Đánh mạnh tại Khe Sanh

Sau khi Tổng thống Hoa Kỳ tuyên bố giảm ném bom Bắc Việt và không ra tranh cử nhiện kỳ 2 .  Đài phát thanh Hà Nội tuyên bố các trận đánh trong dịp tết chỉ mới là khúc dạo đầu của chiến dịch tổng công kích; quân CSVN sẽ tiếp tục tấn công nhiều đợt nữa và hứa hẹn những đợt sau mới là những đòn thấm thía đối với “Mỹ ngụy”.  Lời tuyên bố của Hà Nội khiến cho dư luận báo chí Hoa Kỳ mất vía, cứ nơm nớp lo sợ một màn nhục nhả đến với quân đội Hoa Kỳ tại Khe Sanh giống như quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ.

Nhưng rồi đến đầu tháng 4-68 CSVN tuyên bố giải tỏa bao vây Khe Sanh như là một chứng tỏ thiện chí hòa bình để đáp lại lệnh giảm ném bom Miền Bắc của Tổng thống Hoa Kỳ ( Thực chất là 2 sư đoàn trong số 4 sư đoàn bao vây Khe Sanh bị bom B.52 tiêu diệt ).

Báo chí Hoa Kỳ tiếp tục làm áp lực buộc Tổng thống Johnson phải thay thế tướng Tư lệnh quân đội Mỹ Westmoreland. Ông tướng rời chức vụ như một kẻ chiến bại trong khi ông ta mới vừa chiến thắng oanh liệt, chỉ tiếc là quân HK không đếm được xác quân CSVN bị vùi chôn dưới những nấm mồ khổng lồ quanh Khe Sanh đề ông tướng có đủ bằng chứng thuyết phục báo chí.

Sau đó Washington quyết định ngồi vào bàn đàm phán với Hà Nội tại Paris.  Cuộc tiếp xúc đầu tiên được ấn định là ngày 10-5-1968.

Tuy nhiên những ngày đầu tháng 5 là những ngày Hà Nội đang chuẩn bị kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954).  Vì thế Hà Nội ra lệnh tổng tấn công đợt 2 trước khi có cuộc tiếp xúc đầu tiên.  Đẹp nhất là chiến thắng trong ngày 7-5 là ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ.

Tổng công kích đợt 2

Năm 1968, ngày 5-5, tại Sài Gòn, lúc 3 giờ sáng, nhiều toán đặc công CSVN xuất hiện tại nhiều nơi như khu Chợ Cầu Muối, Cầu Kho, khu Đề Thám, Bùi Viện, Gò Vấp, Phú Thọ Hòa, Khánh Hội.  Mỗi toán đặc công khoảng 4,5 người; có toán 10,12 người, họ rải truyền đơn kêu gọi nổi dậy.

Lê Duẩn không ngờ là ông ta đã bị đánh lừa về quân số của CSVN tại chiến trường Miền Nam. Sự thực họ chỉ còn khoảng 2.500 người trong khi Lê Duẩn đinh ninh là 500.000 người.  Do đó trận tổng tấn công là trận nướng cho hết số quân còn lại rồi báo cáo với Hà Nội rằng đã bị thương vong gần hết.

Năm 1968, ngày 19-6, tình hình yên tỉnh trở lại trên toàn quốc với tổng kết 3 trung đoàn chính quy CSVN hoàn toàn bị đánh tan.  Hầu hết bị tiêu diệt ngoài số đầu hàng hoặc hồi chánh .  Trong số đó có Đại tá Lê Văn Ngọt, tư lệnh phó Sư đoàn 5 CSVN;  Thượng tá huỳnh Thành Đồng, Tham mưu trưởng Sư đoàn 1/CSVN.  Trung tá Phan Việt Dũng, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165 thuộc Sư đoàn 7/CSVN;  Trung tá Huỳnh Cự và Thượng tá Tám Hà.

Chú giải :  Hồi ký của tướng CSVN Lê Đức Anh : ““Sau đợt 2, tôi đề nghị dứt khoát thôi, rút ra.  Dân chỉ giúp đỡ chứ không “nổi dậy” thì quân ta không ở nữa, rút ra!  Riêng biệt động thành ở lại thực hiện “điều lắng” (tan, hòa tan vào dân).  Anh Linh lặng im và đồng ý.  Hồi đó, làm việc ở R (rờ) “làm thinh là đồng ý”… ( Khuất Biên Hòa, Đại tướng Lê Đức Anh, trang 90, 91.  Cơ quan Rờ tức là Trung ương Cục Miền Nam ).

