Mao Trạch Đông không cho đánh vào Miền Nam

Tập tài liệu “Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua” do Nhà nước Cọng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công bố vào tháng 10 năm 1979 ghi rõ :

 “Ngày 22-7-1954, khi ăn cơn với Ngô Đình Luyện, em ruột Ngô Đình Diệm tại Geneve, Thủ tướng Chu Ân Lai đã gợi ý mở một Công sứ quán của Sài Gòn ở Bắc Kinh.  Dù Ngô Đình Diệm đã bác bỏ gợi ý đó, nhưng đây là một bằng chứng rõ ràng là chỉ 24 giờ sau khi Hiệp định Geneve được ký kết, những người lãnh đạo Bắc Kinh đã lộ rõ ý họ muốn chia cắt lâu dài nước Việt Nam” (trang 38).

“Tháng 11 năm 1956 Chủ tịch Mao Trạch Đông nói với những người lãnh đạo Việt Nam : “Tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn, mà cần phải trường kỳ… Nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm”(trang 38).

“Tháng 7 năm 1955, Tổng bí thư Đảng Cọng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình dọa: “Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả Miền Bắc”(trang 37).

“Tháng 7 năm 1957, Chủ tịch Mao Trạch Đông lại nói: “Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có.  Phải giữ vĩ tuyến 17… Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt”(trang 37).

*Chú giải :  Ngày nay nếu lấy con mắt chiến lược mà quan sát ý đồ của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh thì rõ ràng là họ có lý.  Nếu muốn đối đầu với Hoa Kỳ thì vấn đề không phải là bao nhiêu người, bởi vì ông Mao Trạch Đông thừa người; nhưng mà là bao nhiêu tiền? và tiền ở đâu ra?

Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình né tránh đương đầu trực tiếp với quân đội Hoa Kỳ.  Nếu đương đầu mà không hao tổn tiền của thì Bắc Kinh đã tấn công “giải phóng” Đài Loan, Hồng Kong hay Ma Cao mặc dầu quân đội Hoa Kỳ đang trấn đóng (xâm lược) trên đảo Đài Loan, mặc dầu Đài Loan và Hồng Kông đang bị “chia cắt lâu dài với đất nước Trung Quốc”. Họ  Mao thừa biết nếu thành công thì chỉ có dân Trung Hoa chết, nhà cửa của dân Trung Hoa đổ nát mà chẳng mang lại mối lợi nào cho ĐCS Trung Quốc.

Trái lại chỉ có hại trầm trọng do phải nuôi ăn nhân dân sau chiến tranh và xây dựng lại Đài Loan, Hồng Kong trên đống đổ nát. Điều này chỉ làm cho đất nước đi xuống một thời gian dài do vì kiệt quệ kinh tế.  Bắc Kinh thừa biết cái giá phải trả cho một cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ là như thế nào.  Trong khi đó các nhà lãnh đạo Đảng CSVN lại có những toan tính không khác gì các ông nông dân thất học, chỉ cần biết bành trướng quyền lực; còn con em của dân chúng chết mặc kệ, nhân dân đói mặc kệ, đất nước hoang tàn mặc kệ.

Năm 1956, ngày 14-5, Pháp gởi thông báo đến hai đồng chủ tịch hội nghị Geneve (Anh, Liên Xô) cho biết kể từ ngày 28-4-1956 Pháp không còn chịu trách nhiệm thi hành Hiệp định Geneve nữa và quân đội Pháp sẽ rút khỏi Miền Nam Việt Nam.

Nghe được tin này các cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc đòi trở về Nam, họ nói rằng cho họ về Nam đánh Mỹ cứu nước.  Thật ra thì họ quá ngán chế độ khắc nghiệt và tình hình kinh tế đói kém của chủ nghĩa Cọng sản, lại thêm thái độ bất thân thiện của nhân dân Miền Bắc.  Bằng mọi giá họ phải trở về Miền Nam, trở lại với đời sống vô tư giữa thiên nhiên với những cánh đồng vô tận, không bao giờ lo lắng tới cái ăn, cái đói.

Tài liệu của CSVN : “ Rồi sau đó khi mà quân và dân Miền Nam chúng ta không chịu nổi sự khủng bố tàn bạo dã man của Mỹ-ngụy đã đứng lên tổ chức đánh trả thì Trung Quốc nói với ta nên kềm chế, chỉ tổ chức lực lượng đánh trả ở quy mô cấp đai đội, còn Liên Xô thì nói ta chỉ nên tổ chức chiến đấu bảo vệ Miền Bắc” ( Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch Sử Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước 1954-1975, trang 214 và 215).

