Kết quả trận Mậu Thân nhìn từ phía CSVN

Hồi ký của ông Mai Chí Thọ, Ủy viên Bộ chính trị CSVN, đã dành 1 chương với tiêu đề “Cái giá phải trả do sai lầm chủ quan của chúng ta sau trận Mậu Thân 1968”. Ông viết :

“Lực lượng võ trang mà ta đã bí mật mai phục ở Miền Đông Nam bộ sau Hiệp định Geneve ( Cũng là lực lượng chủ lực đánh trận Tua Hai ), trong chiến tranh chống Mỹ, phát triển thành Trung đoàn chủ lực của Miền Đông Nam bộ, đã bị tiêu hao gần hết trong và sau Mậu Thân”.

“Lúc đó đồng chí Võ Văn Kiệt, đồng chí Trần Bạch Đằng và tôi đã báo cáo tình hình thực tế về Trung ương Cục.  Cả ba chúng tôi cùng ký vào bức điện đề nghị chuyển hướng mục tiêu, không nên tiếp tục tổng công kích, tổng khởi nghĩa nữa, nhất là đánh vào Sài Gòn và các đô thị”. ( Mai Chí Thọ, Theo Bước Chân Lịch Sử, trang 173).

Và tự truyện của Đại tướng Lê Đức Anh cũng thú nhận :

“Tôi có gặp anh Trần Bạch Đằng ( Anh Trần Bạch Đằng cùng ở Tiền phương 2 với anh Võ Văn Kiệt ), anh Linh cũng đang có mặt tại đây.  Tôi đề xuất không nên mở đợt 2 đánh vào nội đô nữa vì không còn yếu tố bí mật bất ngờ…”

“Sau đợt 2, tôi đề nghị dứt khoát thôi, rút ra.  Dân chỉ giúp đỡ chứ không “nổi dậy” thì quân ta không ở nữa, rút ra!  Riêng biệt động thành ở lại thực hiện “điều lắng” (tan, hòa tan vào dân).  Anh Linh lặng im và đồng ý.  Hồi đó, làm việc ở R (rờ) “làm thinh là đồng ý”… ( Khuất Biên Hòa, Đại tướng Lê Đức Anh, trang 90, 91.  Cơ quan Rờ tức là Trung ương Cục Miền Nam ).

Sách lịch sử “Quân Khu 9, 30 Năm Kháng Chiến” của nhà xuất bản Quân đội Nhân dân :

“Sau Mậu Thân 1968,… do ta chuyển hướng không kịp, nhất là các tỉnh vùng trung tâm sông Hậu, nên chủ lực và địa phương tổn thất nặng nề.  Mỗi tiểu đoàn xuất quân chiến đấu đông tới bốn, năm trăm người, đến lúc rút ra củng cố, tổ chức lại chỉ còn không đầy một trăm.  Có tiểu đoàn khi đi vào tiến công đô thị trên hai trăm xuồng, khi trở về chỉ còn lẻ tẻ vài chục xuồng, mỗi xuồng vài ba người…”

“Cả khu 9 có 50 xã ( trong số 250 xã ) đảng viên bỏ chạy ra khỏi địa bàn xã; 40 xã mỗi xã chỉ có 1,2 đảng viên, không có chi bộ.  Đầu năm 1968 lực lượng du kích xã, ấp toàn Khu có 45.000.  Đến cuối 1969 chỉ còn 6.500 người”.

“Tỉnh Cà Mau có 13 xã giải phóng nhưng chỉ thu được có 7 tân binh bổ sung cho bộ đội chủ lực Khu, 6 người bổ xung cho bộ đội Huyện.  Trong khi đó toàn khu (Chưa tính Vĩnh Trà) có 12.000 chiến sĩ bỏ ngũ về nhà.  Còn ở Vĩnh Trà tình hình cũng tương tự như vậy…”

Nghị quyết 21/BCHTU ngày 13-10-1973 của ĐCSVN kiểm điểm về trận Mậu Thân:

“Qua đợt tiến công nổi dậy 68, cả thế và lực của ta bị tổn thất nghiêm trọng.  Lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng đặc công biệt động nói riêng thiệt hại nặng nề”….

“…nhiều đơn vị lực lượng vũ trang địa phương cũng như chủ lực, các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy các mặt trận, các địa phương phải cơ động lên biên giới, sang đất bạn tạm trú đóng quân, xốc lại đội hình, bổ sung người, vũ khí tiếp tục chiến đấu”.

“Nguyên nhân của tình trạng nói trên là do ta chủ quan trong đánh giá tình hình, nên đã đề ra yêu cầu chưa sát với tình hình thực tế”.

