Phải chăng là nội chiến?

Ông Ngô Nhân Dụng viết bài “Tại sao huynh đệ tương tàn” trên báo Người Việt :

Tìm về tận gốc thì nguyên nhân sâu xa gây ra cuộc nội chiến lớn thứ nhì trong lịch sử của dân tộc Việt là sự phát triển của kinh tế tư bản thế giới từ mấy thế kỷ trước… …Từ đó, thế giới chia hai, nhiều quốc gia cũng bị chia thành hai phe theo hai ý thức hệ” ( Người Việt, 27-4-2007 ).

Điều này không đúng vì Việt Nam không bị chia hai do ý thức hệ, mà chính ra là:

–  Năm 1954 Pháp rút khỏi Việt Nam, giao Miền Bắc cho ông Hồ Chí Minh và giao Miền Nam cho ông Bảo Đại.  Như vậy là nhân dân Miền Bắc bị bắt buộc theo ông Hồ Chí Minh, mà ông HCM lại theo Cọng sản, chứ nhân dân Miền Bắc không hề muốn theo Cọng sản.  Bằng chứng là hằng triệu người Miền Bắc có khả năng chạy được đã bỏ chạy vào Miền Nam.

–  Năm 1954 nhân dân Miền Nam chống cọng không phải vì Chủ nghĩa Tư bản, Chủ nghĩa Tư bản không có dính dáng tới một dân tộc nghèo và bị trị như dân tộc Việt Nam. Dân nghèo Việt Nam đâu có yêu thích Chủ nghĩa Tư bản đến độ phải đổ máu ra mà bảo vệ.

  • Trong khi đó chính người Mỹ cũng đâu có chịu đổ máu ra tại nước khác để bảo vệ Chủ nghĩa Tư bản.  Hễ dân tộc nào muốn theo Cọng sản thì chết đói ráng chịu, họ đâu có cần.

–  Nhưng chẳng qua là vì có một dân tộc nào đó có nguy cơ bị rơi vào tay Cọng sản mà cầu cứu tới họ thì họ mới ra tay mà thôi.  Dân Cuba ở ngay sát nách họ mà muốn theo Cọng sản thì họ cứ để cho theo. Và cho đến nay thì người Hoa Kỳ có quyền dửng dưng trước sự khổ cực của dân chúng Cuba, trong thâm tâm họ nói: “đáng đời”.

Phải chăng là không ở đâu có đánh nhau giữa Cọng sản và Chống cộng ?

Ông Ngô Nhân Dụng viết :  “Nhưng không phải bất cứ quốc gia nào, không phải nước thuộc địa nào trong nửa sau của thế kỷ 20 cũng trở thành bãi chiến trường cho hai khối cọng sản và tư bản tranh hùng làm chết hàng triệu người.  Ấn Độ không, Indonesia không, Thái Lan, Phi Luật Tân cũng không lâm vào cảnh nội chiến bi thảm như thế”.

Ông NND viết mà không coi lại lịch sử,  khiến cho ông giống như là bịp bợm nếu so lại với lịch sử thế giới:

  • Tại Đại Hàn năm 1950

Năm 1950, ngày 25-6, quân Bắc Hàn vượt qua vĩ tuyến 38 xâm lăng Nam Hàn. Ngày 27-6, Tổng thống Truman của Mỹ ra lệnh cho Không quân và Hải quân Mỹ tiếp cứu Nam Hàn.  Ngày 28-6, thủ đô Séoul của Nam Hàn thất thủ. Tổng thống Mỹ cho phép Lục quân Mỹ tham chiến tại Nam Hàn.  Năm 1950, ngày 19-9, quân Mỹ chiếm lại Séoul.

Năm 1950, ngày 25-11, Tướng Lâm Bưu của Trung Cọng xua 300 ngàn quân qua Bắc Hàn tấn công Sư đoàn 24 và Sư đoàn 25 của Mỹ. Trong vòng 24 tiếng đồng hồ, quân Mỹ có 12.975 người chết, bị thương và bị bắt.  Năm 1950, ngày 25-12, quân Bắc Hàn được sự hỗ trợ của quân Trung Cọng lại chiếm thủ đô Séoul lần nữa.

Năm 1951, quân Mỹ phản công thắng lợi, tiến tới gần thủ đô Séoul.  Ngày 19-2, quân Mỹ tái chiếm Séoul.  Ngày 22-2, quân Mỹ đuổi theo quân Bắc Hàn về phía biên giới Bắc Hàn.

  • Tại Hungaria năm 1956

Ngày 3-9-1956, Cọng sản Hung Gia Lợi ngăn biên giới Hung, Áo bằng lưới sắt có truyền điện, để cản dân Hung trốn qua Áo.  Ngày 1-10-1956, Văn nghệ sĩ và trí thức Hung Gia Lợi đòi quyền tự do.  Ngày 24-10-1956, công nhân chiếm đóng nhiều thị trấn ở Hung và lập chính quyền riêng biệt chống đối chính phủ.

Ngày 25-10-1956, có tin quân Nga đàn áp rất mạnh các đám nổi dậy ở Budapest.  Hai bên kịch chiến trong thành phố.  Ngày 28-10-1956, Imer Nagy yêu cầu các nhóm nổi dậy đình chỉ bạo động, và đóng cửa các nhà máy, chờ thương thuyết cho quân đội Nga rút lui.

