu lửa

Năm 2002, ngày 26-9, bản tin của đài RFA : “Tổng Công Ty Dầu Khí Việt Nam, PetroVietnam, cho biết tính đến cuối tháng 6 này, sản lượng dầu thô xuất khẩu toàn ngành ước tính lên tới 8 triệu tấn, mang về cho Việt Nam 1 tỷ 400 triệu đôla Mỹ. Theo kế hoạch dự trù thì tổng lượng dầu thô xuất khẩu trong năm nay sẽ đạt tới 16 triệu 500 ngàn tấn. Hiện nay Hoa Kỳ là nước đứng đầu danh sách nhập cảng dầu thô của Việt Nam, kế đến là Nhật Bản, Trung Quốc và Singapore.

*Phân tích :  Đây là hình thức cho vay bằng tiền mặt, nấp dưới hình thức Quỹ Phát triển Quốc gia (ADO).  Trên thực tế số tiền này thường được chi cho khoản thiếu hụt ngân sách hoặc thanh toán nợ đáo hạn.  Áp lực của số nợ càng lớn thì quốc gia đi vay càng lệ thuộc vào các yêu sách chính trị của quốc gia chủ nợ

Chỉ có Trung Cọng và CSVN là 2 nước Cọng sản được Wold Bank cho vay ODA một cách hậu hỉ.  Trong khi 2 nước Cọng sản khác là Bắc Triều Tiên và Cuba bị Wold Bank cấm cửa.  Chẳng qua là vì Wold Bank nhắm 2 nước này không có gì để cầm cố, thế chấp; tức là không có khả năng trả nợ vừa vốn vừa lãi. Còn Trung Cọng thì có lực lượng 600 triệu nhân công giá rẻ.  Và CSVN thì có dầu lửa làm bảo kê.

Mới nhìn thì có vẻ như CSVN có lợi thế vì là chủ mỏ dầu.  Tuy nhiên số dầu múc lên đã được John Perkins, một sát thủ kinh tế (EHM, economic hit man) của Mỹ thú nhận như sau :

Vì các dự án do EHM mang lại mà Êcuađo bị ngập chìm trong nợ nước ngoài và phải dành một phần lớn ngân sách quốc gia để trả nợ thay vì dùng số tiền đó để giúp đỡ hàng triệu công dân được chính thức liệt vào danh sách những người hết sức đói nghèo”.

 “Cứ 100 USD dầu thô lấy ra từ các khu rừng nhiệt đới của Êcuađo thì có tới 75 USD rơi vào túi của các công ty dầu lửa. 25 USD còn lại sẽ được dùng để trả nợ nước ngoài ( John Perkins, “Confessions of an Economic Hit Man”. Bản dịch của Lê Đồng Tâm, Nhà xuất bản Thông tin Văn hóa, phát hành năm 2007).

Với một cung cách hợp tác làm ăn như thế thì nước chủ mỏ dầu nghiễm nhiên trở thành một nạn nhân đau khổ, dầu càng nhiều thì càng đau khổ nhiều.  Chỉ có quốc gia văn minh mới thoát được cảnh này, nghĩa là từ các cấp lãnh đạo cho tới nhân viên thừa hành trong chính phủ phải là những người có trình độ học thức cao.  Và dân chúng cũng phải có trình độ họ thức cao để giám sát chính phủ. Riêng Trung Cọng thoát được là nhờ họ thừa hưởng tập quán làm ăn buôn bán sành sõi của người Trung Hoa ở Thượng Hải, Hồng Kong, Ma Cao, Đài Loan, Singapore.( Đây cũng là sai lầm của các sát thủ kinh tế Mỹ, họ cứ tưởng dân Trung cọng ít học ).

Còn Việt Nam hiện nay thì trình độ hiểu biết về kinh tế tư bản của các nhà lãnh đạo cũng như kiến thức kinh tế của dân chúng đang ở mức độ gần như “cờ lờ mờ vờ” ( mới biết đánh vần về hoạch toán kinh tế ). Trong khi đó người đứng đầu ngành kinh tế, tài chính của CSVN lại là Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh, một sát thủ kinh tế của Mỹ được cài cắm trong chính phủ CSVN. *( Ông qua đời vào đầu năm 2003. Người tiếp nối ông là Phó thủ tướng kinh tế Nguyễn Tấn Dũng, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ).