Tổng kết cuộc tổng tấn công đợt 2, quân đội CSVN chỉ mở có 6 cuộc tấn công với cấp tiểu đoàn hoặc trung đoàn;  so với đợt 1 là 29 cuộc tấn công cấp tiểu đoàn trở lên.  Nhưng lần này các tiểu đoàn và trung đoàn chỉ là những đơn vị được phóng đại.  Thí dụ như Trung đoàn Quyết Thắng là trung đoàn chủ lực Miền nhưng quân số chỉ có 400 người, so với một trung đoàn chính quy Bắc Việt là 2.600 người.  Con số 400 quân chưa đủ để gọi là tiểu đoàn (từ 500 đến 600 người) thế nhưng CSVN nói phao lên rằng đó là Trung đoàn Quyết Thắng.

Và tổng cộng trong đợt 2 tại thủ đô Sài Gòn chỉ có 3 trung đoàn ( Khoảng 1.200 quân ) và 6 tiểu đoàn địa phương ( Cao lắm là 1.200 quân ) đủ nói lên rằng lực lượng vũ trang của quân CSVN đã hoàn toàn bị tiêu diệt.

Năm 1968, ngày 10-6, CSVN làm lễ thành lập Chính phủ lâm thời Cọng hòa Miền Nam Việt Nam, nhằm xếp hàng ngang với vị trí của chính phủ VNCH tại hòa hội Paris.  Điều này khiến cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhất định không tham dự hòa đàm,  ông muốn VNCH phải ngồi ngang hàng với Bắc Việt.  Báo chí Mỹ cáo buộc  Nguyễn Văn Thiệu hiếu chiến và sợ mất cái ghế Tổng thống (sic).

Tổng công kích đợt 3

Năm 1968, ngày 17-8, sau nhiều ngày ngăm đe, quân CSVN mở cuộc tổng công kích đợt 3; đồng loạt pháo kích tại Vùng 1, Vùng 2 và Vùng 3 chiến thuật.  Riêng thủ đô Sài Gòn và Vùng 4 yên tĩnh.

Năm 1968, ngày 22-8, quân CSVN pháo kích 19 hỏa tiễn 122 ly vào Sài Gòn, Chợ Lớn.  Có 10 quả rơi vào Sài Gòn, 6 quả rơi vào Chợ Lớn, 3 quả rơi vào bến Bạch Đằng.

Tại Vùng 2, quân CSVN tấn công trại Bu Prang thuộc tỉnh Quảng Đức, cách biên giới Cam Bốt 5 Km.  Trận chiến chỉ kéo dài vài ngày, kết quả quân CSVN bị chết 776, quân Biệt kích Mỹ có 116 chết, trong đó có 2 người Hoa Kỳ.  Đây là trận tấn công lớn nhất của đợt 3 tổng tấn công và cũng là trận cuối cùng trong năm 1968 của CSVN.

Tổng kết đợt 3, quân CSVN mở ra 15 cuộc tấn công trên toàn quốc, nhưng chỉ có 2 trận cấp Tiểu đoàn, và cả hai trận đều ở vùng biên giới chứ không phải trong thành thị hay nông thôn Miền Nam.  Số lần pháo kích là 95 lần so với 433 lần trong đợt 2.  Riêng Sài Gòn chỉ có 3 lần pháo kích với 19 quả đạn.  Chứng tỏ lực lượng vũ trang của quân CSVN đã hoàn toàn tan nát, số đạn pháo cũng đã cạn kiệt.  Nhưng đáng tiếc là cơ quan CIA của Hoa Kỳ tại Sài Gòn không thấy ra điều này.

Năm 1968, ngày13-10, đại sứ Bunker cùng với Phó đại sứ Berger và Tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam là Tướng Abrams đến dinh Độc Lập trình bày diễn biến những gì mới xảy ra tại Paris và yêu cầu Tổng thống Thiệu chuẩn bị soạn thảo một tuyên bố chung với Tổng thống HK về việc ngưng ném bom toàn Miền Bắc và xúc tiến hòa đàm.

Tổng thống Thiệu không tin CSVN thực sự muốn đàm phán, ông nghĩ rằng Hà Nội chỉ bắt nọn các chính trị gia HK trong cuộc vận động tranh cử đang tới hồi kết thúc.  Rồi ông cho biết ông chỉ ký tên vào bản tuyên bố chung nếu Hoa Kỳ vẫn còn duy trì một lực lượng đủ để đối phó nếu Hà Nội xua quân qua vùng phi quân sự, và Hoa Kỳ phải bảo đảm sẽ tái oanh tạc Bắc Việt nếu Hà Nội lợi dụng hòa đàm để tạo lợi thế tấn công quân sự.