* Chú giải:  Trước phản ứng đòi làm loạn của hai sư đoàn bộ đội Miền Nam tập kết do Tướng Đồng Văn Cống và Tướng Tô Ký chỉ huy, các nhà lãnh đạo Hà Nội  cũng tính tới chuyện cho họ trở về Nam (hồi kết) bắt đầu kháng chiến chống Mỹ với vũ khí tự tìm lấy.  Dĩ nhiên là những cán binh hồi kết sẽ tự nuôi ăn bằng cách xin thân nhân của họ tiếp tế.  Còn nếu như họ chết thì chẳng trách ai được.  Được như vậy thì Hà Nội khỏi phải nuôi ăn và khỏi phải hứng chịu những trận “làm reo” của đám bộ đội Miền Nam.

Tuy nhiên có một vấn đề mà Hà Nội lo sợ nhất là có khả năng những bộ đội hồi kết sẽ ra hồi chánh theo Việt Nam Cọng Hòa, bởi vì bộ đội đã thấy rõ dân tình dưới chế độ Cọng sản, mọi người dân Miền Bắc đều muốn đào thoát vào Nam ( Giống hệt như dân chúng Miền Nam sau 1975).  Riêng về phần 2 sư đoàn bộ đội Miền Nam tập kết thì cũng sẽ giống như bộ đội CSVN tại Campuchia sau này, hễ gần tới biên giới Thái Lan thì họ vượt biên tập thể, xin tị nạn trên đất Thái.

Đáng tiếc là khi đó tại Miền Nam chưa có chính sách “Chiêu hồi”, mà chỉ có luật 10/59.  Luật này đặt những người cán binh CSVN hồi kết ra ngoài vòng pháp luật. Luật 10/59 không phải chỉ riêng có tại Miền Nam Việt Nam, mà có chung cho các nước đang có phong trào Cọng sản như Nam Hàn, Đài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai…để ngăn chặn phong trào du kích Cọng sản đang bành trướng mạnh trên thế giới.

Do áp lực của người Mỹ mà Tổng thống Ngô Đình Diệm phải ký luật 10/59 đặt những người Cọng sản Việt Nam ra ngoài vòng pháp luật, nhưng thực ra trong thâm tâm ông muốn mở đường tiếp nhận những cán binh Cọng sản từ Miền Bắc trở về.  Mãi tới năm 1963 khi quan hệ giữa Mỹ và Tổng thống Diệm trở nên xấu đi thì ông mới ra đạo luật Chiêu hồi vào ngày 17-4-1963.  Nhưng lúc đó người Mỹ lại nghĩ rằng Tổng thống Diệm đang mở đường để bắt tay với Hà Nội cho nên họ tìm cách sớm loại bỏ ông.

Nghị quyết 15 trung ương ĐCSVN : Đánh vào Miền Nam

Năm 1957, tại Hà Nội, Tư lệnh phó Sư đoàn 330 là Đại tá Lê Đức Anh gặp ông Lê Duẩn từ Miền Nam ra (1957), ông Anh hỏi tại sao không tổ chức võ trang chiến đấu cho Miền Nam?  Ông Duẩn đáp :

“Ở trỏng, quân Mỹ ngụy bắn giết, tàn sát dân mình quá thể, sau một vài trận đầu ta thử nghiệm có hiệu quả, chừ khắp miền Nam đang rậm rịch chuẩn bị và nóng lòng chờ lệnh cho hoạt động võ trang.  Nhưng từ hôm ra Miền Bắc tới nay mới chỉ một vài tháng mà tôi đã thấy tình hình quốc tế, tình hình trong nước nó phức tạp quá, và càng thấy rõ một điều rằng, dù mình rất muốn nhưng không thể nôn nóng được” ( Khuất Biên Hòa, Đại Tướng Lê Đức Anh, trang 57 ).

Lê Đức Anh giải thích thêm : “Liên Xô thì khuyên ta thi đua hòa bình, hãy bảo vệ Miền Bắc, còn ở Miền Nam thì đấu tranh bằng hòa bình, thi hành hiệp định”.  Còn Trung Quốc thì bảo ta hãy “Kiên trì mai phục, xây dựng làm cho Miền Bắc mạnh lên sẽ phát huy tác dụng với Miền Nam”.  Cả hai người bạn lớn của ta đều không muốn ta phát động đấu tranh vũ trang” ( trang 59 )..

