Lê Duẩn đi đêm với Krushchev

Tháng 12 năm 1963 hội nghị Trung ương 9 ĐCSVN quyết định theo Tàu.  Tháng 1 năm 1964 Lê Duẩn dẫn một phái đoàn sang Liên Xô. Theo như hồi ký của Trần Quỳnh thì đây là một chuyến đi cầu viện vũ khí.  Nhưng theo Hoàng Văn Hoan thì Lê Duẩn đã bí mật đàm phán riêng với Krushchev nhưng không biết là đàm phán chuyện gì.

Tháng 10 năm 1964 Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ đi Liên Xô.  Và ngày 8-2-1965 Thủ tướng Liên Xô Kosygin sang Việt Nam.  Hai bên ký thông cáo chung về “củng cố khả năng quốc phòng của CSVN”, nghĩa là cung cấp vũ khí cho Hà Nội.

Năm 1965, ngày 16-2, một tuần sau khi Kosygin đến Hà Nội.  Quân đội VNCH bắt được một tàu chở vũ khí của CSVN tại Cảng Vũng Rô thuộc tỉnh Khánh Hòa.  Trên tàu gồm có 3.600 khẩu AK.47 còn mới nguyên, hơn 1 triệu viên đạn, 1.000 thỏi chất nổ Beta, 2.000 quả đạn súng cối, 500 lựu đạn chồng chiến xa, 250 ký thuốc nổ TNT, 250 ký thuốc tây.

Mỹ hoảng hồn, Trung Cọng bật ngữa;  nghĩa là Mạc Tư Khoa đã âm thầm cung cấp vũ khí cho Hà Nội từ tháng 10-1964.  LX cung cấp các loại vũ khí tối tân nhất chứng tỏ Krushchev quyết tâm đánh Mỹ để lấy lại uy tín sau khi ông ta đã phải rút hỏa tiễn ra khỏi Cuba. Lúc này súng AK.47 là loại súng trường tối tân nhất của thế giới nhưng chưa bao giờ xuất hiện trên chiến trường.

Nhật ký hải hành của chiếc tàu cho thấy đây là chuyến thứ 23 đổ người và vũ khí vào Miền Nam.  Ngũ Giác Đài không biết đã có bao nhiêu vạn khẩu AK.47 và bao nhiêu vạn quân đã được đưa vào Nam bằng đường biển và đường bộ *( Thực ra đây chỉ là chuyến tiếp tế vũ khí duy nhất, sau đó thì chuyển qua cảng Sihanukville ).  Chính phủ Mỹ vội vàng lên kế hoạch đổ quân vào Việt Nam trước khi mọi chuyện trở nên quá muộn.

Năm 1965, ngày 8-3, một tháng sau vụ Vũng Rô.  Hai tiểu đoàn TQLC Mỹ đổ bộ vào cảng Đà Nẳng.  Cùng lúc này CIA cho bộ trưởng Quốc phòng Mỹ MacMamra biết rằng quân bắc Việt đã hiện hiện tại Miền Nam là 170.000 quân, và nhiều trung đoàn, sư đoàn khác đang trên đường vào Nam.  *( CIA bị mắc lừa, Thực ra đây là tin dõm do CSVN tung ra ).  Ngày 1-4-1965 Mỹ đưa thêm 2 tiểu đoàn nữa và một số đơn vị công binh, nâng tổng số lên 20.000.

Năm 1965, ngày 19-4, hai tháng sau vụ Vũng Rô.  Mỹ quyết định tăng số quân đội Mỹ tại Việt Nam lên 82.000 người, trong đó có 7.000 quân của các nước đồng minh của Hoa Kỳ.  Đến tháng 7 thì nâng lên 127.000.

Năm 1965, hồi ký Hoàng Văn Hoan : “Vào khoảng giữa năm 1965, trong dịp thăm Mạc Tư Khoa, Lê Duẩn đã triệu tập nhân viên Sứ quán Việt Nam và đại biểu học sinh Việt Nam học ở Liên Xô về Sứ quán nói chuyện ca ngợi LX, và phê phán một số chính sách của Trung Quốc”.

“… khi Lê Duẩn còn ở Mạc Tư Khoa, Tố Hữu đã mở một cuộc hội nghị cán bộ tuyên huấn toàn miền Bắc, cho phép Trần Quỳnh đứng ra phê phán một số chính sách của Trung Quốc với những luận điệu y hệt như luận điệu của Lê Duẩn đã nói chuyện ở Sứ quán Việt Nam tại Mạc Tư Khoa …” 

Phê phán hành động “đánh ngầm” của Lê Duẩn, Hoàng Văn Hoan viết  :

“Vì sao Lê Duẩn là một người tham gia cách mạng đã lâu năm, mà đối với một người bạn đã từng cùng hoạn nạn, cùng chiến đấu với nhân dân Việt Nam suốt hơn hai mươi năm như Trung Quốc mà lại có một thái độ vong ơn bội nghĩa như vậy?  Vì trong đầu óc Lê Duẩn đã sẵn có một thứ tư tưởng chống Trung Quốc do thực dân Pháp nhồi nhét từ trước và sau lại được chủ nghĩa xét lại Khơ-rút-sốp nhồi nhét thêm” (sic). 