Johnson thông báo ngưng ném bom Bắc Việt hoàn toàn và vô điều kiện

Năm 1968, ngày 31-10, lúc 7 giờ chiều, tại Washington, Tổng thống Johnson đọc thông báo ngưng ném bom Bắc Việt hoàn toàn, phiên họp đàm phán sẽ diễn ra sau đó 1 tuần, và chính phủ VNCH sẽ không tham dự.

Năm 1968, ngày 1-11, lúc 8 giờ sáng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đọc một bài diễn văn đặc biệt trước lưỡng viện Quốc hội.  Sau vài câu mào đầu, ông đi thẳng vào vấn đề chính : “Chính phủ Việt Nam Cọng Hòa rất tiếc là không thể tham dự những cuộc hòa đàm sơ bộ hiện nay tại Paris”.  Cả Quốc hội đồng loạt đứng dậy vỗ tay.

Sau đó ông phân tích tình hình chiến sự hiện tại và giải thích vì sao VNCH không thể ngồi vào bàn đàm phán mặc dầu làm như vậy thì có thể dân tộc Việt Nam sẽ không còn sự hỗ trợ của đồng minh nữa.  Ông nói “Nếu cần thì dân tộc Việt Nam sẽ chống Cộng một mình”.

Tới phiên Nixon gởi thư cầu hòa cho Hồ Chí Minh

Năm 1968, ngày 27-11, Hoa Kỳ và VNCH ra thông báo chung sẽ cùng tham dự Hòa đàm Paris. Đây là do đại diện của Tổng thống đắc cử Mỹ Nixon nhờ đại sứ VNCH tại Mỹ thuyết phục Tổng thống Thiệu và Phó Tổng thống Kỳ.

Năm 1969, ngày 25-6,  Ngoại trưởng Hoa Kỳ William Rogers mời Đại sứ Bùi Diễm đến dùng cơm trưa tại Bộ Ngoại giao.  Theo hồi ký của ông Bùi Diễm thì Rogers có vẻ phân vân chưa tìm ra giải pháp để khai thông hòa đàm Paris, cuối cùng ông hỏi phía Việt Nam có “sáng kiến” gì không ?  Ba ngày sau Đại sứ Diễm đến gặp Cố vấn an ninh Quốc gia Kissinger thì ông này cũng không khá gì hơn; lại cũng hỏi Việt Nam có sáng kiến gì không ?

Năm 1969, ngày 14-7. Sainteny, một thương thuyết gia của chính phủ Pháp thời 1946, bí mật đáp xuống Washington để gặp Tổng thống Nixon.  Đây là do Kissinger móc nối để nhờ Sainteny chuyển trực tiếp đến Hà Nội những mật thư của Tổng thống Nixon. Ngày 15-7 Sainteny gặp Nixon, sau đó trở lại Paris liên lạc với Hà Nội để xin gặp thẳng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng Hà Nội từ chối vì ông HCM đang bệnh nặng.  Sainteny bèn trao cho Xuân Thủy thư tay ( Không đề ngày ) của Nixon gởi cho Hồ Chí Minh :

“Thưa Chủ tịch, Tôi biết rằng thật khó mà có thể trao đổi ý kiến một cách có ý nghĩa qua cái hố ngăn cách tạo ra bởi 4 năm chiến tranh.  Nhưng chính cũng vì hố sâu ngăn cách này – và vì sự nghi ngờ về thiện chí của chúng tôi được phía ngài nêu ra ở Ba Lê – Tôi muốn nhân dịp này long trọng tái xác nhận ước nguyện của tôi muốn đạt được một nền hòa bình công chính.

Tôi tin tưởng mãnh liệt rằng cuộc chiến tranh Việt Nam đã kéo dài quá lâu và trì hoãn việc chấm dứt chiến tranh không đem lợi cho ai cả – ít nhất là không có lợi cho nhân dân Việt Nam… …Tất cả chúng  ta đều đứng trước các quyết định quan trọng.  Bây giờ là lúc cần có tiến bộ trong hòa đàm dẫn đến một giải pháp chấm dứt cuộc chiến tranh thảm khốc này… …”( Hồi ký của Kissinger, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng ).

Nixon không ngờ đây là món quà vô giá cho Hà Nội.  Trong khi Hà Nội đang điếng người vì Phạm Hùng báo cho biết 500 ngàn quân CSVN đã chết sạch mà Washington vẫn không hề hay biết.  Có nằm mơ Lê Duẩn cũng không nghĩ ra là cơ quan tình báo của Mỹ lại tệ đến như vậy.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - NGUỒN GỐC TRUNG ƯƠNG ĐCSVN