Bùi Anh Trinh – TUYÊN GIÁO CSVN THI ĐẤU VỚI TUỔI TRẺ VIỆT NAM

Ngày 26-12-2016, VOA đưa tin “Tuyên giáo Việt Nam đẩy mạnh hoạt động trên Internet” :

“Một báo cáo cho biết Ban chỉ đạo Trung ương 94 có một nhóm chuyên gia đã tích cực viết hàng nghìn tin bài, xây dựng 12 báo cáo chuyên đề với nội dung định hướng chống âm mưu diễn biến hòa bình’; phương thức đấu tranh có tính đa dạng, … bước đầu tận dụng được lợi thế của mạng Internet và mạng xã hội”.

Đã xem 5874 lần

Chân thành cảm ơn tác giả hoặc quý vị nào đó đã đăng bài viết này lên Quán Văn.

[ Thành viên mới xin ĐĂNG KÝ ]
[ Thành viên ĐĂNG NHẬP ] để đăng bài
(Quý vị sẽ nhìn thấy cách chỉ dẫn đăng bài.)

Máy chiếu VPL-DX240 XGA

Chuyên phân phối MÁY CHỦ DELL POWEREDGE T30 E3-1225 V5

Phân phối thiết bị mạng Cisco FULL mã

Máy in hóa đơn, máy in bill PRP-085 Giá hot

NỆM CAO SU KIM CƯƠNG TỔNG HỢP KHUYẾN MÃI TẶNG GỐI

Thuốc diệt GIÁN thần kỳ

Nhà Hàng SÀI GÒN PHỞ TOMBALL, TX CẦN NGƯỜI

Cần Sang Nhà Hàng Phở Vùng TOMBALL, TX

Bán xe Toyota Camry 2004. 2.4 mới cứng. Hệ thống máy móc tân tiến cùng dàn video từ nước ngoài

Cần bán 4 lô đất khu du lịch Cam Ranh và Diên An – Khánh Hoà

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

42 Comments

  1. Những hiện thục Lịch sử không thể chối bỏ.
    – Tôi đọc các comment của các dư luận viên thấy rất hay.DINH NGOC ANH và một vài người nữa có những dẫn đề hết sưc thuyết phục, về điều mà mọi người quan tâm đó là cái gọi là cách mạng tháng 8 dẫn đến cho việc Việt Minh giành chính quyền và là chính quyền cs cho đến sau này.
    – Ngày 2/9/1945 Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập, sau này chính phủ lâm thời và chính phủ kháng chiến dưới sự lãnh đạo của ông rất nhiều đảng viên cs như Trường Chinh, Phạm văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và cả những người là nhân sỹ có danh vọng như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bồ Xuân Luật, Nguyễn Văn Tố, Bùi Bằng Đoàn( thân sinh ra ông Bùi Tín).
    – Trong khi ấy các ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu không biết đang ở đâu, nhưng chắc rằng các ông ấy không có lực lượng hậu thuẫn về chính trị và quân sự lại càng không. Nhưng nếu các ông này theo ông HCM thì không thể , còn nếu muốn làm minh chủ mà dựa vào những vị quan lại Nam Triều thì những người này đã mất hết tín nhiệm với dân trong những năm cộng tác với Pháp.Nếu dựa vào Pháp thì lại phải đưa đất nước quay trở về với cái thời nô lệ của ông Bảo Đại như thời trước năm 1945 lại càng không thể được. Ông Ngô Đình Diệm sau này làm TT đệ nhất VNCH, ông cũng cố gắng thể hiện một chính phủ mạnh, nhưng quá lệ thuộc vào Mĩ,lại chống cộng quá khích(luật 10/59), từ chối thống nhất VN, VNCH chưa có sức mạnh nội lực lại hô hào Bắc tiến tự tạo cho mình nhiều kẻ thù, nên sự nghiệp ông này sớm thất bại.
    – Về phần ông Bảo Đại sau khi rời bỏ Việt Minh, năm 1949 ông thành lập quốc gia VN. Về mặt hình thức, nhà nước quốc gia này gần như là một quốc gia quân chủ lập hiến (nhưng chưa có Hiến pháp và Quốc hội) với Quốc trưởng là cựu hoàng Bảo Đại , trong khi đó, Pháp vẫn giữ quyền kiểm soát tài chính, thương mại và chính sách đối ngoại, còn quân đội của Quốc gia Việt Nam nằm trong khối quân đội Liên Hiệp Pháp, được người Pháp sử dụng đánh lại Việt Minh càng làm cho dân chúng căm gét và khinh miệt – một thất bại lớn về chính trị.
    – Cho nên tôi nghĩ việc ông HCM giành chính quyền vào tháng 8 năm 1945 là việc làm dũng cảm và khôn ngoan, hoàn toàn có chính nghĩa, trong hoàn cảnh nhân dân khao khát tự do sau 80 năm bị Pháp đè đầu cưới cổ.. Chính thế cho nên Việt Minh đã có được sự ủng hộ của dân chúng, cộng với chiến lược đối ngoại không ngoan, HCM đã tạo ra được thời –thế – cơ cuối cùng đã thắng Pháp và sau này là Mỹ để thống nhất VN một cách ngọan mục..
    – Tôi nghĩ đây mới là tiền đề cơ bản xác lập vị trí lịch sử của HCM và Việt Minh mà dù Bảo Đại, hay NgôĐình Diệm không thể có.

    • TRẢ LỜI MAI CALI
      (1). Lịch sử không thể bị chối bỏ cho nên những lịch sử bịp bợm gian trá cần phải bị lật mặt bởi sự thật. Những gì mà CSVN nhồi nhét cho bạn và dư luận viên CSVN Dinh Ngọc Anh cần phải được điều chỉnh lại bằng các chứng liệu lịch sử.
      (2) Thí dụ bạn nói “ Ngày 2-9-1945 HCM tuyên bố VN độc lập”. Nhưng nếu bạn giở lại sách của Trần Dân Tiên thì bạn sẽ thấy ngày 9-3-1945 quân Nhật lật đổ quân Pháp và TDT viết:“ Sau ngày mồng 9 tháng 3 năm 1945, Nhật tuyên bố Việt Nam Độc lập.”. Như vậy ngày 9-3-1945 Nhật đã giúp VN lấy lại Độc lập thì ngày 2-9 HCM còn tuyên bố độc lập cái nỗi gì?
      Qua ngày 12-3, Bảo Đại công bố tuyên ngôn độc lập của Việt Nam: “Chiếu tình hình thế giới nói chung và tình hình Á Châu nói riêng, chính phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ ký với nước Pháp được bãi bỏ, và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia…”.
      Từng lời từng chữ của Tuyên bố này còn lưu lại đầy dẫy trên báo chí VN thời đó. Thế nhưng Trần Dân Tiên lại viết về sự kiện BĐ tuyên bố độc lập như sau : “ Sau ngày mồng 9 tháng 3 năm 1945, Nhật tuyên bố Việt Nam Độc lập. Bảo Đại tuyên bố bỏ chủ cũ và theo chủ mới là Nhật..”.
      (3) Bạn viết trong khi ấy không biết ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu đang ở đâu? Sự không biết của bạn là do CSVN bưng bít không cho bạn biết sự thật . Nhưng nếu bạn giở hồi ký của Vũ thư Hiên thì biết là NĐD bị bắt giam ở Tuyên Quang, và sau đó giam ngay tại Bắc Bộ Phủ. Còn Ngô Đình Nhu thì đang lánh nạn tại giáo xứ Bùi Chu của Giám mục Lê Hữu Từ, cố vấn của Hồ Chí Minh.
      Những gì mà CSVN nói cho bạn về ông NĐD và chính phủ của ông ta đều là bịa đặt cho nên không thể bàn với bạn về ông NĐD bằng những cái không có thật. Trong khi đó bạn không được biết bất cứ một sử liệu quốc tế nào, tức là của những người đứng giữa.
      (4) Về phần ông Bảo Đại thì bạn cho rằng “rời bỏ Việt Minh”. Nhưng sự thực hồi ký của Bảo Đại cho biết : ngày 16-3-1946, Bảo Đại dẫn một phái đoàn sang thăm hữu nghị nước Trung Hoa. Nghiêm Kế Tổ làm Phó trưởng đoàn nhưng người thực sự có quyền trong đoàn là Hà Huy Giáp.
      Ngày 15-4-1946. Sau khi hoàn tất cuộc thăm viếng chính phủ Trung Hoa, Bảo Đại cùng phái đoàn ra phi trường Côn Minh để lên máy bay về nước thì người ta đưa cho ông một bức điện tín của HCM: “Thưa ngài, công việc ở đây đang tốt đẹp. Ngài có thể đi chơi nữa. Hơn nữa, ngài sẽ rất có ích cho chúng tôi nếu vẫn ở lại bên Tàu. Ôm hôn thắm thiết. Ký tên Hồ Chí Minh” (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam trang 241)!
      Một lần nữa Bảo Đại đối diện với thủ đoạn của Hồ Chí Minh, ông ta bắt buộc Bảo Đại phải lưu vong, không được trở về nước. Nhưng ông thực sự bối rối vì lúc đó chỉ có một mình ông ngồi lại phi trường Côn Minh mà không một xu dính túi. Va ly hành lý thì gởi theo kiện hàng về nước của phái đoàn rồi. Không có cả một tờ giấy tùy thân, không có quần áo để thay. Ông thò tay vào túi móc bức điện ra và đọc lại một lần nữa, hàng chữ “Ôm hôn thắm thiết” như nhảy múa trước mắt ông. Lúc đó ông vừa mới 33 tuổi (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 243).
      Lúc hồi ký của Bảo Đại ra đời năm 1986 thì các ông Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hà Huy Giáp… đều còn mạnh khỏe và minh mẫn, nhưng các ông không lên tiếng phản bác, chứng tỏ là chyện có thật.

      (5). Bạn cho rằng ông Hồ Chí Minh giành chính quyền vào tháng 8 năm 1945? Đó là do tuyên giáo CSVN dạy cho bạn. Nhưng nếu bạn giở quyển “Việt Nam, Những Sự Kiện Lịch Sử 1919-1945 của Viện Sử Học Hà Nội thì bạn sẽ thấy HCM không phải là người giành chính quyền năm 1945, mà sự thực ngày đó quân tình báo Mỹ đưa HCM từ Tân Trào về Hà Nội, sau khi quân Nhật đã đầu hàng Mỹ.
      Ngoài ra hồi ký của trung tá tình báo Mỹ Patti, trích dẫn tài liệu của Ngũ Giá Đài, và hồi ký của Bì thư Hoàng Tùng cũng xác nhận điều này.

