Tranh luận trong bài viết “Tuyên giáo CSVN thi đấu với tuổi trẻ Việt Nam” :

Dư luận viên CSVN “Nỗi Buồn Cố Quận” :  Chiến dịch tố cộng và luật 10/58 của Ngô Đình Diệm so sánh với” Cải cách ruộng đất”, ai “khủng” và tàn bạo hơn?

Đáp lời của bạn đọc Nguyễn Văn Thạc :  Thạc tôi đưa ra tài liệu của VNCH để người đọc xét xem nên tin vào tài liệu nào :

Đợt 2 Cải cách ruộng đất :

Năm 1954, ngày 23 tháng 10, tiến hành đợt 2 Cải cách ruộng đất tại 22 xã thuộc tỉnh Thái Nguyên, 100 xã thuộc tỉnh Phú Thọ, 22 xã thuộc tỉnh Bắc Giang, 65 xã thuộc tỉnh Vĩnh Phúc và 66 xã thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đặc biệt trong đợt này có cha mẹ của ông Trường Chinh bị đem ra đấu tố để làm gương.

*Chú giải : Tội lỗi của Trường Chinh

Nếu ông Hồ Chí Minh mang tội là bạc ác bất nhân thì ông Trường Chinh lại bị dân chúng Việt Nam kết tội là bất nghĩa. Ông đã quyết định cho đấu tố cha mẹ của ông để làm gương mặc dầu các cụ đã hết lòng hỗ trợ cho cách mạng Việt Nam từ đầu tới cuối; các cụ đã che giấu và tiếp tế cho các ông trong những tháng ngày ông hoạt động bí mật, các cụ đã bới sách thăm nuôi ông trong những năm ông nằm trong tù.

Dĩ nhiên Trường Chinh cho đấu tố cụ ông Đặng Xuân Viên và cụ bà Nguyễn Thị Thu chỉ là nêu gương và làm cho có chứ không phải ông thù ghét cái tội địa chủ của cha mẹ mình. Nhưng một khi cha mẹ của Tổng bí thư bị đem ra đấu tố làm gương thì không có một ai được lọt lưới và không một ai được nể nang hay chiếu cố. Đặc biệt là các em thanh thếu niên có được một bài học mạnh dạn đấu tố cha mẹ của mình; đưa tới hậu quả là luân thường đạo lý bị đảo lộn, con người không còn tình người.

Ngày nay ông Nguyễn Chí Thiện, một người từng bị ở tù 27 năm vì tội phản đối chế độ Cọng sản, đã viết một tập thơ mang tựa đề “Hoa Địa Ngục”; trong đó có một bài thơ nói về tâm trạng của một nông dân bị chính con gái của mình tố khổ, trước “tòa án nhân dân” ông phải gọi con gái của mình bằng bà và xưng con.

Ông Nguyễn Chí Thiện cảm thấy buốt lòng với hình ảnh bất nhân bất nghĩa đó, nhưng ông không nghĩ thêm một chút nữa để thấy rằng người con gái kia đã học theo Trường Chinh. Và ông Nguyễn Chí Thiện cũng không ngờ rằng ngày nay còn có vô số thanh niên tại Việt Nam đang học theo Trường Chinh.

Năm 1954, ngày 24 -10, tàu Jules Veres của Hải quân Pháp vớt được 3.000 dân tị nạn trên vùng Vịnh Bắc Việt, tàu Commandant de Pimodam vớt được 600 người, hai tàu Hải vận LSM từ Hải Phòng tới tăng cường vớt được 2.000 người. Người dân phải trốn thoát bằng đường biển vì đường bộ đã bị chính quyền Cọng sản ngăn chận.

Báo Journal d’Extrême-Orient ngày 25-10 đưa tin: “Với những lá cờ vàng và trắng của Vatican phất phới trong gió, hàng ngàn chiếc ghe đánh cá, bè mảng và thuyền buồm chất dầy người tị nạn đã ra đi trong đêm, phó mặc cho số phận, đã tiến về những chiến hạm của Pháp ở ngoài khơi Vạn Lý, bên kia hải phận của Việt Minh.