Trả bằng nông hải sản

Năm 2002, ngày 29-12, bản tin của đài RFA : “Thượng Nghị Sĩ John McCain của Hoa Kỳ đã gặp một số viên chức cao cấp trong chính quyền Việt Nam, nhân chuyến viếng thăm Hà Nội với tư cách cá nhân của ông.  Các bản tin được phổ biến từ Hà Nội cho biết ông McCain đã gặp Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và ông Trương Quang Ðược, Phó chủ tịch quốc hội”.

*Phân tích :  Ông McCain, là Chủ tịch của Ủy ban Quốc phòng Thượng viện Hoa Kỳ, tự nhiên lại viếng thăm Hà Nội với tư cách cá nhân (?) Lại thăm riêng ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Trương Quang Được (?). Trong khi quốc gia Hoa Kỳ đang bận rộn chuẩn bị chiến tranh với Iraque mà ông MacCain là nhân vật rất quan trọng đối với Ngũ Giác Đài lúc bầy giờ.

MacCain gặp ông Dũng không phải là để nói chuyện thương mãi vì việc này không phải là nghề của ông MacCain.  Lại cũng không phải về chuyện quân sự hay quốc phòng bởi vì nếu là chuyện quốc phòng thì phải gặp Tướng Phạm Văn Trà, trong khi Nguyễn Tấn Dũng chỉ là Phó thủ tướng chuyên trách kinh tế.

Chuyến đi đột xuất “với tư cách cá nhân” chắc chắn có liên quan đến chiến tranh sắp xảy ra tại Iraq chứ không còn có lý do nào khác.  Những yêu cầu riêng của Hoa Kỳ đối với cuộc chiến sắp xảy ra sẽ chứng minh được rằng Hoa Kỳ và CSVN đã có quan hệ mật thông qua ông Nguyễn Tấn Dũng.

Quả nhiên 12 ngày sau, tờ Sài Gòn Times loan tin các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam không muốn giao hàng cho Iraq vì chính phủ nước này không bảo đảm thiệt hại cho họ nếu chiến tranh xảy ra.  Theo hiệp định mua bán trước đây thì Việt Nam sẽ giao cho Iraq 250 ngàn tấn gạo.  Nhưng nay chỉ có thể ở mức từ 60 tới 70 ngàn tấn.  Như vậy là quân đội Iraq phải đối diện với tâm lý sẽ bị đói nếu chiến tranh xảy ra.

Tuy nhiên sau khi quân đội Hoa Kỳ chiếm được thủ đô Baghdad thì Việt Nam vẫn tiếp tục chở gạo sang Iraq theo như hợp đồng trước đây với Sadam Hussein, nhưng lần này thì chính phủ Hoa Kỳ thanh toán tiền gạo cho CSVN.  Hơn thế nữa, Hoa Kỳ tiếp tục mua gạo của Việt Nam để cung cấp thực phẩm cho nhân dân Iraq với số lượng lớn hơn thời Saddam Hussein.

Năm 2003, ngày 26-2, bản tin của đài RFA: “Theo tin từ thủ đô Manila của Philippines, ông Nguyễn Dy Niên, Bộ Trưởng Ngoại giao của Việt Nam đã đến Manila hồi tối nay, sửa soạn tham dự cuộc thảo luận với chính phủ Philippines về hợp tác quân sự giữa hai bên, kể cả việc có thể sẽ mở các cuộc tập trận chung”.

Đây là kết quả của sự thương lượng giữa MacCain và Nguyễn Tấn Dũng tại Hà Nội từ 3 tháng trước. Ông Nguyễn Dy Niên là Bộ Trưởng Bộ ngoại giao cho nên ông đến Manila không phải để bàn về hợp tác quân sự hay tập trận chung, việc này phải để cho một tướng lãnh của Bộ Quốc phòng .

Thực ra cuộc thảo luận của ông Nguyễn Dy Niên với chính phủ Phi Luật Tân chỉ là bàn thảo hợp đồng mua bán gạo trong tương lai và đổi lại CSVN sẽ bắt tay liên minh với Hoa Kỳ trong lãnh vực an ninh thế giới, nhất là tình hình tranh chấp trong khu vực Biển Đông giữa Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á.

Năm 2002, ngày 20-3, bản tin của đài RFA:  “Hoa Kỳ đã bắt đầu cuộc chiến đánh Iraq. Tiếng súng đã nổ trên bầu trời Iraq vào khoảng 5 giờ 30 sáng giờ địa phương, tức khoảng 9 giờ 30 sáng ngày hôm nay, giờ Việt Nam, khi quân đội Hoa Kỳ từ Biển Ðỏ và ngay tại Vùng Vịnh bắn khoảng 40 tên lửa vào thủ đô của Iraq, và sau đó máy bay tàng hình B-117 bay vào không phận Baghdad để oanh kích”.

