Một tháng sau khi trận Mậu Thân bùng nổ, Tư lệnh Quân đội Mỹ tại VN là Westmoreland gởi văn thư xin tăng thêm 206 ngàn quân.  Không may cho ông văn bản này bị một viên chức của Ngũ Giác Đài tiết lộ cho tờ New York Time ( Vụ Pentagon Paper ).  Dư luận thế giới càng tin chắc là Mỹ đang thua đậm tại VN.  Lê Duẩn phấn khởi ra lệnh tấn công đợt 2 mà không ngờ quân đội CSVN đã chết gần hết sau một tháng tổng tấn công.

Mỹ dọn đường đàm phán

Năm 1968, một tháng rưỡi sau trận Mậu thân, ngày 18-3 tại Washington. Đại sứ VNCH tại Hoa kỳ là Bùi Diễm được Tổng thống Johnson mời vào tòa Bạch Ốc vào khoảng 5 giờ chiều.  Bùi Diễm kể lại :

“Lúc ngồi xuống, đối diện sát ông, tôi mới nhận thấy là mới cách đó vài tháng ( lần trước tôi gặp ông là tháng 11 năm 1967 ) mà ông già hẵn đi.  Trông ông có vẻ mệt mỏi, ưu tư hiện rõ trên nét mặt, dường như gánh nặng của chiến tranh Việt Nam đang thử thách sức chịu đựng của ông… 

Trong phòng không một tiếng động.  Bên ngoài trời đã sẩm tối.  Đến khi tôi dứt lời thì Tổng thống Johnson ngồi yên đến hai ba phút rồi mới chậm rãi phát biểu ý kiến.  Ông nói : “Nếu chúng ta không thắng thì rắc rối to.  Tôi đã cố gắng hết sức nhưng một mình tôi không thể cầm cự mãi được” ( Bùi Diễm, Gọng Kìm Lịch Sử, trang 363 ).

Hai ngày sau, 20-3,  Đại sứ Bùi Diễm đến gặp tân Bộ trưởng Quốc phòng Clifford.  Ông kể lại :

“Ông không ngần ngại, nói đốp chát, cộc lốc, đi thẳng vào vấn đề… Ông nói : “Lúc này không còn phải là lúc dùng những danh từ mỹ miều ngoại giao nữa ( We have run out of time for diplomatic niceties )… … Dân chúng Hoa kỳ đã mất hết tinh thần, và sức ủng hộ của chúng tôi có giới hạn… … Chúng ta bắt buộc phải tìm ra một giải pháp nào đó, nếu không thì chắc chắn sẽ có tai họa”. (Trang 365)

Vài ngày sau 20-3, Đại sứ Bùi Diễm đến gặp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Dean Rusk.  Ông thuật lại lời của Ngoại trưởng : “Chúng tôi không có sự lựa chọn nào khác, và mục tiêu của chúng tôi không còn là thắng lợi quân sự nữa, nhưng là hòa bình trong danh dự” ( Trang 366 ).

Năm 1968, ngày 31-3, Tổng thống Hoa Kỳ Johnson tuyên bố giảm ném bom Bắc Việt và không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 2.  Để đáp lại, Hà Nội tuyên bố sẵn sàng gặp nhau tại Paris để thương lượng ngưng bắn.

Mao Trạch Đông không đồng ý cho Hà Nội đám phán

Hồi ký của Hoàng Văn Hoan, Ủy viên Bộ chính trị CSVN :

Ngày 31-3-1968 là ngày cách chiến dịch Mậu Thân vừa đúng hai tháng, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn một mặt tuyên bố cuộc ném bom bắn phá miền Bắc chỉ hạn chế từ vĩ tuyến 20 (Nghệ An) trở vào, một mặt chính thức đưa ra kiến nghị muốn đàm phán với Hà Nội, thì ngày 3 tháng 4 năm 1968, Lê Duẩn tự ý tuyên bố sẽ cử Đại biểu đàm phán với Mỹ.