      • Kính gởi anh Nguyễn Văn Thạc
        Tôi tin anh đang phí thì giờ để trả lời cho những đầu óc mà VCgoi là ( ngu lâu, dốt bền, khó đào tạo)
        Xin anh dành thi giờ cho những việc khác ích lợi hơn. Tôi kinh nghiệm bọn ” cuồng Hồ, cuồng đảng ” không thể nào khai dân trí chúng được nhất là chỉ qua vài bài viết ngắn. Thí dụ :  
        – Chuyện CCRD ở ngoài Bắc( 200,000 người chết oan ) có thật hay không? ai gây ra?
        – Chuyện hai triệu dân miền Bắc bỏ hết mọi thứ để chạy như ma đuổi vào Nam là thế nào? tại sao?
        – Nếu cho rằng vì họ theo các nhà lãnh đạo tôn giáo, vậy làm thế nào mà các nhà lãnh đạo tôn giáo lại phải bỏ nơi chôn nhau cắt rốn mà di cư vào một miền đất lạ?  
        – Cuộc khởi nghĩa Quỳnh Lưu xảy ra vì lý do gì? bao nhiêu người chết? tại sao vậy?
        – Chuyện Mậu Thân Huế ( 6000 người vô tội chết có thật hay không?, ai gây ra?
        – Chuyện dân miền Nam nỗi dậy chạy theo ” quân giải phóng ” tết Mậu Thân có thật hay không? gần 100,000 xác chết trên chiến trường làm tê liệt hoạt động quân sự của VC 1968 có thật không? xác chết của ai vậy?
        – Khi đụng chuyện chiến sự dân miền Nam chạy về phía ai? có trận đánh nào dân chúng chạy về phía ” quân giải phóng không? tại sao vậy?
        Đó chỉ là vài câu hỏi thực tế trước 1975. Từ sau 1975 cho đến nay thì khỏi cần trình bày.  
        Tôi dám cá với anh bọn ” cuồng đảng cuồng Hồ ” chúng nó vẫn ngụy biện trả lời được và cho dù chúng nó thấy hết sự thật chúng vẫn ” cuồng đảng cuồng Hồ ” như thường lệ.
        Thực tế là bọn nầy hết thuốc chữa !! không nên tốn thì giờ tranh luận cũng như đọc comments của chúng để khỏi mất thì giờ .Tranh luận với bọn này thì như nói với đầu gối. Có cho kẹo chúng cũng chẳng dám đi ra ngoài ” lộ trình lý luận ” mà đảng đã vạch ra!!

        Tôi rất quí trọng công phu của nh nên có vài lời 
        Kính trọng và cảm ơn anh

        • Kính gởi anh Dan N
          Thật ấm lòng khi thấy mình có đồng minh. Tôi xin trình bày với anh mục đích của tôi :
          (1) Nếu tôi ngại phí sức của mình thì tôi sẽ bỏ diễn đàn comment này lại cho một mình bọn dư luận viên CSVN múa may quay cuồng trên sân khấu không có người diễn. Rốt cuộc trên sân khấu chỉ là những tuồng chưởi rủa và bôi bác VNCH.
          (2) Có những người con Miền Nam trước đây thấy khẩu hiệu “Ủng hộ linh mục Nguyễn Văn Lý giải thể Cọng sản” thì họ muốn vào để tìm hiểu thêm và chia sẻ. Nhưng họ sẽ nãn lòng thấy toàn những lời bôi bác, phỉ nhổ sự thật, phỉ nhổ chân lý. Họ sẽ không muốn trở vào một lần nữa để tìm hiểu hay chia sẻ.
          (3) Có những người con Miền Nam, Miền Bắc trong nước đang muốn vào trang mạng của những người chống cộng để tìm biết chuyện gì đã xảy ra ngày xưa. Trước đó họ không tin những gì mà nhà trườngCSVN đã nhồi nhét cho họ. Họ có đủ trí thông minh để biết rằng những thứ của tuyên giáo CSVN không phải là sự thực. Họ đã đi hỏi cha mẹ họ nhưng cha mẹ họ không đủ trình độ và không đủ tài liệu để giải bày cho họ. Họ tìm đến diễn đàn này, nhưng rồi họ sẽ quay đi nếu thấy toàn là những lời bình phẩm phá thối của các dư luận viên CSVN.
          (4) Có những du học sinh VN giờ đây mới có điều kiện để tìm đến với những người của phía VNCH để tìm hiểu sự thực những gì đã xảy ra ngày xưa. Nhưng họ sẽ không tìm được gì nếu những cây viết trên diễn đàn này đểu viết những lời vô thưởng vô phạt, hoặc những lời phẩn uất từ trái tim của mình mà không cần chú ý tới kỷ thuật lý luận. Họ không dẫn được người đọc tới trước chân lý
          (5) Bởi vì vậy mà tôi dùng thời gian nhàn rỗi của mình để lật mặt bọn lưu manh lợi dụng sân khấu bỏ trống để diễn trò bịt mắt thế gian hoặc ngăn chặn người nào muốn tìm đến sự thật. Tôi rất muốn có những lời bình phẩm của bọn dư luận viên CSVN càng nhiều càng tốt để tôi làm ví dụ hướng dẫn cho những người nào muốn tìm hiểu. Đồng thời trang bị lý luận mẫu cho những thanh niên Việt Nam hiện đang miệt mài gõ phím trên net để thúc đẩy dân chủ cho dân tộc Việt Nam.
          (6) Quan mục comment này, những dư luận viên CSVN sẽ giúp cho tôi biết những mẫu lý luận thuộc lòng của tuyên giáo CSVN đã nhồi nhét vào trong tâm trí thanh niên VN như thế nào.
          (7) Ngoài những mẫu tuyên truyền như con vẹt. Tôi cũng mong qua diễn đàn này sẽ có người gởi đến cho mọi người thắc mắc chân thành của họ mà lâu nay không biết ai để hỏi. Do đó tôi chỉ lo là bọn dư luận viên CSVN sẽ tránh xa diễn đàn này để đi đánh phá diễn đàn khác của VNCH. Nhưng lúc đó tôi sẽ theo qua các diễn đàn khác để tiếp tục tìm mẫu lý luận thuộc lòng của CSVN rồi nói cho mọi người biết. Tôi nắm sự thật cho nên tôi không hề sợ những đòn phép gian trá.
          Rất cám ơn lòng tốt của anh đã dành cho tôi. Và cũng xin tri ân nhiệt tâm của anh.
          Kính chào anh.

  2. (1). Lịch sử không thể bị chối bỏ cho nên những lịch sử bịp bợm gian trá cần phải bị lật mặt bởi sự thật. Những gì mà CSVN nhồi nhét cho bạn và dư luận viên CSVN Dinh Ngọc Anh cần phải được điều chỉnh lại bằng các chứng liệu lịch sử.
    (2) Thí dụ bạn nói “ Ngày 2-9-1945 HCM tuyên bố VN độc lập”. Nhưng nếu bạn giở lại sách của Trần Dân Tiên thì bạn sẽ thấy ngày 9-3-1945 quân Nhật lật đổ quân Pháp và TDT viết:“ Sau ngày mồng 9 tháng 3 năm 1945, Nhật tuyên bố Việt Nam Độc lập.”. Như vậy ngày 9-3-1945 Nhật đã giúp VN lấy lại Độc lập thì ngày 2-9 HCM còn tuyên bố độc lập cái nỗi gì?
    Qua ngày 12-3, Bảo Đại công bố tuyên ngôn độc lập của Việt Nam: “Chiếu tình hình thế giới nói chung và tình hình Á Châu nói riêng, chính phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ ký với nước Pháp được bãi bỏ, và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia…”.
    Từng lời từng chữ của Tuyên bố này còn lưu lại đầy dẫy trên báo chí VN thời đó. Thế nhưng Trần Dân Tiên lại viết về sự kiện BĐ tuyên bố độc lập như sau : “ Sau ngày mồng 9 tháng 3 năm 1945, Nhật tuyên bố Việt Nam Độc lập. Bảo Đại tuyên bố bỏ chủ cũ và theo chủ mới là Nhật..”.Bạn có thể xem chi tiết của vụ này ở đường chuyền sau đây.
    http://quanvan.net/bien-khao-ve-nguyen-tat-thanh-31-nhat-tuyen-bo-viet-nam-doc-lap/
    (3) Bạn viết trong khi ấy không biết ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu đang ở đâu? Sự không biết của bạn là do CSVN bưng bít không cho bạn biết sự thật . Nhưng nếu bạn giở hồi ký của Vũ thư Hiên thì biết là NĐD bị bắt giam ở Tuyên Quang, và sau đó giam ngay tại Bắc Bộ Phủ. Còn Ngô Đình Nhu thì đang lánh nạn tại giáo xứ Bùi Chu của Giám mục Lê Hữu Từ, cố vấn của Hồ Chí Minh.
    Những gì mà CSVN nói cho bạn về ông NĐD và chính phủ của ông ta đều là bịa đặt cho nên không thể bàn với bạn về ông NĐD bằng những cái không có thật. Trong khi đó bạn không được biết bất cứ một sử liệu quốc tế nào, tức là của những người đứng giữa.
    (4) Về phần ông Bảo Đại thì bạn cho rằng “rời bỏ Việt Minh”. Nhưng sự thực hồi ký của Bảo Đại cho biết : ngày 16-3-1946, Bảo Đại dẫn một phái đoàn sang thăm hữu nghị nước Trung Hoa. Nghiêm Kế Tổ làm Phó trưởng đoàn nhưng người thực sự có quyền trong đoàn là Hà Huy Giáp.
    Ngày 15-4-1946. Sau khi hoàn tất cuộc thăm viếng chính phủ Trung Hoa, Bảo Đại cùng phái đoàn ra phi trường Côn Minh để lên máy bay về nước thì người ta đưa cho ông một bức điện tín của HCM: “Thưa ngài, công việc ở đây đang tốt đẹp. Ngài có thể đi chơi nữa. Hơn nữa, ngài sẽ rất có ích cho chúng tôi nếu vẫn ở lại bên Tàu. Ôm hôn thắm thiết. Ký tên Hồ Chí Minh” (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam trang 241)!
    Một lần nữa Bảo Đại đối diện với thủ đoạn của Hồ Chí Minh, ông ta bắt buộc Bảo Đại phải lưu vong, không được trở về nước. Nhưng ông thực sự bối rối vì lúc đó chỉ có một mình ông ngồi lại phi trường Côn Minh mà không một xu dính túi. Va ly hành lý thì gởi theo kiện hàng về nước của phái đoàn rồi. Không có cả một tờ giấy tùy thân, không có quần áo để thay. Ông thò tay vào túi móc bức điện ra và đọc lại một lần nữa, hàng chữ “Ôm hôn thắm thiết” như nhảy múa trước mắt ông. Lúc đó ông vừa mới 33 tuổi (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 243).
    Lúc hồi ký của Bảo Đại ra đời năm 1986 thì các ông Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hà Huy Giáp… đều còn mạnh khỏe và minh mẫn, nhưng các ông không lên tiếng phản bác, chứng tỏ là chyện có thật. Bạn có thể xem chi tiết trong đường chuyền sau :
    http://quanvan.net/bien-khao-ve-nguyen-tat-thanh-39-huy-bo-loi-tuyen-bo-doc-lap/
    (5). Bạn cho rằng ông Hồ Chí Minh giành chính quyền vào tháng 8 năm 1945? Đó là do tuyên giáo CSVN dạy cho bạn. Nhưng nếu bạn giở quyển “Việt Nam, Những Sự Kiện Lịch Sử 1919-1945 của Viện Sử Học Hà Nội thì bạn sẽ thấy HCM không phải là người giành chính quyền năm 1945, mà sự thực ngày đó quân tình báo Mỹ đưa HCM từ Tân Trào về Hà Nội, sau khi quân Nhật đã đầu hàng Mỹ.
    Ngoài ra hồi ký của trung tá tình báo Mỹ Patti, trích dẫn tài liệu của Ngũ Giá Đài, và hồi ký của Bì thư Hoàng Tùng cũng xác nhận điều này. Bạn có thề xem thêm chi tiết ở đường chuyền :
    http://quanvan.net/bien-khao-ve-nguyen-tat-thanh-33-my-dua-ho-chi-minh-ve-ha-noi/