Không may có nhiều thuyền bè đóng vội vàng đã bị sóng lật úp hoặc đánh vỡ khiến hàng trăm người tị nạn đã chết”… “Những chiếc thuyền bè đó lại lập tức quay về để chở thêm những người khác. Thủy thủ đoàn người Pháp đã làm việc hết sức để chuyển người lên tàu, kể cả những trẻ sơ sinh, người già và người bệnh”.

Năm 1954, tháng 11, Hải quân Pháp được lệnh xông vào bãi biển đảo Trà Lý để cứu thoát khoảng 6.000 người tị nạn đang tạm trốn tránh ở đó. Họ là những người dân tỉnh Thái Bình đã lợi dụng đêm tối, nước thủy triều rút, liều mạng lội bộ ra đảo Trà Lý để mong được cứu vớt, nhưng gần sáng nước thủy triều lên, nhiều người đi sau đã bị sóng cuốn đi. Đô đốc Jean Marie Quelrville ra lệnh cho các tàu nhỏ tiến vào Trà Lý chiếu đèn pha lên bờ để cho thủy thủ xuống cứu người tị nạn. Qua 2 đêm sau, dân chúng Thái Bình lại kéo nhau lội bộ ra đảo Trà Lý để được cứu, Hải quân Pháp cứu được khoảng 5.000 người đưa về Hải Phòng.

Năm 1954, tháng 11, tàu LSM của Hải quân Pháp do Đại úy Gerald Cauvin chỉ huy đã theo sự hướng dẫn của máy bay quan sát tiến tới 14 chiếc thuyền buồm dang vật vã ở ngoài khơi Vịnh Hạ Long. Cứu được 1.000 người đang bị đói khát đã 5 ngày vì họ trốn thoát một cuộc truy đuổi từ làng Cửa Lò tỉnh Nghệ An.

Có một bác sĩ Hoa Kỳ tên là Thomas Dooley có mặt trên chiếc tàu cứu vớt dân Cửa Lò. Sau này ông viết cuốn sách Delivers Us from Evil: The stray of Vietnam’s Flight to Freedom, xuất bản năm 1956. Trong đó ông kể rằng những người đào thoát đã cho ông biết là họ đã chuẩn bị rất nhiều ngày để trốn đi trong một đêm không trăng. Theo sự sắp đặt trước, một em nhỏ tên là Mai Văn Thịnh chịu hy sinh ở lại đã đốt nhà ở đầu làng rồi hô hoán cho dân quân đến chữa cháy, trong khi đó hơn một ngàn người kéo nhau xuống thuyền ra biển.

Em Thịnh có cha mẹ bị chết trong chiến tranh, chỉ còn một người anh duy nhất tên Châm. Nhưng Châm đã bị Cọng sản đưa ra tòa án nhân dân vào ngày 16-1-1953 vì tội cầm đầu một phong trào thanh niên Công giáo. Châm bị trói vào một thân cây, bị đánh đập bằng gậy gộc và bị tưới xăng thiêu sống. Lúc bác sĩ Dooley viết sách này thì không ai biết số phận của Mai Văn Thịnh ra sao nhưng mọi người đều đoán là em chắc phải chết.

Năm 1955, ngày 15-1, kết thúc đợt 2 Cải cách. Kết quả là nhân dân trong các vùng cải cách quá hoảng sợ kéo nhau chạy về Hà Nội và Hải Phòng để xin phương tiện của Liên Hiệp Quốc mà di cư vào Nam.

Thực tế của cách mạng cải cách ruộng đất đã cho nhân dân thấy con người đối với con người chỉ còn… “sắt và máu”. Hoàng Tùng kể lại hậu quả của Cách mạng Cải cách ruộng đất bằng những câu mộc mạc như sau:

“Hậu quả là hơn 1 triệu người di cư vào Nam. Ta đổ tội cho Pháp, Mỹ, điều đó chỉ đúng phần nào, còn là do ta làm ẩu, đánh vội, đánh tràn hết. Không phải địa chủ mà phú nông, thậm chí trung nông cũng đánh”.

Hoàng Tùng thú nhận có hơn 1 triệu dân Miền Bắc đã di cư vào Nam là năm 1954, năm đó mới phát động thí điểm Cách mạng cải cách ruộng đất tại Khu 4 và Trung Du Bắc Việt, chứ nếu như đã phát động trên toàn Miền Bắc thì con số người chạy về phía Tự Do phải gấp 10 số đó.