Lúc này Hồ Chủ tịch đang dưỡng bệnh ở Bắc Kinh, Thủ tướng Chu Ân Lai được biết tin này, liền đến hỏi Hồ Chủ Tịch, Hồ Chủ tịch cũng ngẩn cả người ra và nói là không biết gì về việc này… .., đáng lẽ Lê Duẩn phải đích thân đến Bắc Kinh báo cáo với Hồ Chủ tịch để cùng trao đổi ý kiến với Trung Quốc, nhưng Lê Duẩn không làm như thế…

Theo Hoàng Văn Hoan thì ngay từ 1964, khi Mỹ bắt đầu ném bom tại Miền Bắc, thì Lê Duẩn đã muốn hòa đàm nhưng lại sợ Hồ Chí Minh không tán thành ( HVH không hay biết là HCM đã mất hết quyền lực ).  Cũng theo HVH thì :

“Hồ Chủ tịch nói, … … Phải lấy đánh làm chính, đồng thời cũng có thể tỏ ý sẵn sàng đàm phán. Nhưng vấn đề này cần phải được bàn kỹ với các đồng chí Trung Quốc. ..”

Thực ra HVH không biết rằng BCT/CSVN coi HCM không ra gì.  Sau này Phạm Văn Đồng đã ghi lại trong Bạch Thư của nước CHXHCNVN những động thái của Bắc Kinh nhằm ngăn chặn Hà Nội tiến hành đàm phán với Mỹ :

Trong cuộc hội đàm với Hà Nội vào tháng 4 năm 1968, Bắc Kinh nói :  Lúc này Việt Nam chấp nhận đàm phán chưa phải là thời cơ, và trên tư thế cao, ta đã nhân nhượng một cách vội vã”

“Báo chí Bắc Kinh không đưa tin về đàm phán tại Paris giữa Mỹ và ta nhưng lại nhấn mạnh:  Nhân dân Việt Nam cần giải quyết số phận của mình không phải trên bàn hội nghị mà trên chiến trường…” ( Bạch thư của CSVN trang 51 ).

“Ngày 9-10-1968, một nhà lãnh đạo Bắc Kinh đã gặp Thứ trưởng Ngoại giao ta và nói : Sự thỏa hiệp của Việt Nam với Mỹ là một thất bại lớn, tổn thất lớn đối với nhân dân Việt Nam… …Nên để cho Mỹ bắn phá trở lại khắp Miền Bắc. làm như vậy là để Mỹ phân tán mục tiêu oanh tạc, đồng thời chia sẻ bớt khó khăn cho Miền Nam” ( trang 51 ).

“Ngăn cản nhân dân Việt Nam thương lượng với Mỹ, khuyến khích Mỹ tăng cường ném bom Miền Bắc Việt Nam, đây chính là cái mà tướng Mỹ M. Tây lơ gọi là quyết tâm của những người lãnh đạo Trung Quốc ‘Đánh Mỹ tới người Việt Nam cuối cùng’. ( trang 52 ).

Ngày 17-10-1968, tại Bắc Kinh,  Bộ trưởng Ngoại giao Trung Cọng Trần Nghị gặp đại diện ta và nói :  Lần này các đồng chí chấp nhận 4 bên đàm phán tức là giúp cho Johson và Humphrey đạt được thắng lợi trong bầu cử… …Như vậy giữa hai đảng và hai nước chúng ta còn cần nói chuyện gì nữa” ( Bạch thư của CSVN,trang 52,53 )

Sau đó Bắc Kinh giảm 20% kim ngạch viện trợ cho Hà Nội trong tài khóa 1969.  Đến tháng 8 năm 1969 lãnh đạo Trung Quốc đã hỏi kháy Thứ trưởng Ngoại thương của Hà Nội : “Thế Việt Nam đánh hay hòa để Trung quốc tính việc viện trợ?”.  Và quả nhiên trong năm 1970  Bắc Kinh giảm 50% kim ngạch viện trợ cho Hà Nội.

Mưu đồ của Mao Trạch Đông

Mao Trạch Đông không muốn Hà Nội ngưng chiến bởi vì họ Mao muốn lợi dụng thế bí của Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam để làm áp lực buộc Hoa Kỳ phải giải tỏa lệnh bao vây cấm vận Trung Cọng và để cho Trung Cọng hòa nhập với thế giới.  Đồng thời thừa nhận Đài Loan chỉ là một tỉnh của Trung Cọng, trả lại cho Trung Cọng chiếc ghế đồng chủ tịch Hội đồng Liên Hiệp Quốc mà Đài Loan đang nắm giữ.

Sau khi xảy ra xung đột với Liên Xô, họ Mao chỉ còn có cách thương lượng với Hoa Kỳ để giải quyết tình trạng bị thế giới bao vây kinh tế. Và chiến tranh Việt Nam sẽ là một động lực thúc đẩy Hoa Kỳ phải thương lượng với Bắc Kinh.