  3. nguyễn văn thạc nói không thuyết phục.
    Vấn đề HCM giành chính quyền năm 1945 là hoàn toàn chính xác, nhưng không phải HCM giành chính quyền từ tay Pháp mà từ tay Nhật. Có thể nói theo công thức Nhật đánh đổ Pháp- Việt Minh đánh đổ Nhật trong điều kiện lịch sử là Nhật đầu hàng đồng minh nay đã bị suy yếu(gặp thời một tốt cũng thành công – theo cách nói của HCM).
    Tôi thấy các dư luận viên nói rất đúng, những người Quốc gia luôn lầm lẫn chiến lược và chiến thuật của Việt Minh mà không biết rằng đường lối xuyên suốt của họ là giành độc lập thống nhất VN, nên trong từng lúc đường lối đối ngoại cần phải uyển chuyển.
    Không thể nói bừa là HCM là tình báo của Mỹ khi ông ta có vẻ thân Mỹ khi ông ta đến Côn Minh gặp tướng Mỹ để tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ với Việt Minh, HCM đã vào hang chơi với cọp và dắt cọp về “hù dọa” khỉ(ví như Pháp và tay sai của họ ở VN) .
    Việt Minh đã lợi dụng mâu thuẫn Pháp-Nhât, mâu thuẫn Mỹ -Nhật, Mỹ – Pháp và nội bộ các tướng của quân Tưởng để giành lợi thế giành chính quyền cho VN. Nếu ông Diệm là được việc đó thì mới tuyệt vời. Nhưng lịch sử đã không cho ông ta tài năng và cơ hội
    Cũng không thể nói bừa là Võ Nguyên Giáp là tình báo của Nga xô(!!!). Trong một lần đi thăm Nga -xô, chính thủ tướng Liên Xô Cô-Xư-gin hỏi ông Giáp: ” Đồng chí có bao nhiêu quân, bao nhiêu vũ khí mà dám đương đầu với Mỹ?”. Võ Nguyên Giáp, một nhà quân sự tài ba, nhưng cũng phải công nhận ông là nhà ngoại giao không tồi, ông nói :” Nếu nói về học thuyết quân sự xô -viết thì không thể chê được. Nhưng đánh như các đồng chí(xe tăng, tên lửa máy bay ,quân số áp đảo) thì chúng tôi không trụ được vài tháng. Vn có cách đánh riêng và chúng tôi nhất định thắng!”( Tổng Hành Dinh trong Mùa Xuân Đại Thắng-Hồi ký VNG). VN có những người anh hùng tài ba như thế thì quan thượng thư Nam triều Ngô Đình Diệm, lính khố đỏ Nguyễn Văn Thiệu là chi mà chẳng thua.

  4. Những ai đã vào Nam?

    Những hiệp định đạt được ở Hội nghị Geneva về Đông Dương ngày 20 tháng 7 năm 1954 quy định việc phân chia ranh giới tạm thời giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam tại vĩ tuyến 17. Khoản 14(d) của hiệp định quy định việc tự do di chuyển giữa các vùng Bắc, Nam trong thời gian ba trăm ngày, sau ngày hiệp định bắt đầu. Cuối thời hạn mở này, hơn 810.000 người đã tận dụng cơ hội di cư từ Bắc vào Nam. Hơn 75% người tị nạn là tín đồ Công giáo La mã, được ghi nhận phần nhiều dù không phải là toàn bộ, từ hai giáo khu có dân Công giáo tập trung đông nhất: Phát Diệm (phần lớn nằm ở tỉnh Ninh Bình) và Bùi Chu (ở tỉnh Nam Định). Các giám mục của hai giáo khu này, lần lượt là Thaddeus Lê Hữu Từ và Pierre Phạm Ngọc Chi, kể từ cuối thập niên 1940 đã trở thành kẻ thù không đội trời chung của Việt Minh.
    Mỗi giám mục đều duy trì một lực lượng dân quân tự vệ, tham gia chiến đấu thường xuyên với lực lượng Việt Minh – nhiều người trong lực lượng này xem Giáo hội Công giáo Việt Nam là đồng minh của chủ nghĩa thực dân Pháp.
    Sự đối kháng lẫn nhau này đặc biệt rõ rệt ở những khu vực từ lâu đã nằm dưới sự kiểm soát của Việt Minh, chẳng hạn như ở tỉnh Bắc Trung bộ Nghệ An. Nhiều tín đồ Công giáo miền Bắc không chỉ chiến đấu cho lực lượng dân quân Công giáo mà còn chịu sự chỉ huy của Pháp.

    Khi cuộc nổi dậy của Việt Minh thắng lợi hoàn toàn ở miền Bắc, nhiều tín đồ Công giáo lo sợ bị trả thù đã sẵn sàng bỏ vào Nam. Những cuộc di cư lớn của dân Công giáo bắt đầu ngay khi tin tức về Hiệp định Geneva và các điều khoản về vấn đề đi lại được công bố. Trên thực tế, sự ra đi của các cộng đồng Công giáo dọc suốt miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam đã bắt đầu trước khi công bố Hiệp định Geneva.
    Sau thất bại của lực lượng Pháp ở Điện Biên Phủ vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, các tướng lĩnh quân đội Pháp lựa chọn sơ tán lực lượng của mình từ các giáo khu Phát Diệm và Bùi Chu nhằm củng cố hành lang kiểm soát quan trọng của Pháp từ Hà Nội đến Hải Phòng. Phần lớn thường dân Công giáo ở những khu vực này, những người chưa được cảnh báo trước về việc rút quân của Pháp, bất ngờ nhận thấy mình có mặt trên đường tiến quân của Việt Minh. Các chỉ thị rút quân từ bộ chỉ huy tối cao Pháp được gửi đến chiến trường vào ngày 15 tháng 6 – hơn một tháng trước khi các nhà đàm phán ký kết thỏa thuận tại Geneva. Cuộc hành quân của Pháp được dự tính bí mật nhưng giới lãnh đạo giáo hội hầu như đã biết về thông tin một cách tức thời; trong khoảng thời gian hai tuần ấy, các giám mục Lê Hữu Từ và Phạm Ngọc Chi đã lần lượt rời khỏi Phát Diệm và Bùi Chu. Vào thời điểm Hội nghị Geneva kết thúc, hai mươi lăm ngàn người tị nạn Công giáo đã có mặt tại Hà Nội, mười lăm ngàn người ở Hải Phòng và năm ngàn người ở Hải Dương.

    Ngoài những người tị nạn đến từ trung tâm Công giáo, dân Công giáo từ các vùng phía bắc và phía tây Hà Nội bắt đầu có mặt tại nhiều hội truyền giáo đặt ở thủ đô. Ở miền Trung, cư dân của các cộng đồng Công giáo thuộc phần phía bắc của Giáo phận Huế (nằm ở các tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị) bắt đầu di chuyển đến thành phố Huế và các vùng ven phía nam thành phố trước các cuộc tiến quân của Việt Minh. Thậm chí những cuộc di cư này bắt đầu trước khi các hiệp định được ký; tuy nhiên, tại các vùng khác của miền Bắc – đặc biệt là những vùng mà người Công giáo chiếm tỷ lệ thấp hơn trên tổng dân số – động lực vào Nam không hình thành cho đến tận tháng 7 năm 1954.

    Các số liệu chính thức của Việt Nam CH được tập hợp vào tháng 10 năm 1955 chỉ ra rằng những người từ miền Bắc di cư vào Nam bao gồm 676.348 tín đồ Công giáo (76,3% tổng số người Bắc di cư), 209.132 tín đồ Phật giáo (23,5%) và 1.041 tín đồ Tin Lành (0,2%). Số liệu thống kê của chế độ Sài Gòn không phân loại người tị nạn theo vùng mà họ cư trú trước đây ở miền Bắc; tuy nhiên, Giáo hội cung cấp số liệu ước tính về những giáo dân đã bỏ vào Nam từ mười giáo khu Công giáo nằm phía trên giới tuyến .Những nhân tố “lôi kéo” nào đó cũng có mặt trong quyết định vào Nam hay ở lại thời kỳ 1954-1955 của các tín đồ Công giáo. Việc bổ nhiệm Ngô Đình Diệm – một tín đồ Công giáo quê ở phía bắc vĩ tuyến 17 – làm nhân vật lãnh đạo mới của chế độ Sài Gòn vào tháng 6 năm 1954 đã khuyến khích nhiều người Công giáo miền Bắc từng do dự trong việc di cư. – See more at: http://nghiencuuquocte.org/2014/05/06/bac-di-cu/#sthash.lo9tgGeD.dpuf

    • NẠN NHÂN CỦA CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT CHẠY ĐI ĐÂU VÀO NĂM 1954-1955?
      Những nạn nhân của cải cách ruộng đất đã bị tử hình là 250.000 người. Và những người bị buộc tội nhưng không bị hành hình là 500.000 người. Ngoài ra hằng chục triệu những người không bị tội nhưng khiếp sợ chế độ Cọng sản sẽ chạy đi đâu vào năm 1954-1955 ? Có ai đã thử đặt ra câu hỏi này hay chưa? Xin hãy đọc những dòng sau đây :
      *( Trích sách Bối Cảnh Lịch Sự Chính Trị Việt Nam của Bùi Anh Trinh, do Làng Văn phát hành tại Canada năm 2008. Tập thượng, từ trang 801 ).
      Lớn lên với trái tim không phải của giống người
      Trong năm 1953, tại Thanh Hóa, nhà văn Vũ Thư Hiên đã tận mắt chứng kiến cảnh tượng người ta làm nháp cho chiến dịch Cải Cách ruộng đất: “Tôi chỉ bắt đầu ngờ vực đức hiền minh của các lãnh tụ vào thời gian cuộc giảm tô giảm tức được phát động ở Khu 4 kháng chiến, năm 1953:
      “Đêm đêm chúng tôi thao thức nghe trong mịt mùng những thôn xóm tối tăm tiếng loa hờ gọi nông dân vùng lên đánh đổ kẻ thù giai cấp. Từ tinh mơ hàng đoàn người rầm rập trên các nẻo đường làng còn tối đất, khản tiếng hô vang những khẩu hiệu có mùi máu. Dân chúng ùn ùn đổ về những sân đình, những bãi rộng, nơi sẽ diễn ra cuộc đấu tố bọn cường hào gian ác”… “Đấu tố diễn ra liên miên, ngày một khốc liệt.
      Người dân cày dung dị hôm trước, được Đảng phóng tay phát động, vụt trở thành hung tợn, mặt bừng bừng khoái trá trong niềm vui hành hạ đồng loại. Tôi kinh hoàng nhìn cảnh tưởng không hiểu nổi: nườm nượp lướt qua trước mắt tôi từng bầy đàn người bị kích thích bởi mùi máu, hăm hở đi dưới lá cờ đỏ sao vàng không phải để chiến đấu với quân xâm lược mà với chính đồng bào mình”…
      “Người ta trói chặt hai tay rồi dong mẹ bạn tôi đi khắp làng chỉ vì bà trót dại nói điều gì đó mất lập trường hoặc không vừa lòng cán bộ giảm tô giảm tức”… “Ở một xã khác, một người đàn bà bị trói vào hai cây nứa bắt chéo, bên dưới là một đống lửa. Con mẹ ni là phú nông phản động, ngoan cố lắm, những người bâu quanh nhao nhao nói thế. Người đàn bà quằn quại mãi, tới khi ngất đi rồi mới được người ta hạ xuống”…
      “Người ta lấy gai bưởi cắm vào đầu ngón tay một cô gái, có trời biết cô ta bị tội gì, có thể cô ta chỉ có tội là con địa chủ, cứ mỗi câu hỏi lại nhấn những cái gai sâu thêm một chút làm cho cô gái rú lên vì đau, quằn quại trong dây trói”…
      “Một cụ già tóc bạc phơ bị tròng giây vào cổ, bị lôi xềnh xệch trên đường như một con chó. Lũ trẻ rùng rùng chạy theo sau. Chúng vỗ tay, chúng reo hò, chúng cười ngặt nghẽo. Tôi nhìn chúng, rùng mình – Những đứa trẻ này chắc chắn sẽ lớn lên với trái tim không phải của giống người. Rồi đây, với tâm hồn chai sạn, làm sao chúng có thể sống chung với những anh em khác màu da và tiếng nói trong một thế giới đại đồng mà chủ nghĩa Cọng sản hứa hẹn?”… “Tôi cảm thấy trong mình cục cựa một cái gì giống như sự thức tỉnh” (Vũ Thư Hiên, Đêm Giữa Ban Ngày, trang 30 -31-32).
      Nhờ Vũ Thư Hiên mà lịch sử Việt Nam có một bằng cớ để chứng minh tại sao người Việt Nam chống Cộng. Những hình ảnh diễn ra dưới mắt Vũ Thư Hiên là vào năm 1953 tại Thanh Hóa là nơi không có thông tin trên toàn quốc vì thuộc vùng kiểm soát của Cọng sản nhưng qua tố cáo của vô số nạn nhân chạy thoát khỏi vùng Cọng sản đã kể lại cho báo chí, cho dân chúng.
      Những lời kể này y hệt như những lời kể của dân chúng Trung Hoa trong cuộc Cách mạng Cải cách ruộng đất vào năm 1949, 1950. Chính vì tin tức do nhân dân Trung Hoa cung cấp cho thế giới mà người dân Việt Nam quyết định không chơi với chủ nghĩa Cọng sản, không hẳn vì những hành động dã man sẽ xảy đến cho Việt Nam mà nguyên do chính là “Rồi đây những đứa trẻ Việt Nam chắc chắn sẽ lớn lên với những trái tim không phải của giống người”.
      Quả đúng như vậy, sau 60 năm, một thế hệ khác đã lên cầm quyền tại Việt Nam. Năm 2005 Hòa thượng Thích Quảng Độ đã trả lời phỏng vấn trên đài phát thanh Á Châu Tự Do rằng ngày xưa những nhà lãnh đạo Phật giáo Việt Nam đã tự thiêu để đánh động lương tâm của những nhà cầm quyền tại Miền Nam Việt Nam và sự đánh động lương tâm này đã mang lại kết quả. Nhưng ngày nay tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo có tự thiêu cũng vô ích vì những người cầm quyền tại Việt Nam chỉ có trái tim giống như trái tim của… “Súc vật”!.