*( Đây không phải là suy nghĩ chủ quan của Hoàng Văn Hoan, mà là trào lưu “cảm kích ân nghĩa trời biển” của TC trong lòng nhân dân Miền Bắc.  Hoàng Văn Hoan vô tư nguyền rủa Lê Duẩn “vong ơn bội nghĩa” mà không hề ngượng miệng bởi vì mọi người đều đồng tư tưởng như vậy cả, không phải trong Đảng, mà trong dân chúng cũng vậy ).

Năm 1965, tháng 5, Trung Cọng từ chối đưa phi công quân sự sang chiến đấu tại BV theo như hiệp ước quân sự bí mật đã ký trước đó với Hà Nội ( Bạch thư của Nhà nước CHXHCNVN, trang 46 ).

Chiến trường Tây Nguyên

Tháng 9 năm 1964, các tướng Nguyễn Chí Thanh, Trần Độ, Lê Trọng Tấn, Hoàng Cầm, Nguyễn Hòa vào Nam bằng máy bay đến Singapor rồi đi bằng tàu buôn Trung Quốc cập bến Sihanukville, rồi đến biên giới Tây Ninh vào cuối năm 1964.  Trong khi đó Thiếu tướng Chu Huy Mân, Thượng tá Đặng Vũ Hiệp, Thượng tá Bùi Nam Hà đi bằng tàu buôn Trung Quốc, cập bến Vũng Rô, Phú Yên;  rồi ra Quảng Ngãi.

Tháng 10 năm 1964, Sư đoàn 325, do Sư đoàn trưởng Nguyễn Hữu An chỉ huy, đang hoạt động tại vùng Quảng Bình, Quảng Trị vào Nam bằng cách theo đường xe hơi từ Đồng Hới vượt biên giới Lào Việt tại đèo Mụ Già.  Tháng 12 năm 1964 thì đến Dakto thuộc tỉnh Kontum.  Tuy nhiên vì tình trạng không đủ gạo ăn cho nên Thượng tá Nguyễn Hữu An để lại Trung đoàn 101 tại Kontum, dẫn Trung đoàn 18 và Trung đoàn 95 xuống hoạt động tại vùng rừng núi Bình Định, Quảng Ngãi.

Năm 1965, ngày 31-5, CSVN đưa Trung đoàn 320 và Trung đoàn 101 bao vây tần công đồn Biệt kích Đức Cơ, cách biên gới Việt Miên 13 cây số. Quân đội VNCH đưa 3 tiểu đoàn Nhảy Dù và 2 tiểu đoàn TQLC đến tiếp viện.  Hai trung đoàn CSVN bị đánh tan, bỏ lại tại trận 556 xác chết và 27 bị bắt sống.

Năm 1965, tháng 7, Hà Nội điều các ông Chu Huy Mân, Đặng Vũ Hiệp, Bùi Nam Hà, Nguyễn Hữu An từ Bộ tư lệnh Khu 5 ở Quảng Ngãi lên Tây Nguyên thành lập Mặt trận Tây Nguyên (B.3). Mặt trận có 2 trung đoàn chủ lực là Trung đoàn 320 (Còn có tên là Trung đoàn 32) và Trung đoàn 101 (Sau đổi thành Trung đoàn 33).

Năm 1965, tháng 8, tại Tam Kỳ, Quảng Tín. Trung đoàn 95 CSVN tập trung tại bán đảo Ba Làng An để chuẩn bị tấn công căn cứ Chu Lai của Mỹ.  Tướng Lewis Walt của Mỹ điều động 2 tiểu đoàn TQLC Mỹ cùng với chiến xa và hải pháo lùa trung đoàn 95 CSVN đến cuối bán đảo và tiêu diệt, quân CSVN để lại tại chỗ 700 xác chết.  Phía Mỹ không có tổn thất về nhân mạng. Đây là trận đánh đầu tiên và cũng là trận đánh đẹp nhất của quân đội Mỹ ( Hồi ký của Tướng Westmoreland ).