Trong khi đó tại Mỹ xuất hiện ứng cử viên Nixon với kế hoạch toàn cầu của ông ta, mà trong đó Nixon quan niệm giảm sự căng thẳng trong chiến tranh lạnh để đi đến chung sống hòa bình.  Vì vậy sau khi Nixon thắng cử, tháng 11 năm 1968, Bộ Noại giao Trung Cọng tuyên bố muốn nối lại cuộc đàm phán chung sống hòa bình với Mỹ tại Varsava, thủ đô nước Ba Lan.

Mao Trạch Đông không hề quan tâm tới số phận của Bắc Việt đang bị dội bom, nhưng ông ta quan tâm tới số phận của Trung Quốc :  Sau 17 năm chiến tranh với đế quốc Nhật và nội chiến, tất cả tiềm năng kinh tế của Trung Hoa đã chạy ra Đài Loan, về nhân lực cũng như tài lực, về chất xám cũng như vốn liếng tiền bạc.  Năm 1968 nhân dân Trung Quốc người người bận áo vá, nhà nhà ăn cơm độn;  trong khi đó lại phải tập trung quân để đối phó với quân đội Liên Xô tại khu vực biên giới.

Phương cách duy nhất có thể giải thoát cho Bắc Kinh là thuyết phục Hoa Kỳ chấp thuận Trung Quốc được hội nhập với thế giới và được vào Liên Hiệp Quốc.  Nhưng muốn mau chóng được sự chấp thuận của Hoa Kỳ thì không có gì hay hơn là xúi Hà Nội tiếp tục tấn công quân Mỹ tại Miền Nam Việt Nam. CSVN càng gây khó khăn cho Mỹ thì Mỹ càng đến gần Bắc Kinh.

Washington càng nôn nóng thì Bắc Kinh càng trì hoãn 

Năm 1968, ngày 9-5, phái đoàn Hà Nội đến Paris, trưởng phái đoàn là Xuân Thủy và phó là Hà Văn Lâu.  Trước khi lên đường Xuân Thủy đã nhận được chỉ thị của Lê Duẩn : “Hãy lợi dụng diễn đàn Paris để tranh thủ công luận thế giới” .  Sau đó Xuân Thủy ghé qua Bắc Kinh để gặp Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai.

Chu cho rằng Hà Nội đã hớ khi nhanh chóng chấp thuận đề nghị hòa đàm của Johnson, theo Chu thì phải làm eo làm phách để chứng tỏ rằng ta đây đang chiếm thế thượng phong.  Sau đó Chu khuyên : “Hãy trì hoãn”. ( Lưu Văn Lợi, Các Cuộc Thương Lượng Giữa Lê ĐứcThọ Và Kissinger Tại Paris )

Năm 1968, ngày 13-5, cuộc họp tại Paris bị trễ 3 ngày so với dự định.  Tuy nhiên cuộc họp không đi đến kết quả nào vì việc ấn định các thành phần tham dự.  Phía Mỹ thì muốn là một cuộc họp bàn tròn gồm đại diện 3 chính phủ của 3 quốc gia tham chiến là Hoa Kỳ, Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam.  Trong khi đó Hà Nội chỉ muốn một cuộc họp tay đôi giữa Bắc Việt và Hoa Kỳ.

Điều này trở thành không thể chấp nhận được;  bởi vì quân đội Hoa Kỳ đến Việt Nam với tư cách là một đồng minh, giúp bảo vệ quốc gia Việt Nam Cọng Hòa.  Nay nếu Hoa Kỳ đơn phương đàm phán với Bắc Việt thì coi như từ trước tới nay thủ đô của Việt Nam Cọng Hòa đặt tại Washington.  Đây chính là lý do để Tổng thống Thiệu từ chối tham dự.

Nhưng sự từ chối của Tổng Thống Thiệu lại trái ý của Washington cho nên ngay tức khắc CIA chỉ thị cho UCIS ( cơ quan tuyên truyển của CIA ) thuê báo chí loan tin Nguyễn Văn Thiệu không muốn đàm phán là để bảo vệ chiếc ghế Tổng thống của ông ta.  Từ đó báo chí Mỹ và báo chí VNCH kết án Nguyễn Văn Thiệu cản trở hòa bình.

BÙI ANH TRINH

Bạch thư Nước Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trang 52 và 53

Bùi Anh Trinh - NGUỒN GỐC TRUNG ƯƠNG ĐCSVN