    • Gởi Nỗi Buồn Cố Quận, Đinh Ngọc Anh và các DLV đang ra sức bênh vực đảng dựa trên sách vở tài liệu của đảng!!!!
      …”Vào thời điểm Hội nghị Geneva kết thúc, hai mươi lăm ngàn người tị nạn Công giáo đã có mặt tại Hà Nội, mười lăm ngàn người ở Hải Phòng và năm ngàn người ở Hải Dương.

      Ngoài những người tị nạn đến từ trung tâm Công giáo, dân Công giáo từ các vùng phía bắc và phía tây Hà Nội bắt đầu có mặt tại nhiều hội truyền giáo đặt ở thủ đô. Ở miền Trung, cư dân của các cộng đồng Công giáo thuộc phần phía bắc của Giáo phận Huế (nằm ở các tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị) bắt đầu di chuyển đến thành phố Huế và các vùng ven phía nam thành phố trước các cuộc tiến quân của Việt Minh. Thậm chí những cuộc di cư này bắt đầu trước khi các hiệp định được ký; tuy nhiên, tại các vùng khác của miền Bắc – đặc biệt là những vùng mà người Công giáo chiếm tỷ lệ thấp hơn trên tổng dân số – động lực vào Nam không hình thành cho đến tận tháng 7 năm 1954….”
      – Lý do gì mà người dân Bắc lại bỏ hết tất cả tài sản đất đai mồ mả ông bà mà chạy vào Nam là một miền đất hoàn toàn xa lạ?. Trong đó đa số là đàn bà con nít?
      “…Nhiều tín đồ Công giáo miền Bắc không chỉ chiến đấu cho lực lượng dân quân Công giáo mà còn chịu sự chỉ huy của Pháp….”
      – REALLY? (nguồn đáng tin cậy?)
      “…Khi cuộc nổi dậy của Việt Minh thắng lợi hoàn toàn ở miền Bắc, nhiều tín đồ Công giáo lo sợ bị trả thù đã sẵn sàng bỏ vào Nam…”
      – Đàn bà con nít mà cũng sợ ” bị trả thù ” à?  . Họ làm gì mà sợ bị trả thù?  ( điều đó có nghĩa là VM giết tận giết tiệt như đã xảy ra ở Quỳnh Lưu?)
      “…nhiều người trong lực lượng này xem Giáo hội Công giáo Việt Nam là đồng minh của chủ nghĩa thực dân Pháp….”
      – Công Giáo đồng minh với PHƯƠNG TÂY ( không phải THỰC DÂN PHÁP) bởi vì phương Tây TÔN TRỌNG TỰ DO TÔN GIÁO!!! Điều này không có trong giáo điều của VM ( tiền thân DCSVN)

      Xin quý vị DLV làm ơn trả lời những thắc mắc của mình để mình được ” MỞ RỘNG KIẾN THỨC THEO KIỂU LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG ”
      Thành thật cảm ơn

      • Thưa bạn Dân N
        Đi nói lý với dư luận viên CSVN là một điều vô ich, mục đích của họ trên diễn đàn này không phải là cùng nhau tìm ra cái lý đúng sai. Họ thừa biết cái chân lý là thế nào nhưng cấp trên của họ giao cho họ nhiệm vụ đánh phá các trang mạng VNCH chứ không phải tuyên truyền cho CSVN, bởi vì sự thật không nằm ở phía CSVN. Lâu nay họ ăn tiền trong tuyên truyền là nhờ họ bịp, nói đi nói lại, nói ra rả hằng ngày, rốt cuộc không ai còn nói nữa vì chán ngán thì họ thắng.
        Vậy thì mình chỉ cần đưa ra tại liệu của phía VNCH để cho những người nào thực tâm theo dõi sẽ tự phán xét nên tin CSVN hay nên tin VNCH
        Dư luận viên CSVN sẽ post đi post lại các tài liệu bịa có sẵn trong rừng tài liệu của tuyên giáo CSVN. Thí dụ như tài liệu CSVN nói rằng chúa Jesus là một người nghèo cho nên Thiên chúa giáo là tôn giáo của giai cấp vô sản, tranh đầu cho quyền lợi của giai cấp vô sản, chống lại chế độ phong kiến của các vua phong kiến….(sic).
        Riêng tài liệu dẫn nguồn trên đây của NCQ trích trong trang web nghiencuuquocte.org là trang mạng cá nhân của Lê Hồng Hiệp, là giáo sư phụ trách tuyên giáo của trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn tại TP/HCM. Dĩ nhiên tài liệu của Lê Hồng Hiệp chỉ là viết theo báo Nhân Dân.
        Vì thế tôi chủ trương nương comment của họ thì tôi tung tài liệu của VNCH để giới thiệu cho những người nào chưa biết, để rồi họ tự đánh giá có nên tin hay không. Không nhất thiết phải tìm tài liệu đáp trả khớp với tài liệu dõm của họ, điều đó mất thì giờ và vô ích, cứ trả lời họ bằng cách post lên bất cứ bài nào vạch mặt gian trá của CSVN mà mình thích.
        Tôi thích các bài của Bùi Anh Trinh là vì vừa vạch mặt vừa chửi rất bài bản cho nên tôi thường lấy tài liệu của BAT.

  5. Ngay đến sách Đêm Giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên cũng được Bùi Anh Trinh xuyên tạc.
    “Những nạn nhân của cải cách ruộng đất đã bị tử hình là 250.000 người. Và những người bị buộc tội nhưng không bị hành hình là 500.000 người. Ngoài ra hằng chục triệu những người không bị tội nhưng khiếp sợ chế độ Cọng sản sẽ chạy đi đâu vào năm 1954-1955 ? Có ai đã thử đặt ra câu hỏi này hay chưa? Xin hãy đọc những dòng sau đây ….*( Trích sách Bối Cảnh Lịch Sự Chính Trị Việt Nam của Bùi Anh Trinh, do Làng Văn phát hành tại Canada năm 2008. Tập thượng, từ trang 801 ).
    Vậy Vũ Thư Hiên nói gì trong cải cách ruộng đâ6ts trong “Đêm giữa ban ngày”?
    Vũ Thư Hiên cho rằng con số nạn nhân là ít hơn con số 15.000 dẫn ở trên rất nhiều, tuy vậy ông chỉ có thể ước tính, chứ không có số liệu hoặc tài liệu nào cụ thể:
    Trích trong nguyên văn.- “Người ta thường nói tới con số khoảng 15.000 người. Tôi nghĩ con số có thổi phồng. Trong tài liệu của Bernard Fall và Wesley Fishel con số còn được đẩy tới 50.000. Nếu tính tổng số xã đã cải cách ruộng đất là khoảng 3.000, mỗi xã có trung bình một hoặc hai người bị bắn, bị bức tử, bị chết trong tù (những xã có số người bị bắn lên tới ba hoặc bốn rất ít gặp, có những xã không có ai bị) thì số người chết oan (kể cả trong Chỉnh đốn Tổ chức, tính cả người bị bức tử) nằm trong khoảng từ 4.000 đến 5.000 người. Nói chung, đó cũng là đoán phỏng. Chẳng bao giờ chúng ta biết được con số chính xác nếu không có một cuộc điều tra khoa học”.
    Vũ Thư Hiên là kẻ bất mãn cs còn chưa dám thổi phồng sự thật. Nay tuyên truyền chống cộng mà ăn móc nói mò như thế làm sao Bùi Anh Trinh “thắng” được sự thật?