Tài liệu “Tổng Kết Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước” phát hành tại Hà Nội năm 1996 ghi nhận :

“ Sau đợt Tổng tiến công Tết …  chủ lực ta bị đẩy xa các thành phố, thị xã, các bàn đạp tấn công bị mất, lực lượng, vũ khí, trang bị kỹ thuật, lương thực, thực phẩm và thuốc men bị tiêu hao nhiều chưa được bổ sung, sức chiến đấu của bộ đội giảm sút….”

“…  Tình trạng mất dân, mất đất đã diễn ra ở nhiều nơi, vùng giải phóng và vùng tranh chấp bị thu hẹp.  Do mất dân, mất đất nên lực lượng vũ trang không những không duy trì được thế đứng chân mà quân số nhiều đơn vị ngày một giảm dần …”.

Hồi ký của Tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp ghi lại tình hình tại Tây Nguyên sau Mậu Thân:

“Quân và dân Tây Nguyên bước vào năm 1969 gặp muôn vàn khó khăn, có lúc tưởng chừng không thể khắc phục được, nhất là lương thực.  …  Nguy cơ thiếu đói là không thể tránh khỏi đối với cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên” (trang 273).

Và cuối cùng là tự truyện của ông Võ Văn Kiệt do Huy Đức ghi :

Trong Chiến dịch Mậu Thân, ông Võ Văn Kiệt ở Sở chỉ huy Tiền Phương, vào sát cửa ngõ Sài Gòn. Tiền phương của Sài Gòn cũng nhận được những lệnh liên tiếp tập kích vào đô thị để “giành thắng lợi tối đa”.

“Mậu Thân quả là đã gây được những tiếng vang chính trị trong lòng nước Mỹ, nhưng những người trực tiếp ở chiến trường như ông đã phải chứng kiến sự hy sinh quá lớn. Ông nói: “Lúc đó tôi đau đến mức nhiều lần bật khóc”. Hơn 11 vạn quân giải phóng đã hy sinh trên toàn chiến trường. Phần lớn căn cứ địa Quân Giải phóng ở nông thôn đã trở thành “đất trắng” ( Huy Đức, Hiện tượng Võ Văn Kiệt , chương 1 ).

Theo thống kê của quân đội VNCH căn cứ theo lời khai của các tù binh trên 34 mặt trận xảy ra trên toàn quốc vào Tết Mậu Thân thì toàn bộ quân CSVN trước khi tham gia trận chiến là 85.000 quân, không kể 1 sư đoàn chính quy tại Tây Nguyên và 2 sư đoàn tại Khe Sanh.  Như vậy con số hơn 11 vạn của ông Võ Văn Kiệt có nghĩa là quân CSVN đã hoàn toàn chết hết.

Kết quả trận Mậu Thân nhìn từ phía Mỹ :

Trước tết Mậu Thân 2 tháng, Tướng Tư lệnh quân đội Mỹ tại VN là Westmoreland về Mỹ công tác.  Ngày 19-11-1967 ông họp báo tại Washington và tuyên bố tình hình quân sự tại Việt Nam đã ổn định, chương trình bình định phát triển nông thôn là bước tiến tiếp theo để quân đội Hoa kỳ có thể rút ra khỏi Việt Nam trong tư thế chiến thắng.

Và rồi cho tới ngày 31-1-1968 thì trận Mậu Thân diễn ra trên toàn quốc, Tướng Wesmoreland họp báo trấn an dư luận rằng với tầm cỡ của một cuộc chiến rộng lớn như thế này, quân CSVN chắc chắn sẽ chuốc lấy thất bại.  Tuy nhiên báo chí đã tung tin ngược với lời tuyên bố của Westmoreland :

“Dường như người ta nói láo bằng một sự bênh vực mỹ miều và một chiến thắng ngoạn mục mà Westmoreland cùng nhiều người khác muốn tô điểm”;  “Westmoreland đang đứng trên đống gạch vụn mà dám huênh hoang rằng mọi thứ sẽ tốt đẹp…” ( Hồi ký của Westmoreland, bản dịch của Duy Nguyên trang 470 ).

Một tuần sau trận Mậu Thân, Ngày 8-2-1968 Thượng nghị sĩ Robert Kennedy mở màn cuộc tranh cử chức tổng thống Hoa Kỳ với lời tuyên bố : “Đã đến lúc Hoa Kỳ phải đối diện với sự thật rằng một cuộc chiến thắng bằng quân sự chẳng bao giờ tìm thấy được và sẽ chẳng bao giờ xảy ra” .