Ngày 30-10-1956, Quân đội Nga chịu rút khỏi Budapest nhưng Hội đồng Cách mạng Hung đòi phải rút khỏi lãnh thổ Hung. Ngày 2-11-1956, hơn 400 chiến xa Nga lại tiến vào đất Hung, và quân đội Nga chiếm phi trường Budapest.  Ngày 7-11-1956, quân đội Nga Sô vẫn bắn phá các ổ kháng chiến ở Budapest.

Ngày 28-11-1956, đã có 92.325 người tị nạn từ Hung qua Áo, 21.946 được đưa qua các xứ khác, Hoa Kỳ nhận 5.000.  Ngày 12-12-1956, theo tin báo chí Paris, tại Hung có 120.000 người bị sát hại. 300.000 bị thương, và 132.000 tị nạn.

  • Tại Indonesia năm 1965

Sang thập kỷ 60, Tổng thống Sukarno của Indonésia chủ trương đứng giữa hai khối, ông thành lập khối thứ 3, gọi là khối “Không liên kết”. Ông cho phép đảng Cọng sản Indonésia hoạt động công khai và tự do phát triển.

Đến ngày 1-10 -1965 phe Cọng sản làm một cuộc đảo chánh giết hại 6 ông tướng có khuynh hướng chống cộng.  Nhưng Quân đội Indonésia, do Đại tướng Shuharto cầm đầu, đã lật ngược tình thế, dẹp tan nhóm đảo chánh.

Phe chống cộng thừa cơ nổi lên giết phe Cọng sản, 250 ngàn đảng viên và cảm tình viên của đảng Cọng sản Indonésia bị giết chôn không kịp.  ( Theo cáo buộc của Tổ Chức Nhân Quyền Thế Giới thì con số này là từ 300 đến 500 ngàn.  Nhưng có lẽ người ta đã tính chung số nạn nhân Hoa kiều bị giết oan vì tình nghi là người của Mao Trạch Đông ).

  • Tại Chilé năm 1973

Sang thập kỷ 70, Tổng thống  Agiendé của Chilé cũng thiên về chủ nghĩa Cọng sản, đảng Cọng sản Chilé đang dần dần chiếm đa số trong Quốc hội.  Ngày 11-9-1973, Trung tướng Pinoché nổi lên đảo chánh, giết Agiendé.  Trong vòng 1 tuần lễ, phe chống cọng thừa cơ giết luôn 123 ngàn đảng viên Cọng sản. Cũng thây người nằm đầy đường, đầy phố.

  • Tại Afganistan năm 1979

Sang thập kỷ 80, nhân dân Afganistan nổi lên chống lại chế độ Cọng sản vào năm 1979, Liên Xô đưa quân sang tái lập chế độ Cọng sản nhưng nhân dân Afganistan đứng lên kháng chiến chống Liên Xô. Và 10 năm sau thì đánh bật quân Liên Xô ra khỏi Afganistan.

Ở đâu có Cọng sản là nơi đó có chống cộng

Như vậy câu nói : “Nhưng không phải bất cứ quốc gia nào, không phải nước thuộc địa nào trong nửa sau của thế kỷ 20 cũng trở thành bãi chiến trường cho hai khối cọng sản và tư bản” của ông Ngô Nhân Dụng trở thành rất khôi hài, nó chứng minh được bản lĩnh chính trị của một nhà văn.

Sự thực là hễ ở đâu có Cọng sản là nơi đó có chống Cộng.  Rõ ràng các cuộc đánh giết Cọng sản tại Indonésia, Chilé, Mã Lai, Phi Luật Tân, Thái Lan không dính dáng gì đến Chủ nghĩa Tư bản, mà chỉ dính dáng đến những người chống Cộng, họ chống là vì họ thấy cái gương trước mắt của Trung Hoa và của Bắc Việt Nam.  Họ biết rằng nuôi dưỡng Cọng sản là nuôi dưỡng hiểm họa cho dân tộc.

Dân Indonésia, dân Chilé và dân Afganistan rất nghèo, họ không hề muốn bệnh vực chủ nghĩa Tư bản, nhưng họ ghét Cọng sản vì họ thấy rõ ràng Cọng sản đi tới đâu thì nhân dân nơi đó không còn là con người…

Rõ nét hơn nữa là nhân dân Ba Lan nổi lên chống Cọng sản năm 1954, nhân dân Hung Gia Lợi nổi lên chống Cọng sản năm 1956, nhân dân Tiệp Khắc nổi lên chống Cọng sản năm 1968.  Không phải họ chống vì họ theo chủ nghĩa Tư bản, mà đơn giản vì họ thấy không thể nào sống nổi dưới chế độ Cọng sản. Vậy thì nhân dân Việt Nam cũng vậy.

Không hề có chuyện “nội chiến” giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam, mà chỉ có một bên xâm lăng và một bên chống xâm lăng.  Dân tộc Pháp chỉ nhờ Hoa Kỳ sau khi quân Đức đã tiến vào nước Pháp, dân tộc Đại Hàn đã nhờ sau khi quân Bắc Hàn đã tràn qua Vĩ tuyến 38 đánh chiếm Seoul, và dân tộc Việt Nam đã nhờ sau khi quân Bắc Việt đã tràn qua Vĩ tuyến 17 đánh chiếm Miền Nam.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - GÁNH HÁT HÒA HỢP HÒA GIẢI