    • Con mắt có lòi tròng không đấy? Con số 250 ngàn là giáo sư Thạc tôi viết trên đầu, khúc dưới là trích sách Bùi Anh Trinh, nhưng Bùi Anh Trinh trích sách Vũ thư Hiên. Trình độ đọc viết như thế đó mà đòi đi làm tuyên giáo xã. Đánh vần đã thông chưa đó? Hay lại là “cớ lờ mờ vờ”?
      Đợt 4 Cải cách ruộng đất
      Năm 1955, ngày 27-6, tiến hành đợt 4 Cải cách ruộng đất tại 17 xã thuộc tỉnh Phú Thọ, 1 xã tại Bắc Giang, 111 xã thuộc Vĩnh Phúc, 60 xã thuộc Bắc Ninh, 71 xã thuộc Sơn Tây, 98 xã thuộc Hà Nam, 47 xã thuộc Ninh Bình, 207 xã thuộc Thanh Hóa, 5 xã thuộc Nghệ An, 227 xã thuộc Hà Tĩnh.
      Năm 1955, ngày 19-8, kết thúc thời gian gia hạn 3 tháng, mọi cuộc di chuyển Bắc Nam chấm dứt. Tổng kết có 875.478 người Miền Bắc được Quốc tế giúp đỡ di cư vào Nam. Sau ngày gia hạn 19-8-1955, lại có thêm 76.000 người chạy vào Nam bằng bè, thuyền hay đường bộ băng qua Lào, nâng tổng số người tị nạn lên 950.000 người.
      Trong khi đó có 140 ngàn cán bộ, bộ đội Cọng sản đã di chuyển ra Bắc bằng phương tiện ghe bầu hay đường bộ qua cầu Bến Hải và có 4.358 người dân di cư ra Bắc được Quốc tế giúp đỡ, gồm 1.018 người đi bằng máy bay và 1.913 người đi bằng tầu thủy, trong số này có 630 người là công nhân đồn điền cao su đã mãn hạn hợp đồng muốn xin trở về quê bằng phương tiện của Liên Hiệp Quốc.
      Năm 2006, nhà văn Nguyễn Trọng Tân đã kể lại chuyện của cuộc đời ông tại diễn đàn của Hội Nhà văn Hà Nội, bàn về tác phẩm “Ba Người Khác” của Tô Hoài :
      “Hôm nay, nhà văn Tô Hoài, ông đội Tô hoài bước vào tuổi 87, thì tôi cũng bước vào tuổi 60, vẫn ôm trong lòng một mớ hiểu biết hổ lốn, những kỷ niệm đau buồn, uất ức của một đứa bé lên 7 tuổi bị vò cuốn trong cơn gió độc địa của Cải cách ruộng đất ở quê tôi. 7 tuổi nhưng tôi phải khôn trước tuổi vì nghèo khổ lam lũ.
      Tôi như một tờ giấy trắng tinh bị Cải cách ruộng đất hất cho một chậu mực đủ gam màu. Thậm chí 7 tuổi tôi đã biết phản ứng, yêu ghét, ngấm ngầm những điều sai đúng của người lớn. Với tôi đó là thời kỳ trái khoáy điêu hớt, nó xăm trổ vào ký ức, tình cảm tôi những điều méo mó không xóa đi được.
      Bố tôi là đảng viên Cọng sản, chủ tịch ủy ban lâm thời hành chính kháng chiến xã. Sau kháng chiến toàn quốc, ông thoát ly thành bộ đội tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Mẹ tôi, một người đàn bà mù chữ, ở nhà làm ruộng nuôi con. Thằng em tôi ba tuổi lúc cải cách, nó bé quá. Mẹ tôi nghèo đến độ, trước đó giặc Pháp đốt làng, chỉ còn sót lại có một vì kèo. Phải gác nhờ cây cái móc vào nhà bên cạnh mới lợp được hai mái rạ che nắng mưa. Mãi rồi bố tôi mới dựng được một túp nhà riêng giữa vườn chuối cho ba mẹ con trước khi ông đi thoát ly.
      Ngày đội cải cách về, chẳng hiểu cơn cớ làm sao mẹ tôi được quy là cường hào ác bá ( dây mơ rễ má đâu là chỗ ông nội tôi từng làm chân lý trưởng. Ông tôi mất năm 1933, trước ngày đội cải cách về đúng 20 năm. Đời bố tôi là một bần cố nghèo rớt mồng tơi, đi theo cách mạng ).
      Đang là con nít mãi ăn chơi với trẻ con hàng xóm, lúc thì rủ nhau chui vào hái trộm ổi xanh, khi lang thang đúc dế ở chân đê, rồi đánh nhau lôi cả tên bố mẹ nhau ra mà chửi dọc đê làng… Đùng một cái mẹ lôi hai anh em tôi xuống cái ổ rạ cạnh bếp vừa khóc vừa bảo (cái đũa bếp cháy vẹt một đầu đập đập theo tiếng thổn thức): “Bầm dặn thằng Tân từ hôm nay phải ngồi đóng gông ở nhà trông em. Không được đi chơi đi học nữa. Nếu gặp đám bạn con nhà hàng xóm thì phải khoanh tay chào bằng ông bà và xưng là con…”
      Tôi phụng phịu phản ứng. Mẹ tôi giang tay tát một cái trời giáng vào mặt khiến hai mắt tôi nổ hoa cà hoa cải. Liền đó bà ôm hai anh em tôi khóc như mưa như gió, nói những điều mà tôi không hiểu: “Nhà ta từ nay là gia đình thành phần rồi con ơi…” … …
      Là cường hào ác bá nhưng nhà tôi chẳng đủ gạo ăn. Đã thế lại còn cấm quan hệ với anh em, họ hàng, chòm xóm. Đó là nỗi nhục, nỗi uất lớn nhất của mẹ tôi. Bữa cơm chỉ có sắn khô meo mốc luộc lên nhai, nhiều bữa ăn cháo củ chuối… Đêm nào mẹ tôi cũng giật mình thon thót khi bước chân tuần tra của dân quân nện ngoài hàng rào.
      Nhưng cũng có những tiếng động làm giật mình mà bà chờ đợi, ấy là bà ngoại tôi, các dì tôi biết ba mẹ con tôi đói nên thỉnh thoảng lại gói khoai lang, bắp ngô, túm gạo…nhằm lúc không có người ném bụp vào trong vườn. Bần cố nông cứ tiếp tế cho cường hào mấy tháng liền mà không ai biết.
      Cũng hôm ấy, thấy người đi mít tinh vui quá, hùng dũng quá, tôi quên thân phận mình, quên lời mẹ dặn, chui rào trốn ra cùng đám bạn bám quanh cán cờ. Mắt tôi cũng long lanh kích động, cũng nắm tay thụi ngực, miệng hô: “Đả đảo bọn cường hào ác bá”; “đào tận củ, trốc tận rễ bọn trí phú địa hào…”
      Chợt rễ Th. nhìn thấy tôi. Hắn túm gáy, bẹo tai tôi vặn ngược, lôi xềnh xệch ra mép đê, đạp một cú chí mạng vào ngực tôi, miệng chưởi: “Đ. Mẹ thằng cường hào con. Ai cho này mó vào cờ Cách mạng hả”. Tôi lộn mấy vòng xuống chân đê, trong lòng vừa hoảng sợ, vừa uất ức đến cực độ.
      Từ hôm ấy tôi cũng công khai chưởi vào mặt bọn con nhà nông dân: “Ông đút b. vào chơi với chúng bay nữa. Ông chỉ chơi với thằng Vựng, thằng Khàng thôi”. Thằng Vựng con nhà phú nông, thằng Khàng con nhà địa chủ… Đám cường hào, địa chủ con chúng tôi đành tha thẩn chơi với nhau”…. … …
      Đội cải cách ruộng đất về làng như một cơn gió độc, cuốn lộn tùng phèo mấy chục nóc nhà giống như mấy chục cái đụn rạ của thôn tôi lên. Mãi sau này khi trưởng thành, tôi mới thấy sự tác hại ghê gớm của nó còn di hại đến tận ngày nay, đó là sự phá vỡ cái kết cấu chặt chẻ của nông thôn Việt Nam, những mối quan hệ tốt đẹp tương thân tương ái, hợp lý hợp tình của quần thể sống, như người xưa vẫn dạy: xóm giềng “sớm lửa tối đèn” có nhau, những mối quan hệ tốt đẹp tôn ti trật tự có trên có dưới, cái hạt nhân làm nên tinh hoa văn hóa của mỗi dân tộc, đó là gia đình, cũng như triệt hạ không ít những con người tinh hoa nhất, giỏi giang nhất trong mỗi làng xóm.
      Và cũng chỉ từ cải cách ruộng đất các cụ bảo mới có chuyện con cháu hỗn hào với ông bà cha mẹ, mới có chuyện con chưởi cha, vợ lộn chồng như thế.”…
      Đợt 5 Cải cách ruộng đất
      Năm 1955, ngày 25-12, tiến hành đợt 5 Cải cách ruộng đất tại 8 xã Bắc Ninh, 45 xã Ninh Bình, 163 xã Nghệ An, 6 xã Hà Tĩnh, 118 xã Quảng Bình, 21 xã Vĩnh Linh, 217 xã Hải Dương, 149 xã Hưng Yên, 294 xã Thái Bình, 83 xã Kiến An, 47 xã Hà Nội, 9 xã Hải Phòng, 40 xã Hồng Quảng.
      Năm 1956, ngày 30-7, trước cao trào nhân dân đồng loạt nổi lên chống lại phong trào Cải cách ruộng đất, ĐCSVN ra lệnh chấm dứt giai đoạn 5 Cải cách ruộng đất và cho thi hành biện pháp sửa sai. Tổng kết: đã thực hiện Cải cách tại 3.314 xã, thuộc 22 tỉnh, trong thời gian 3 năm, gồm 2.435.518 gia đình với 10.699.504 nhân khẩu. Tổng số các ông đội cải cách (cán bộ nòng cốt của Đảng) được huy động vào chiến dịch là 48.818 người.
      Tổng kết chiến dịch cải cách ruộng đất được Lê Mậu Hãn công bố trong sách “Đại Cương Lịch Sử Việt Nam”. Do nhà xuất bản Giáo Dục của CSVN phát hành năm 2001. Dĩ nhiên là Lê Mậu Hãn không được phép công bố số người bị giết. Tuy nhiên theo các lời chứng khác về Cải cách ruộng đất như ông Hoàng Văn Chí, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần đều xác nhận rằng các cố vấn bắt buộc mỗi xã phải kiếm cho ra 5% là thành phần địa chủ để giết, xã nào không có đủ thì lấy phú nông hay trung nông mà đôn lên.
      Như vậy so với con số 2 triệu rưỡi gia đình của Lê Mậu Hãn mà suy ra thì có 125.000 hộ bị quy là địa chủ, và thường bị giết cả vợ lẫn chồng. Vậy thì phải có ít nhất là 250.000 địa chủ hay phú nông đã bị giết. Đây mới chỉ là thành phần địa chủ, chưa kể thành phần cường hào và Quốc Dân Đảng.

  6. Chiến dịch tố cộng và luật 10/58 của Ngô Đình Diệm so sánh với” Cải cách ruộng đất”, ai “khủng” và tàn bạo hơn?
    Với Luật 10/59, chế độ Ngô Đình Diệm đã tổ chức các chiến dịch “Tố Cộng, diệt Cộng”, tiến hành càn quét khắp miền Nam, giết hại hàng loạt những người kháng chiến của Việt Minh. Hàng chục vạn người dân thường cũng bị bắt giữ vì tình nghi có liên quan tới Việt Minh, hàng ngàn làng mạc đã bị đốt phá, gây ra sự căm phẫn cho rất nhiều người dân miền Nam. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới Phong trào Đồng khởi của người dân miền Nam nhằm chống lại chế độ Ngô Đình Diệm.
    … Quân đội Ngô Đình Diệm mở nhiều cuộc hành quân càn quét quy mô lớn, dài ngày như các “chiến dịch Thoại Ngọc Hầu” kéo dài 9 tháng (5-1956 đến 2-1957) ở 18 tỉnh miền Tây Nam Bộ, “chiến dịch Trương Tấn Bửu” trong 7 tháng (7-1956 đến 2-1957) ở 8 tỉnh miền Đông Nam Bộ… để triệt phá cách mạng, tàn sát những người ủng hộ Việt Minh, khủng bố những người kháng chiến chống Pháp mà Ngô Dình Diệm gọi là cộng sản hoặc phần tử thân cộng sản. Mỹ-Diệm đã ban hành Luật 10/59 “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, cho thành lập trên khắp miền Nam những nhà tù, trại giam, trại tập trung để giam giữ những người bị tình nghi ủng hộ Việt Minh[http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungchinhsachthanhtuu?categoryId=797&articleId=10000630]
    Để tăng tính uy hiếp, Việt Nam Cộng hòa sử dụng cả máy chém để hành quyết phạm nhân. Nhiều vụ xử chém của Việt Nam Cộng hòa được diễn ra công khai trước dân chúng, đầu phạm nhân được đem bêu để cảnh cáo. Báo The Straits Times (Singapore) ngày 24 tháng 7 năm 1959 có bài viết tường thuật cảnh 1.000 người dân xem xử chém ở Sài Gòn.( theo “NewspaperSG”. )Truy cập 10 tháng 8 năm 2016.
    Báo Buổi sáng (Sài Gòn) ngày 15-10-1959 có viết: “Theo một phán quyết của phiên xử vắng mặt của Tòa án Quân sự Đặc biệt ngày 02 tháng 10, Nguyễn Văn Lép, tức Tư Út Lép, một Việt Cộng, đã bị tuyên án tử hình. Cách đây một tuần, Lép đã bị sa vào lưới của Cảnh sát trong một khu rừng ở Tây Ninh. Bản án tử hình đã được thi hành … Hiện đầu và gan của tên tử tù đã được Hội đồng xã Hào Đước cho đem bêu trước dân chúng”[ Báo Buổi sáng, số ngày 15-10-1959, phát hành tại sai gòn].
    Trong thời gian từ 1955 đến 1960, theo số liệu của Việt Nam Cộng hoà, đã có 48.250 người bị tống giam, • (^ The Pentagon Papers – Volume 1, Chapter 5, “Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1955-1960″). Theo một nguồn khác từ Mỹ, đã có khoảng 24.000 người bị thương, 80.000 bị hành quyết hay bị ám sát, 275.000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn hoặc không, và khoảng 500.000 bị đưa đi các trại tập trung.[ Vietnam: Why Did We Go?” by Avro Manhattan, Chick Publication, California 1984, pp. 56 & 89]
    Điều này đã làm biến dạng mô hình xã hội, suy giảm niềm tin của dân chúng vào chính phủ Ngô Đình Diệm và đẩy những người kháng chiến (Việt Minh) vào rừng lập chiến khu.