Kể từ lúc này Mỹ mua gạo của CSVN để cung cấp cho nhân dân và chính phủ Iraq mà Mỹ mới lập nên, thay cho số gạo mà Sadam Hussein trước đây đã đặt mua của CSVN.  Cũng kể từ lúc này Phi Luật Tân cũng mua gạo của CSVN thay vì mua của Thái Lan.

Cho vay để phát triển điện năng

Năm 2003, ngày 19-8, bản tin của đài RFA : “Để phát triển nguồn năng lượng cần thiết cho sản xuất và đời sống dân chúng, chính phủ Việt Nam cho hay sẽ phải huy động tới gần 4.5 tỷ đôla đầu tư để xây thêm 11 nhà máy phát điện mới trong năm tới ”.

*Phân tích:  4.5 tỉ đôla cho điện lực chỉ là con số nhỏ so với nhu cầu điện của Việt Nam theo như chiết tính của các chuyên gia điện năng quốc tế.  Nhu cầu điện của một quốc gia được tính theo mức phát triển kinh tế.  Với đà phát triển kinh tế từ 7% tới 9% mỗi năm thì Việt Nam cần phải có nhà máy phát điện nguyên tử mới đủ đáp ứng nhu cầu.

Nhưng theo quyển sách “Lời thú tội của một sát thủ kinh tế”, của John Perkins, một chuyên gia kinh tế của Mỹ, thì con số phát triển của một quốc gia con nợ luôn luôn được tính theo mưu đổ của nước chủ nợ.  Thí dụ năm 1971 John Perkins được gửi tới Indonesia để làm công việc chiết tính nhu cầu phát triển kinh tế của nước này.  Cùng đi với ông là một sát thủ kinh tế Mỹ khác chuyên về năng lượng, người đó tên là Howard.  Perkins kể :

“Lúc này Howard đảm trách công việc dự báo về nguồn năng lượng và khả năng sản xuất điện của toàn bộ đảo Java trong vòng 25 năm tới, cũng như dự báo riêng cho từng thành phố và các vùng. Vì nhu cầu về điện liên quan chặt chẽ tới tăng trưởng kinh tế nên những dự báo của ông ta cần dựa vào những dự báo kinh tế của tôi”. ( John Perkins, “Confessions of an Economic Hit Man”. Bản dịch của Lê Đồng Tâm, xuất bản tại Hà Nội năm 2007 ).

Cũng theo lời kể của John Perkins thì chính ông đã “vẽ” ra là mức phát triển kinh tế của Indonesia trong vòng 25 năm tới là 17%.  Nhưng Howard nghe theo lời kêu gọi của lương tâm cho nên đã tính ra nhu cầu điện của Indonesia trong vòng 25 năm tới ở mức 8%;  mặc dầu theo kinh nghiệm của Howard thì chưa nơi nào trên thế giới phát triển quá 6%.  Rốt cuộc Perkins ( chiết tính láo ) được thăng chức và Howard ( chiết tính thật ) bị đuổi việc.

Có thể một ai đó sẽ cho rằng John Perkins đã nói láo, dựng đứng con số lên để gây hấp dẫn, sách bán chạy và được nổi danh.  Tuy nhiên con số này thực tế dã xảy ra tại Việt Nam và người đã phát hiện rồi đưa nó ra trước công luận là Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn, nguyên cố vấn Nha Kinh Tế Dự Báo Chiến Lược (IDF, Paris), hiện là giáo sư Viện Kinh Tế Chính Sách Năng Lượng Grenoble, giáo sư trường Đại Học Bách Khoa Grenoble (Pháp) :

“Theo những con số tôi vừa được biết thì năm 2020 các đồng nghiệp bên nhà nói rằng chúng ta sẽ cần 294 tỷ Kilowatt/giờ, tức là 3 lần lớn hơn con số đã đưa ra vào năm 2010. Trong khoảng thời gian rất ngắn 10 năm, 2010 – 2020, mà chúng ta phải nhân gấp 3 tổng sản lượng điện toàn quốc, như thế là không thiết thực chút nào cả.

Không có nước nào có một tốc độ quá mạnh, quá nhanh như thế, một mức tăng trưởng luỹ thừa, 16-17% một năm, có nghĩa là cứ 3 năm ta phải nhân gấp đôi tất cả các nhà máy và hệ thống điện trên toàn lãnh thổ.  Liệu ta có đủ khả năng tài chánh không? và sức người cũng có hạn”.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - CSVN VAY NỢ AI VÀ TỪ LÚC NÀO?