Năm 1965, đầu tháng 9, Tướng Westmoreland đưa Sư đoàn 101 khinh kỵ Mỹ lên An Khê, giữa Bình Định và Pleiku, để tăng cường phòng vệ cho Cao Nguyên.  Hà Nội đưa thêm 2 trung đoàn CSVN vào Cao Nguyên để dựng lại hai Trung đoàn 320 và 101.  Sau đó đổi thành Trung đoàn 32 và Trung đoàn 33

Năm 1965, ngày 19-10,  hai Trung đoàn 32 và 33 CSVN bao vây tấn công đồn Biệt kích Pleime. Phía VNCH đưa 2 Tiểu đoàn Biệt Động quân, 2 đại đội Biệt kích tiếp ứng, 1 tiểu đoàn chiến xa, 1 đại đội pháo binh đến gải cứu cho đồn Pleime.  Ngày 26-10 hai trung đoàn CSVN bị đánh tan phải chạy dạt về thung lũng Ia Drang, vùng biên giới Miên. Để lại tại chỗ 400 xác chết và 5 bị bắt sống.

Năm 1965, ngày 27-10, Lữ đoàn 1 Khinh kỵ Mỹ mở cuộc hành quân lục soát khu vực thung lũng sông Ia Drang để tiêu diệt tàn binh của hai trung đoàn 32 và 33 CSVN.  Ngày 14-11 quân Mỹ đụng độ với Trung đoàn 66 CSVN mới từ ngoài Bắc vào Tây Nguyên.  Trung đoàn này thuộc sư đoàn 304 CSVN do Đại tá Nguyễn Nam Khánh làm Chính ủy.  Đại tá Khánh cùng với 2 trung đoàn còn lại ( 9 và 57 ) đang trên đường vào Nam.

Từ ngày 14 đến ngày 17-11 hai bên đánh nhau một trận lớn nhất trong lịch sử đánh nhau giữa quân CSVN và quân Mỹ.  Kết quả quân CSVN để lại tại chỗ 1.249 xác, 25 bị bắt.  Phía Mỹ có 79 chết và 125 bị thương.

Năm 1965, ngày 18-11, quân Mỹ tại mặt trận Ia Drang được thay thế bằng 5 tiểu đoàn Nhảy dù VNCH.  Tàn quân của 3 trung đoàn 32, 33 và 66 CSVN bị càn quét lượt chót.  Quân CSVN bỏ lại tại chỗ 265 xác, bị bắt 10.

Năm 1965, ngày 8-12, Tướng CSVN Chu Huy Mân họp Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên.  Để tổng kết chiến dịch Tây Nguyên.  Hội nghị kết luận vừa qua các đơn vị CSVN “đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ được đặt ra.  Cách hành quân “Vây điểm diệt viện” của Đảng ủy là đúng đắn.

*[ Đây là một cách nói thông lệ trong các cuộc kiểm thảo của CSVN.  Hễ khi nào thắng thì nói là thành công mỹ mãn, thành công vượt bực.  Khi nào huề thì nói là đã hoàn thành chỉ tiêu đã đề ra hay là hoàn thành chỉ tiêu cấp trên giao phó.  Còn khi nào thất bại thì nói “cơ bản hoàn thành” ( nghĩa là chưa hoàn thành ). Hoặc là nói “đã thi hành đúng đắn” thì có nghĩa là thất bại nhưng không có chỗ nào sai sót ( không ai có lỗi, chẳng ai bị phạt )].

Mỹ tìm đường điều đình với CSVN

Dư âm của trận đụng độ đầu tiên giữa quân đội Mỹ với quân đội CSVN tại thung lũng sông Ia Drang với 79 lính Mỹ chết và 125 bị thương khiến cho người Mỹ mất hồn.  Ngũ Giác Đài nhận ra là họ đã sai lầm khi xua voi đi bắt chuột.  Với cái lối chiến tranh bán du kích như thế này thì quân Mỹ hoàn toàn bị động, họ không biết quân địch có bao nhiêu và ở đâu.  Đây là một trận chiến không có chiến tuyến, quân địch có mặt ở khắp mọi nơi và trong bóng tối.

Đó là cuối năm 1965, đến đầu năm 1966 thì tài liệu của CIA được giải mật năm 2009 cho thấy :

“Hoa Kỳ có ý tìm một giải pháp chính trị cho cuộc chiến Việt Nam từ mùa Xuân năm 1966 khi John Hart đến Sài gòn thay thế Peer de Silva. Hart cho mở một phòng (gọi là Viet Cong Branch) chuyên lo việc tìm đường giây tiếp xúc với MTGP không qua các thông tin từ phía VNCH ( CIA and The Generals, bản dịch của Trần Bình Nam ).

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - NGUỒN GỐC TRUNG ƯƠNG ĐCSVN