    Tôi muốn cho mọi người biết sự thật dù sự kiện đã trôi qua hơn nửa thế kỷ. Chắc điều này làm hỏng bát cơm của Bùi Anh Trinh, nhưng sự thật này đang làm mọi người day dứt! NBCQ

    • Gởi DC Noi Buon Co Quan va cac DC DLV
      Bởi vậy tôi cũng như các đồng chí rất ” căm ghét ” Ngô Đình Diệm và tay sai ”
      Lý do ?  :  ” bọn chúng ” đã không làm được như bài viết của DC. Phải chi ” bọn chúng ” chặt đầu, bỏ tù hết tụi VC, VM nhỉ?
      Giá như ” Ngô Đình Diệm và tay sai ” chỉ cần theo gót Indonesia thập niên 60’s thì VC và VM chết ngắc!! ngóc đầu lên không nỗi.  ( Nghe nói bây giờ ở Indonesia mà mặc cờ của CS đi trên phố sẽ bị ” chúng oánh ” cho bể sọ!!

  7. Kính gởi các DC NBCQ, Đinh Ngọc Anh và DLV
    Các DC vẫn chưa chịu trả lời cho tôi được học hỏi về mấy chuyện : Quỳnh Lưu, Mậu Thân, Đại Lộ Kinh Hoàng (Quảng Trị) dân ( đàn bà con nít chạy loạn bị binh đoàn Pháo Cờ Lau của QDND tàn sát) nằm chết nhiều hơn lính. CHỈ KÊ VÀI CHUYỆN!!
    Làm ơn trả lời, đang mong đợi hồi âm của các DC ( Có trích sách báo nào của đảng thì cũng nên cho biết để khỏi phải đi tìm mất thời gian )

  8. NỖI BUỒN CỐ QUẬN TRẢ LỜI DÂN N.
    DÂN N – Lý do gì mà người dân Bắc lại bỏ hết tất cả tài sản đất đai mồ mả ông bà mà chạy vào Nam là một miền đất hoàn toàn xa lạ?. Trong đó đa số là đàn bà con nít?
    “…Nhiều tín đồ Công giáo miền Bắc không chỉ chiến đấu cho lực lượng dân quân Công giáo mà còn chịu sự chỉ huy của Pháp….”
    – REALLY? (nguồn đáng tin cậy?)
    “…Khi cuộc nổi dậy của Việt Minh thắng lợi hoàn toàn ở miền Bắc, nhiều tín đồ Công giáo lo sợ bị trả thù đã sẵn sàng bỏ vào Nam…”
    – Đàn bà con nít mà cũng sợ ” bị trả thù ” à? . Họ làm gì mà sợ bị trả thù? ( điều đó có nghĩa là VM giết tận giết tiệt như đã xảy ra ở Quỳnh Lưu?)
    “…nhiều người trong lực lượng này xem Giáo hội Công giáo Việt Nam là đồng minh của chủ nghĩa thực dân Pháp….”
    NBCQ TRẢ LỜI:
    Trướn tiên xin giới thiệu với DÂN N về Tađêô Lê Hữu Từ (1896 – 1967) là một Giám mục công giáo của Việt Nam, với khẩu hiệu Giám mục là “Tiếng kêu trong hoang địa” (“Vox Clamantis” Mt 3:3). Ông từng là Giám mục giáo phận Phát Diệm, được xem là người thành lập và lãnh đạo lực lượng Tự vệ Công giáo chống Cộng tại Bùi Chu – Phát Diệm trong giai đoạn 1950-1954. Ông cũng được xem là lãnh đạo tinh thần của những người Công giáo di cư tại miền Nam trong suốt giai đoạn 1954-1967.
    . Ông liên tục chỉ đạo mở rộng các đội vũ trang, từ những trung đội “Vệ sĩ Công giáo” (1946), thành “Đoàn Cựu chiến binh Công giáo” (1947), rồi các đoàn “Dũng sĩ Công giáo” (1948)… Giáo khu Phát Diệm được tổ chức thành 3 khu quân sự là khu Phát Diệm, khu Phúc Nhạc và khu Gia Khánh, Gia Viễn, Nho Quan. Tất cả đều được đặt dưới quyền chỉ huy chung của “Tổng bộ Tự vệ Công giáo”, do linh mục Hoàng Quỳnh làm Tổng chỉ huy.
    Từ tháng 11 năm 1948, sau khi Giám mục Bùi Chu là Giuse Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn qua đời, Tòa Thánh chỉ định ông kiêm Giám quản Tông tòa Giáo phận Bùi Chu. Ảnh hưởng và tổ chức của ông tiếp tục lan ra đến Bùi Chu. Cả một khu vực Bùi Chu – Phát Diệm trở thành khu tự trị Công giáo với 40 vạn giáo dân, dưới sự cai quản của ông, ngoài quyền kiểm soát của chính quyền Việt MINH.
    MồM ông Lê Hữu Từ tỏ ra chống Pháp rất quyết liệt, ông nhận định rằng: “Quân lính Pháp, với một sự dã man tột độ, đã phá hủy tất cả, không trừ một thứ gì, kể cả nhà thờ. Trong vòng một năm, gần 300 nhà thờ đã bị bom đánh phá…”[Thư chung LHT đề ngày 25 tháng 1 năm 1949 ]. Ông khẳng định: “Tôi đã tuyên bố nhiều lần rõ rệt thái độ của tôi: tôi vẫn đứng bên cụ Hồ để chống thực dân Pháp đến cùng”[Thư chung đề ngày 17 tháng 4 năm 1949]. Tuy vậy,ngày 15 tháng 10 năm 1949, quân Pháp tiến vào chiếm đóng Phát Diệm . Để giữ được quyền tự trị cho giáo khu Bùi Chu – Phát Diệm, ông đã chấp nhận theo Pháp chống lại Việt Minh, đổi lại, người Pháp vẫn để cho ông quyền tự trị. Hơn thế nữa, họ còn chấp nhận vũ trang cho giáo dân để có thêm đồng minh chống Việt Minh. Chính hành động này, mặc dù có đưa ra những lời phân bua thiện chí, Giám mục Từ vẫn bị những người kháng chiến xem là kẻ phản bội và hợp tác với Pháp để chống lại cuộc kháng chiến, nhất là khi thấy Giám mục nhận cả súng đạn của người Pháp để trang bị cho lực lượng Tự vệ Công giáo của mình, cùng quân Pháp thực hiện các cuộc càn quét tiêu diệt quân Việt Minh.

    Bất chấp những nỗ lực của người Pháp trong việc chia rẽ trong hàng ngũ kháng chiến , lực lượng Việt Minh vẫn ngày càng trở nên mạnh mẽ. Lực lượng họ phát triển dần đến hàng sư đoàn, nhiều lần xuyên thủng những tuyến phòng thủ của người Pháp để xâm nhập sâu vào đồng bằng Bắc Bộ, thậm chí đã tiến gần đến ngoại ô của Hà Nội. Người Pháp vội vã thành lập những đơn vị người Việt để bù vào việc thiếu nhân lực. Những chiến binh Công giáo Bùi Chu – Phát Diệm là những thành phần nòng cốt cho các tiểu đoàn Việt Nam (Batallion Vietnamien – BVN) chiến đấu cùng quân Pháp để chống lại những đoàn quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam .Sự liên hiệp thật hay chỉ là sách lược của giám mục Lê Hữu Từ là một thắng lợi lớn của chính sách Pháp, vởi vì chẳng mất một tên lính nào, nước Pháp đã làm chủ tình hình cả phần phía Nam tỉnh Phát Diệm (trở thành tỉnh Phát Diệm tự trị), một phần đất tỉnh Nam Định (trở thành tỉnh Bùi Chu tự trị) và nhiều vùng Công giáo thuộc các tỉnh Thái Bình, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nội… Hơn nữa, người Pháp cũng có thể dựa vào hàng chục ngàn dân quân tự vệ Công giáo được vũ trang, mà chẳng phải trả tiền nong gì. Và có loại dân quân tự vệ đáng kính này!
    Ngày 7 tháng 5 năm 1954, trận Điện Biên Phủ kết thúc với chiến thắng hoàn toàn của những người Việt Minh. Người Pháp phải chấp nhận Hiệp định Genève, 1954 để có thể rút quân về nước
    Lo sợ trước sự trả thù của những người Cộng sản, vốn giành được quyền kiểm soát vùng lãnh thổ phía Bắc vĩ tuyến 17, ngày 30 tháng 6 năm 1954, Giám mục Từ cùng với 143 linh mục và 80.000 giáo dân Phát Diệm thực hiện cuộc di cư vào Nam.[^ Số liệu theo thống kê các giáo phận tại miền Bắc Việt Nam, do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện cuối năm 1955.Cùng di cư vào Nam với ông còn có các Giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi (giáo phận Bùi Chu, Giuse Trương Cao Đại (Giáo phận Hải Phòng). Lúc bấy giờ, cả miền Bắc chỉ còn 3 Giám mục là Giuse Maria Trịnh Như Khuê (Giáo phận Hà Nội, Đa Minh Hoàng Văn Đoàn (Giáo phận Bắc Ninh) và Gioan Baotixita Trần Hữu Ðức (Giáo phận Vinh).] Một sĩ quan Việt Minh trẻ là Vũ Ngọc Nhạ đã giúp đỡ ông trong việc tổ chức di cư này, và ông này đã nổi tiếng là nhân viên tình báo cho Việt Minh.

    DÂN N – Công Giáo đồng minh với PHƯƠNG TÂY ( không phải THỰC DÂN PHÁP) bởi vì phương Tây TÔN TRỌNG TỰ DO TÔN GIÁO!!! Điều này không có trong giáo điều của VM ( tiền thân DCSVN).
    NBCQ TRẢ LỜI:
    Linh Mục Alexandre de Rhodes vận động Pháp đánh Việt Nam:
    Nguyên văn, chính A. de Rhodes chứ không ai khác, đã viết như sau:
    “Tôi tưởng nước Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ để chinh phục toàn cõi Đông phương đưa về quy phục Chúa Ki Tô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời Roma ngày 11/9/1652 sau khi tới hôn chân Đức Giáo hoàng. Tôi chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung Hoa, ở Đàng Trong(NAM VN), ở Đàng Ngoài(NAM VN) và ở Ba Tư thì lập tức đã có một số đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanxicô Xavie tới 300 quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và đem đi cắm ở những nơi cùng kiệt cõi đất [Bùi Kha, “Nguyễn Trường Tộ & vấn đề canh tân”, NXB VH HN,30.3.2011, tr. 59.60 & 61].Nguyên văn tiếng Pháp:
    [“J’ai cru que la France estant le plus pieux Royaume du monde, me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conqueste de tout l’Orient, pour l’assujettir à Jésus-Christ, & particulièrement que j’y trouuerois moyen d’avoir des Euesques, qui fussent nos Pères, & nos Maistres en ces Églises, je suis sorti de Rome à ce dessein le vinziesme Septembre de l’année mil six cents cinquante deux après avoir baisé les pieds au Pape…].
    Và thế Vn một trong những số nước được những người theo phái Thừa sai Pa ri vận động Hoàng Đế nước Pháp xâm lược Vn. Năm 1858 , tầu chiến Pháp và Tây BAN NHA nổ phát súng xâm lược VN đầu tiên ở Đà Nẵng( DẤU VẾT Nghĩa địa I-PHA-NHO chôn lính Pháp và Tây ban nha vẫn còn chân bán đảo Sơn trà Đà Nẵng). Năm 1887, Pháp chiếm toàn cõi Đông Dương, xé VN là 3 vùng Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ và cũng là xóa tên VN trên bản đồ thế giới.