Đợt 4 Cải cách ruộng đất

Năm 1955, ngày 27-6, tiến hành đợt 4 Cải cách ruộng đất tại 17 xã thuộc tỉnh Phú Thọ, 1 xã tại Bắc Giang, 111 xã thuộc Vĩnh Phúc, 60 xã thuộc Bắc Ninh, 71 xã thuộc Sơn Tây, 98 xã thuộc Hà Nam, 47 xã thuộc Ninh Bình, 207 xã thuộc Thanh Hóa, 5 xã thuộc Nghệ An, 227 xã thuộc Hà Tĩnh.

Năm 1955, ngày 19-8, kết thúc thời gian gia hạn 3 tháng, mọi cuộc di chuyển Bắc Nam chấm dứt. Tổng kết có 875.478 người Miền Bắc được Quốc tế giúp đỡ di cư vào Nam. Sau ngày gia hạn 19-8-1955, lại có thêm 76.000 người chạy vào Nam bằng bè, thuyền hay đường bộ băng qua Lào, nâng tổng số người tị nạn lên 950.000 người.

Trong khi đó có 140 ngàn cán bộ, bộ đội Cọng sản đã di chuyển ra Bắc bằng phương tiện ghe bầu hay đường bộ qua cầu Bến Hải và có 4.358 người dân di cư ra Bắc được Quốc tế giúp đỡ, gồm 1.018 người đi bằng máy bay và 1.913 người đi bằng tầu thủy, trong số này có 630 người là công nhân đồn điền cao su đã mãn hạn hợp đồng muốn xin trở về quê bằng phương tiện của Liên Hiệp Quốc.

Đợt 5 Cải cách ruộng đất.

Năm 1955, ngày 25-12, tiến hành đợt 5 Cải cách ruộng đất tại 8 xã Bắc Ninh, 45 xã Ninh Bình, 163 xã Nghệ An, 6 xã Hà Tĩnh, 118 xã Quảng Bình, 21 xã Vĩnh Linh, 217 xã Hải Dương, 149 xã Hưng Yên, 294 xã Thái Bình, 83 xã Kiến An, 47 xã Hà Nội, 9 xã Hải Phòng, 40 xã Hồng Quảng.

Năm 1956, ngày 30-7, trước cao trào nhân dân đồng loạt nổi lên chống lại phong trào Cải cách ruộng đất, ĐCSVN ra lệnh chấm dứt giai đoạn 5 Cải cách ruộng đất và cho thi hành biện pháp sửa sai. Tổng kết: đã thực hiện Cải cách tại 3.314 xã, thuộc 22 tỉnh, trong thời gian 3 năm, gồm 2.435.518 gia đình với 10.699.504 nhân khẩu. Tổng số các ông đội cải cách (cán bộ nòng cốt của Đảng) được huy động vào chiến dịch là 48.818 người.

Tổng kết chiến dịch cải cách ruộng đất được Lê Mậu Hãn công bố trong sách “Đại Cương Lịch Sử Việt Nam”. Do nhà xuất bản Giáo Dục của CSVN phát hành năm 2001. Dĩ nhiên là Lê Mậu Hãn không được phép công bố số người bị giết. Tuy nhiên theo các lời chứng khác về Cải cách ruộng đất như ông Hoàng Văn Chí, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần đều xác nhận rằng các cố vấn bắt buộc mỗi xã phải kiếm cho ra 5% là thành phần địa chủ để giết, xã nào không có đủ thì lấy phú nông hay trung nông mà đôn lên.

Như vậy so với con số 2 triệu rưỡi gia đình của Lê Mậu Hãn mà suy ra thì có 125.000 hộ bị quy là địa chủ, và thường bị giết cả vợ lẫn chồng. Vậy thì phải có ít nhất là 250.000 địa chủ hay phú nông đã bị giết. Đây mới chỉ là thành phần địa chủ, chưa kể thành phần cường hào và Quốc Dân Đảng.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - TUYÊN GIÁO CSVN THI ĐẤU VỚI TUỔI TRẺ VIỆT NAM