Ba ngày sau đó, bình luận gia của đài truyền hình CBS Hoa Kỳ là Walter Cronkite đến Việt Nam để quan sát tình hình sau trận Mậu Thân.  Khi trở lại Hoa Kỳ ông  phát biểu trên đài truyền hình rằng “Hoa Kỳ đã lún sâu vào chỗ không lối thoát”“Đó là hậu quả của một cuộc chiến bi thảm… Tôi sẽ làm mọi thứ có thể làm được để chấm dứt cuộc chiến”.

*[ Cũng ông ký giả Walter Cronkite này, 39 năm sau, ông ta đến Hà Nội để làm phóng sự truyền hình.  Hà Nội sắp xếp cho ông ta được tiếp xúc với Tướng Võ Nguyên Giáp đã 95 tuổi.  Tướng Giáp cười ha hả khi nghe Cronkite hỏi thăm về chiến thắng vĩ đại của ông trong trận Mậu Thân, ông thú thực với Cronkite :

Cho tới nay chúng tôi vẫn không hiểu nổi tại sao người Mỹ các anh lại chấm dứt thả bom Hà Nội (1972). Các anh đã tròng cổ được chúng tôi rồi.  Nếu các anh nhấn thêm một chút nữa, chỉ một hoặc hai ngày nữa, chúng tôi đã sẵn sàng đầu hàng.  Cũng giống như trận tết Mậu Thân, các anh đã đánh bại chúng tôi rồi”( Cuộc phỏng vấn được truyền trên đài truyền hình CBS ngày 8-12-2007 )].

Hai tuần sau trận Mậu Thân, Tướng Tổng tham mưu trưởng liên quân Mỹ là Earle Wheeler đến Sài Gòn để lượng giá yêu cầu tăng quân của Westmoreland, sau đó ông trở về Mỹ và tỏ ra bi quan :

“Wheeler cho rằng trong đợt tấn công đầu tiên, cộng quân gần như đã thành công trong việc chiếm giữ hằng chục thành phố, thị trấn, điều đó có nghĩa là, hy vọng một cuộc chiến thắng bằng quân sự của phe đồng minh còn trong mong manh, xa vời” (Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 204 ).

Mặc dầu Washington rất tin tưởng Westmoreland nhưng bắt buộc phải nghi ngờ về những cam đoan của Tướng Westmoreland.  Họ nghĩ rằng mọi chuyện đã vuột khỏi tầm tay của ông Tướng.  Sau đó MacNamara từ chức Bộ trưởng Quốc phòng và tướng Westmoreland rời nhiệm sở tại Việt Nam là những bằng cớ hiển nhiên cho thấy Washington nghĩ rằng họ đã thua đậm.  Vấn đề còn lại là trình diễn màn thua sao cho coi được.

Năm 1968, ngày 26-2, “Cơ quan tình báo CIA tại Hoa Thịnh Đốn đã đệ nạp chính phủ một bản  nghiên cứu tổng hợp nhằm tái lập chính sách tại Miền Nam Việt Nam từ A đến Z.  Bản báo cáo này đưa ra nhận định rằng chính quyền Miền Nam Việt Nam quá yếu kém, vì vậy trong tương lai không thể nào đủ khả năng để đương đầu với Cọng sản Hà Nội.

Một bản phúc trình thứ ba, cũng tương tự như thế, CIA cho rằng, trong vài tháng sắp tới, tình hình nguy khốn sẽ xảy ra cả về phía quân đội lẫn chính quyền Miền Nam Việt Nam, vô phương cứu vãn ( Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 185 ).

Tướng Tổng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ là Wheeler trình xin tân Bộ trưởng Quốc phòng Clifford tăng thêm 200 ngàn quân tại VN.  Clifford đã hỏi lại : “Nếu thêm 200 ngàn quân chúng ta có biết chắc là sẽ thắng hay thua không?  Nếu thêm 200 ngàn mà vẫn chưa đủ thì bao nhiêu mới đủ”?

Sau khi không ai trả lời được, Clifford nói với Tổng thống Johnson : “Vấn đề không phải là nên rút quân hay không, mà là nên theo đuổi chiến tranh Việt Nam hay không?  Nếu không thì rút quân”.

Từ đó con tàu chính trị Mỹ chuyển hướng, tất cả đồng lòng rút quân khỏi Việt Nam bằng phương cách hòa đàm với Hà Nội, nghĩa là buộc phải hy sinh VNCH.  Có hai người cố công đi ngược lại chủ trương này, đó là Nixon và Nguyễn Văn Thiệu, cả hai đều bị lịch sử loại bỏ.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - NGUỒN GỐC TRUNG ƯƠNG ĐCSVN