    Dân N : “Xin quý vị DLV làm ơn trả lời những thắc mắc của mình để mình được ” MỞ RỘNG KIẾN THỨC THEO KIỂU LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG ”
    Thành thật cảm ơn
    Reply
    NBCQ TRẢ LỜI: Bạn Dân N, tôi đã làm theo ý bạn bằng sự thật lích sử.

  9. TRẢ LỜI DÂN N.
    DÂN N CÓ THƯ THỈNH “Gởi DC Noi Buon Co Quan va cac DC DLV
    Bởi vậy tôi cũng như các đồng chí rất ” căm ghét ” Ngô Đình Diệm và tay sai ”
    Lý do ? : ” bọn chúng ” đã không làm được như bài viết của DC. Phải chi ” bọn chúng ” chặt đầu, bỏ tù hết tụi VC, VM nhỉ?
    Giá như ” Ngô Đình Diệm và tay sai ” chỉ cần theo gót Indonesia thập niên 60’s thì VC và VM chết ngắc!! ngóc đầu lên không nỗi. ( Nghe nói bây giờ ở Indonesia mà mặc cờ của CS đi trên phố sẽ bị ” chúng oánh ” cho bể sọ!!
    NỖI BUỒN CỐ QUẬN TRẺ LỜI :
    1.Ngô đình Diệm cũng đã cố gắng chặt hết đầu VC và VM bằng máy chém như bạn mong ước, nhưng 90% dân số Miền Nam đều tham gia kháng chiến và là VM, nếu chặt hết đầu họ thì Ngô Đ Diệm sống với ai?
    Vả lại không cần VM ra tay thì ông Diệm đã bị bọn đàn em (Dương Văn Minh, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính được Mỹ cho tiền chặt đầu anh em ông Diệm rồi, ông Diệm còn đâu trên đời mà thực hiện được ý muốn của bạn.
    2. Việt Cộng bây giời treo cờ đỏ sao vàng ngay giữa thủ đô Ja-các-ta của Indonexia, Tham gia hiệp hội ASEAN thủ tướng cs VN như Nguyễn Tấn Dũng đi Indonexia như đi chợ, dân VN du lịch hàng đoàn sang Indonexia, dân họ rất hoan nghênh, cổ động viên bóng đá Seagem của VN kéo cờ đỏ sao vàng trên đường phố và sân vận động của Indonexia rất vui.
    Lòng hận thù cs của bạn đã mất hết lý trí rồi!

    • *Trích sách Bố Cảnh Lịch Sử Chính Trị Việt Nam của Bùi Anh Trinh, tập thượng, từ trang 807:
      CUỘC DI CƯ TỊ NẠN VĨ ĐẠI
      Năm 1954, tháng 4, trận chiến đang xảy ra ác liệt tại Điện Biên Phủ nhưng cuộc Cách mạng cải cách ruộng đất tại các vùng do Việt Minh chiếm đóng lại càng ác liệt hơn nữa. Sau khi dồn hết quân dự bị cho Điện Biên Phủ, Tướng Navare quyết định bỏ vùng đồng bằng Thái Bình để rút về củng cố vành đai phòng thủ xung quanh Hà Nội.
      Tướng Nguyễn Chí Thanh cho lệnh Đại đoàn 320 tấn công vào hai khu Công Giáo tự trị là Bùi Chu và Phát Diệm. Cuộc chạm súng xảy ra giữa Đại đoàn 320 và 2 tiểu đoàn Tự vệ Công giáo đã khiến cho dân chúng bỏ chạy. Họ tập trung thành những nhóm lớn, tổ chức di tản tập thể đến những vùng an toàn. Nhưng sau đó quân CSVN cũng bao vây phong tỏa các khu tập trung, nhiều người bỏ trốn bị bắt và bị giam cầm. Dầu vậy vẫn có một số người trốn thoát về được đến vùng do quân của Bảo Đại kiểm soát.
      Năm 1954, tháng 7, trong khi Hội nghị Genève đang diễn ra thì đã có 25.000 người tị nạn Cọng sản đã về được tới Hà Nội, 15.000 người về tới Hải Phòng và 5.000 người về tới Kiến An – Hải Dương. Những người tị nạn choán hết các nhà ga, bến xe, bến tàu và dựng lều ngủ ở giữa đồng. Tại Hà nội thì dân tị nạn chiếm Nhà Hát Lớn và nhà dòng Chúa Cứu Thế.
      Năm 1954, ngày 7-7, Ngô Đình Diệm nhận chức Thủ tướng và thành lập chính phủ. Ông cho thành lập Sở Di cư thuộc bộ Xã hội và Y tế để giúp đỡ những nạn nhân di cư tị nạn Cọng sản ( Lúc này chưa có Hiệp định Genève).
      Năm 1954, ngày 17-7, ba ngày trước Hiệp định Genève, tàu Anna Salen của Thụy Điển chở trên 2.000 người tị nạn Cọng sản rời cửa biển Bắc Việt và cập bến Sài Gòn ngày 21-7-1954.
      Năm 1954, ngày 21-7, Hiệp định đình chiến được ký kết tại Genève, theo đó thì trong vòng thời hạn 300 ngày, những ai không muốn sống dưới chế độ Cọng sản thì được quyền tự do di trú vào Nam và những ai không thích sống dưới chế độ của Bảo Đại thì có quyền tự do di trú ra ngoài Bắc. Một Ủy ban chuyển vận Việt Pháp được thành lập để vận chuyển những người muốn di cư.
      Năm 1954, ngày 22-7, sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai mở một buổi tiệc để tiễn đưa phái đoàn Phạm Văn Đồng về nước. Tuy nhiên phái đoàn CSVN hết sức ngạc nhiên khi thấy trong số khách mời có cả Ngô Đình Luyện là em của Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ông Luyện đang làm đại diện cho chính phủ Ngô Đình Diệm tại châu Âu.
      Ông Chu Ân Lai nói rất vui vẻ: “Dĩ nhiên là đồng chí Phạm Văn Đồng gần gủi chúng tôi hơn về mặt ý thức hệ nhưng việc đó không trở ngại cho việc Miền Nam có đại diện tại Bắc Kinh. Cả hai bên đều là người Việt Nam và tất cả chúng ta đều là người Á Châu, có phải không?”. ( Bạch thư của CSVN với tựa đề “Quan hệ Việt Nam- Trung Quốc Trong 30 Năm Qua” phát hành năm 1979, trang 38 ).
      Sau đó Phạm Văn Đồng trở về Thái Nguyên và kể lại cho các vị lãnh đạo CSVN về thái độ của Chu Ân Lai. Các ông biết rằng, như vậy có nghĩa là thời hạn tổng tuyển cử thống nhất đất nước vào năm 1956 được ghi trong Hiệp định Genève sẽ không được thi hành. Và có thể đất nước sẽ bị chia đôi vô hạn định như nước Đức hay nước Đại Hàn. Năm 1954, cuối tháng 7, đã có 20.000 người dân trong tỉnh Thái Bình trốn thoát đến vùng do Quân đội Quốc Gia kiểm soát.
      Năm 1954, ngày 4-8, phi trường Gia Lâm, Bạch Mai ở Hà Nội và phi trường Cát Bi ở Hải Phòng được dùng làm nơi vận chuyển những người muốn di cư vào Nam bằng đường hàng không. Cầu không vận dài nhất thế giới được thiết lập (1.200 Km) với sự tham gia của các công ty hàng không được thuê mướn hay trưng dụng như : Air France, Air Vietnam, Aigle Azur, Air Outre Mer, Autrex, Cosara và UAT. Phi trường Tân Sơn Nhất cứ mỗi 6 phút là có 1 máy bay hạ cánh, biến thành phi trường bận rộn nhất thế giới thời đó.
      Năm 1954, tháng 8, vì số người di cư từ Miền Bắc vào Nam tăng quá nhanh ngoài dự định của Ủy ban chuyển vận Việt Pháp cho nên Thủ tướng Ngô Đình Diệm kêu gọi sự tiếp tay của chính phủ Hoa Kỳ. Tổng thống Eisenhower cho lệnh thành lập “Hải đoàn đặc nhiệm 90” gồm 41 chiếc tàu đủ loại, đoàn tàu có khả năng vận chuyển 100.000 người mỗi tháng. Chuyến đầu tiên là tàu U.S.S Menard chở 2.100 người, cập bến Sài Gòn ngày 16-8-1954.
      Năm 1954, tháng 10, Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn quân vinh quang trở về Hà Nội và bắt đầu trình diễn tự đánh bóng mình trước dân chúng. Tuy nhiên đằng sau lưng của ông là Tổng Bí thư Trường Chinh và đằng sau Trường Chinh còn có hai cố vấn vĩ đại là La Quý Ba và Kiều Hiểu Quang. Lúc này thì cố vấn quân sự Vi Quốc Thanh đã về Trung Quốc, để cho Đại Tướng Võ Nguyên Giáp hưởng trọn những lời tung hô về chiến thắng Điện Biên Phủ.
      Năm 1954, ngày 22-10, máy bay quan sát của Hải quân Pháp phát hiện trên bải cát dọc theo bờ biễn vùng Bùi Chu, Phát Diệm có nhiều dân chúng đang vẫy tay ra dấu hiệu và trên mặt biển thì có hàng ngàn ghe thuyền đủ loại đang hướng ra khơi. Hải quân Pháp được lệnh đưa tàu thuyền tới giúp, đây là những người dân muốn thoát ra khỏi vùng Cọng sản kiểm soát. Họ phải trốn đi vì chính quyền Cọng sản đã ngăn cấm dân chúng không được di cư, ra lệnh ghe thuyền không được ra khỏi bờ 3 hải lý và dân chúng sống ven bờ biển phải di tản vào sâu trong nội địa 20 cây số.
      Dân di cư cho biết chính quyền Cọng sản đã chiếm các nhà dòng Công giáo, tịch thu nhà cửa , ruộng đất của các họ đạo và bắt các linh mục phải bận quần áo nông dân và phải ra đồng canh tác. Ngoài ra chính quyền Cọng sản bắt mỗi người Công giáo mà muốn đeo “Ảnh Áo Đức Bà” thì phải đóng thuế 1.000 đồng, gọi là “thuế bùa chú”.
      Và bắt các giáo dân phải học tập một cuốn sách giảng dạy “Kinh Thánh Mới” do các “linh mục nhà nước” biên soạn, trong đó có những câu như “Chúa Giê Su là một người lao động tranh đấu cho công cuộc giải phóng anh em công nhân” (Hsltr/Quốc gia Pháp, báo cáo của Cao ủy Pháp tại Sài Gòn, ngày 29-10-1954)