Năm 1959, ngày 5-1,  theo hồi ký của Mai Chí Thọ : “Tháng 01/1959 Trung ương họp và đồng ý cho phép cuộc cách mạng đấu tranh ở Miền nam được sử dụng hình thức võ trang tuyên truyền và võ trang tự vệ…Cuộc họp tuy có biên bản nhưng chưa ra được văn bản nghị quyết”… “Cuối năm 1959 văn bản Nghị quyết 15 mới tới Xứ ủy Nam Bộ” ( quyển 2, trang 91 và 92).

* Chú giải :  Văn bản nghị quyết được ký chính thức là ngày 31-1-1960, sau khi bà Nguyễn Thị Định tổ chức một cuộc nổi dậy của lực lượng Cọng sản tại 3 huyện Minh Tân, Mỏ Cày, Thạnh Phú thuộc tỉnh Bến Tre vào ngày 17-1-1960 ( Almanach Những Sự Kiện Lịch Sử Việt Nam, trang 984 ).  Và sau trận Mai Chí Thọ tấn công Trung đoàn 32 của VNCH tại Tua Hai, Tây Ninh vào ngày 26-1-1960.

Các nhà nghiên cứu sử đã đánh một dấu hỏi tại sao nghị quyết 15 chỉ có biên bản nhưng không ra được văn bản?  Rồi đến khi ra văn bản lại có một văn bản dõm đưa vào Miền Nam vào cuối năm 1959 trong khi giấy tờ lưu cho thấy văn bản thật được ký vào ngày 31-1-1960? (Almanach Những Sự Kiện Lịch Sử Việt Nam, trang 112).

Thực ra không có gì khó hiểu.  Tất cả các cuộc họp của Trung ương đảng đều có người của ông Mao Trạch Đông ngồi ở đó, cho nên các văn bản nghị quyết của Trung ương Đảng đều được chuyển về Bắc Kinh.  Nhưng Mao Trạch Đông không cho phép vũ trang chiến đấu tại Nam Việt Nam.

Năm 1961, đầu năm.  Hồi ký của Trần Quỳnh : “Năm 1961 ( vào khoảng đầu năm nếu tôi không nhớ lầm ), khi phong trào Đồng Khởi lên cao, thành phần yếu tố vũ trang tăng lên khá, báo chí Mỹ la lối rùm beng là ta phát động chiến tranh, vi phạm Hiệp Định Genève ( mà chúng đã vi phạm từ đầu ), Trung Quốc chất vấn, yêu cầu ta giải thích tại sao ta phát động đấu tranh vũ trang ở Miền Nam.

Bác Hồ thấy Trung Quốc chất vấn rất lo, bèn phái Lê Duẩn sang trình bày với Trung Quốc. …. Lê Duẩn sang Bắc Kinh, Chu Ân Lai tiếp và nói: “Vì sao các anh lại đấu tranh vũ trang ở Miền Nam? Các anh phải thấy nếu các anh phát động đấu tranh vũ trang ở Miền Nam thì chiến tranh sẽ lan ra Miền Bắc. Nếu chiến tranh ra Miền Bắc thì chúng tôi báo cho các anh biết Trung Quốc không thể gửi quân sang giúp các anh để đánh Mỹ được đâu”.

*Chú giải : Tại sao Mao Trạch Đông không cho đánh Miền Nam ?

Năm 1954 người Mỹ có 350 ngàn quân tại Nhật ( để giúp Nhật phòng thủ quốc phòng vì sau 1945 Nhật không có quân đội ). Mỹ cũng có 320 ngàn quân tại vĩ tuyến 38 của Hàn Quốc để chặn quân Bắc Hàn ( Nâng tổng số quân Mỹ và Nam Hàn tại vĩ tuyến 38 lên tới 1 triệu quân ).  Và cũng có 230 ngàn quân Mỹ tại Đài Loan để ngăn ngừa quân Trung Cọng tấn công Đài Loan.

Trong khi đó tại Nam Việt Nam chỉ có 200 ngàn quân VNCH ( Hậu thân của quân đội Quốc gia thời Bảo Đại ) cho nên người Mỹ có khuynh hướng muốn đưa vài trăm ngàn quân đến Việt Nam như là tại các nước kia, mục đích chính là ngăm đe ông Mao Trạch Đông đừng tính tới chuyện đánh chiếm Nam Việt Nam.  Bởi vì hễ thôn tính Nam Việt Nam thì ông Mao phải thôn tính quân Mỹ trước, tạo nên chiến tranh Mỹ- Trung.  Đến lúc đó Mỹ có quyền sài cả bom nguyên tử để tấn công Trung Cọng.

Tuy nhiên ý tưởng này không được sự tán đồng của nhiều người Mỹ cũng như của Tổng thống Ngô Đình Diệm.  Người Mỹ thì cho rằng kinh tế Trung Cọng kiệt quệ sau khi xây dựng chế độ Cọng sản tại Hoa Lục không thành công cho nên Mao Trạch Đông không còn hơi sức đâu để nhòm ngó Nam Việt Nam.  Vả lại đã có Bắc Việt làm trái độn,  khi nào quân Bắc Kinh vào trấn đóng tại Bắc Việt thì lúc đó Mỹ mới đưa quân vào Nam Việt Nam.

Còn Tổng thống Ngô Đình Diệm thì cho rằng không cần phải đưa hằng trăm ngàn quân Mỹ vào Việt Nam để chống lại hoạt động du kích của quân CSVN tại vùng đồng bằng sông Cửu Long với dao găm, mã tấu và vài cây súng cũ.  Ông chỉ cần người Mỹ trang bị vũ khí cho lực lượng dân sự tại xã ấp ( Quốc sách Ấp chiến lược ).

Năm 1972, trong cuộc tiếp đón Tổng thống Nixon viếng thăm Bắc Kinh.  Chủ tịch Mao Trạch Đông đã thân mật nói với Nixon rằng “Các ông đã phạm sai lầm lớn khi quyết định loại bỏ Ngô Đình Diệm” ( Hồi ký của Nixon )…  Ngày đó Nixon cũng như ngày nay ít có người phân tích được câu nói của họ Mao, không hiểu tại sao việc loại Ngô Đình Diệm lại sai lầm.

Thực ra trước khi Tổng thống Diệm bị giết thì tình thế của CSVN tại Miền Nam được ghi trong hồi ký của Đại tướng công an CSVN Mai Chí Thọ, Ủy viên Bộ chính trị CSVN :

“Rất tiếc bấy giờ chúng ta chỉ nêu lên việc người dân Miền Nam bị áp bức, khổ sở mà không thấy rõ đựoc khía cạnh phức tạp của chủ nghĩa thực dân kiểu mới.  Rõ ràng đời sống kinh tế ở Miền Nam lúc bấy giờ kinh tế có khá lên, đó là mặt khác của vấn đề mà chúng ta phải nhìn nhận” ( Theo Bước Chân Lịch Sử, trang 84 ). 

Diễn biến tình hình trên đây đã làm cách mạng Miền Nam chịu tổn thất hết sức nghiêm trọng… Đảng bộ Miền Đông Nam Bộ từ 21 ngàn đảng viên, đến khi đồng khởi vào đầu năm 1960 chỉ còn không tới 800 đảng viên (3,8%), trong đó chỉ còn lại ba chi bộ của tỉnh Gia Định và một chi bộ của tỉnh Biên Hòa, số đảng viên còn lại đều sinh hoạt đơn tuyến  (Theo Bước Chân Lịch Sử, quyển 2, trang 54).

Nếu ngày đó Mỹ chịu nghe lời Tổng thống Diệm trang bị vũ khí cho lực lượng dân sự tại nông thôn Miền Nam thì 3,8% đảng viên còn lại của CSVN sẽ còn 0%.  Lúc đó Mao Trạch Đông sẽ không bao giờ dám mơ tới chuyện đổ của cho Hà Nội đánh vào Miền Nam.

Sau này có nhiều người mến mộ Tổng thống Diệm cứ cho rằng ông Diệm phản đối việc Mỹ muốn đưa hằng trăm ngàn quân Mỹ vào Việt Nam cho nên Mỹ giết NĐD để được đưa quân vào Việt Nam ( sic).  Nhưng thực ra Tổng thống Diệm chỉ phản đối trước năm 1961 chứ năm 1965 thì chính Mao Trạch Đông tuồn vũ khí và đô la cho CSVN để Hà Nội đưa hằng trăm ngàn quân Bắc Việt tràn vào Nam với cấp Sư đoàn cùng với vũ khí hạng nặng, nếu Tổng thống Diệm còn tại vị ông cũng phải tán thành ngay mà thôi. Tình hình quân sự Nam Việt Nam trước 1961 và sau 1965 khác nhau một trời một vực.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - NGUỒN GỐC TRUNG ƯƠNG ĐCSVN