      Đợt 2 Cải cách ruộng đất
      Năm 1954, ngày 23 tháng 10, tiến hành đợt 2 Cải cách ruộng đất tại 22 xã thuộc tỉnh Thái Nguyên, 100 xã thuộc tỉnh Phú Thọ, 22 xã thuộc tỉnh Bắc Giang, 65 xã thuộc tỉnh Vĩnh Phúc và 66 xã thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đặc biệt trong đợt này có cha mẹ của ông Trường Chinh bị đem ra đấu tố để làm gương.
      *Chú giải : Tội lỗi của Trường Chinh
      Nếu ông Hồ Chí Minh mang tội là bạc ác bất nhân thì ông Trường Chinh lại bị dân chúng Việt Nam kết tội là bất nghĩa. Ông đã quyết định cho đấu tố cha mẹ của ông để làm gương mặc dầu các cụ đã hết lòng hỗ trợ cho cách mạng Việt Nam từ đầu tới cuối; các cụ đã che giấu và tiếp tế cho các ông trong những tháng ngày ông hoạt động bí mật, các cụ đã bới sách thăm nuôi ông trong những năm ông nằm trong tù.
      Sau khi ông ra khỏi tù thì các cụ lại đưa tiền cho ông để ông hùn vốn lập ra tờ báo Le Travailes và tờ Đời Nay là cơ quan tuyên truyền của Cọng sản. Không những chỉ riêng cha mẹ của Trường Chinh, mà bác ruột của Trường Chinh và các thân hào nhân sĩ trong làng Hành Thiện tỉnh Nam Định như cha mẹ Nguyễn Thế Truyền, cha mẹ Nguyễn Thế Rục, cha mẹ Nguyễn Thế Vinh; tất cả đều bị đưa ra trước tòa án nhân dân để bị hành hạ, đánh đập cho tới chết.
      Vậy thì ngoài bà Nguyễn Thị Năm là người đầu tiên bị giết để làm gương thì người kế tiếp là các thân hào nhân sĩ trong làng Hành Thiện. Nhưng những người này cũng là những nạn nhân vô tội. Chẳng những họ không có tội gì với Cách Mạng mà trái lại rất có công với Cách Mạng.
      Bất nhân ở chổ là các ông lãnh đạo CSVN đều biết cha và bác của ông Trường Chinh bị oan như trường hợp của bà Năm nhưng các ông vẫn cho tiến hành đấu tố để gây khí thế. Chuyện giết oan mẹ con bà Nguyễn Thị Năm thì các ông còn đổ tội cho cố vấn La Quý Ba. Nhưng còn chuyện đấu tố cha và giết bác của Trường Chinh thì không biết các ông đổ tội cho ai?
      Dĩ nhiên Trường Chinh cho đấu tố cụ ông Đặng Xuân Viên và cụ bà Nguyễn Thị Thu chỉ là nêu gương và làm cho có chứ không phải ông thù ghét cái tội địa chủ của cha mẹ mình. Nhưng một khi cha mẹ của Tổng bí thư bị đem ra đấu tố làm gương thì không có một ai được lọt lưới và không một ai được nể nang hay chiếu cố. Đặc biệt là các em thanh thếu niên có được một bài học mạnh dạn đấu tố cha mẹ của mình; đưa tới hậu quả là luân thường đạo lý bị đảo lộn, con người không còn tình người.
      Ngày nay ông Nguyễn Chí Thiện, một người từng bị ở tù 27 năm vì tội phản đối chế độ Cọng sản, đã viết một tập thơ mang tựa đề “Hoa Địa Ngục”; trong đó có một bài thơ nói về tâm trạng của một nông dân bị chính con gái của mình tố khổ, trước “tòa án nhân dân” ông phải gọi con gái của mình bằng bà và xưng con.
      Ông Nguyễn Chí Thiện cảm thấy buốt lòng với hình ảnh bất nhân bất nghĩa đó, nhưng ông không nghĩ thêm một chút nữa để thấy rằng người con gái kia đã học theo Trường Chinh. Và ông Nguyễn Chí Thiện cũng không ngờ rằng ngày nay còn có vô số thanh niên tại Việt Nam đang học theo Trường Chinh.
      Những thanh niên này mở miệng ra là bênh vực cho chế độ Cọng sản, giọng điệu của họ y hệt giọng điệu của Trường Chinh. Không biết đối với đất nước thì họ “nói” theo Trường Chinh, nhưng đối với cha mẹ thì họ có dám “làm” như Trường Chinh hay không?
      Năm 1954, ngày 24 -10, tàu Jules Veres của Hải quân Pháp vớt được 3.000 dân tị nạn trên vùng Vịnh Bắc Việt, tàu Commandant de Pimodam vớt được 600 người, hai tàu Hải vận LSM từ Hải Phòng tới tăng cường vớt được 2.000 người. Người dân phải trốn thoát bằng đường biển vì đường bộ đã bị chính quyền Cọng sản ngăn chận.
      Báo Journal d’Extrême-Orient ngày 25-10 đưa tin: “Với những lá cờ vàng và trắng của Vatican phất phới trong gió, hàng ngàn chiếc ghe đánh cá, bè mảng và thuyền buồm chất dầy người tị nạn đã ra đi trong đêm, phó mặc cho số phận, đã tiến về những chiến hạm của Pháp ở ngoài khơi Vạn Lý, bên kia hải phận của Việt Minh. Không may có nhiều thuyền bè đóng vội vàng đã bị sóng lật úp hoặc đánh vỡ khiến hàng trăm người tị nạn đã chết”… “Những chiếc thuyền bè đó lại lập tức quay về để chở thêm những người khác. Thủy thủ đoàn người Pháp đã làm việc hết sức để chuyển người lên tàu, kể cả những trẻ sơ sinh, người già và người bệnh”.
      Sau năm 1975, mỗi năm vào ngày 30-4, người Việt khắp nơi trên thế giới tưởng nhớ đến những nạn nhân bị chết trên đường tị nạn Cọng sản sau khi Cọng sản chiếm được Miền Nam, nhưng ít ai nhớ tới thảm cảnh của những người tị nạn Cọng sản sau khi Hồ Chí Minh chiếm được Miền Bắc. Thật ra cả hai nạn đều là một nạn và thảm cảnh thì cũng y như nhau. Nhưng đau lòng ở chỗ ngày nay thanh niên Việt Nam chỉ biết rằng những người Miền Bắc di cư thì do các cha nhà thờ xúi giục, còn những người chạy nạn năm 1975 là do đồng Đô la xúi giục!
      Năm 1954, tháng 11, Hải quân Pháp được lệnh xông vào bãi biển đảo Trà Lý để cứu thoát khoảng 6.000 người tị nạn đang tạm trốn tránh ở đó. Họ là những người dân tỉnh Thái Bình đã lợi dụng đêm tối, nước thủy triều rút, liều mạng lội bộ ra đảo Trà Lý để mong được cứu vớt, nhưng gần sáng nước thủy triều lên, nhiều người đi sau đã bị sóng cuốn đi. Đô đốc Jean Marie Quelrville ra lệnh cho các tàu nhỏ tiến vào Trà Lý chiếu đèn pha lên bờ để cho thủy thủ xuống cứu người tị nạn. Qua 2 đêm sau, dân chúng Thái Bình lại kéo nhau lội bộ ra đảo Trà Lý để được cứu, Hải quân Pháp cứu được khoảng 5.000 người đưa về Hải Phòng.
      Năm 1954, tháng 11, tàu LSM của Hải quân Pháp do Đại úy Gerald Cauvin chỉ huy đã theo sự hướng dẫn của máy bay quan sát tiến tới 14 chiếc thuyền buồm dang vật vã ở ngoài khơi Vịnh Hạ Long. Cứu được 1.000 người đang bị đói khát đã 5 ngày vì họ trốn thoát một cuộc truy đuổi từ làng Cửa Lò tỉnh Nghệ An.
      Có một bác sĩ Hoa Kỳ tên là Thomas Dooley có mặt trên chiếc tàu cứu vớt dân Cửa Lò. Sau này ông viết cuốn sách Delivers Us from Evil: The stray of Vietnam’s Flight to Freedom, xuất bản năm 1956. Trong đó ông kể rằng những người đào thoát đã cho ông biết là họ đã chuẩn bị rất nhiều ngày để trốn đi trong một đêm không trăng. Theo sự sắp đặt trước, một em nhỏ tên là Mai Văn Thịnh chịu hy sinh ở lại đã đốt nhà ở đầu làng rồi hô hoán cho dân quân đến chữa cháy, trong khi đó hơn một ngàn người kéo nhau xuống thuyền ra biển.
      Em Thịnh có cha mẹ bị chết trong chiến tranh, chỉ còn một người anh duy nhất tên Châm. Nhưng Châm đã bị Cọng sản đưa ra tòa án nhân dân vào ngày 16-1-1953 vì tội cầm đầu một phong trào thanh niên Công giáo. Châm bị trói vào một thân cây, bị đánh đập bằng gậy gộc và bị tưới xăng thiêu sống. Lúc bác sĩ Dooley viết sách này thì không ai biết số phận của Mai Văn Thịnh ra sao nhưng mọi người đều đoán là em chắc phải chết.
      Năm 1955, ngày 15-1, kết thúc đợt 2 Cải cách. Kết quả là nhân dân trong các vùng cải cách quá hoảng sợ kéo nhau chạy về Hà Nội và Hải Phòng để xin phương tiện của Liên Hiệp Quốc mà di cư vào Nam.
      Thực tế của cách mạng cải cách ruộng đất đã cho nhân dân thấy con người đối với con người chỉ còn… “sắt và máu”. Hoàng Tùng kể lại hậu quả của Cách mạng Cải cách ruộng đất bằng những câu mộc mạc như sau:
      “Hậu quả là hơn 1 triệu người di cư vào Nam. Ta đổ tội cho Pháp, Mỹ, điều đó chỉ đúng phần nào, còn là do ta làm ẩu, đánh vội, đánh tràn hết. Không phải địa chủ mà phú nông, thậm chí trung nông cũng đánh. Đảng viên nhiều người tốt cũng bị đánh. Kết quả của những chính sách, cải cách lúc đó là như thế. Do đó khi Cách mạng tháng 8 thắng lợi, không khí là vui mừng đến như thế; mà chiến thắng Điện Biên Phủ, không khí không được vui bằng”.
      Hoàng Tùng thú nhận có hơn 1 triệu dân Miền Bắc đã di cư vào Nam là năm 1954, năm đó mới phát động thí điểm Cách mạng cải cách ruộng đất tại Khu 4 và Trung Du Bắc Việt, chứ nếu như đã phát động trên toàn Miền Bắc thì con số người chạy về phía Tự Do phải gấp 10 số đó.

    • “…nhưng 90% dân số Miền Nam đều tham gia kháng chiến và là VM,
      …”

      Ối giời ơi! d/c khiến mình cười muốn vải cả đái!!!

      “…Việt Cộng bây giời treo cờ đỏ sao vàng ngay giữa thủ đô Ja-các-ta của Indonexia, Tham gia hiệp hội ASEAN thủ tướng cs VN như Nguyễn Tấn Dũng đi Indonexia như đi chợ, dân VN du lịch hàng đoàn sang Indonexia, dân họ rất hoan nghênh, cổ động viên bóng đá Seagem của VN kéo cờ đỏ sao vàng trên đường phố và sân vận động của Indonexia rất vui….”
      Giải thích : CS nắm quyền nên ” tạm coi ” là đại diện tạm thời cho nước VN. Đó là lý do cờ ” máu tháng ” được treo ở Indonesia. Đoàn thể thao VNCS đại diện cho VNcs nên dân địa phương không thể làm gì được. Canh Sat Indonesia có bổn phận phải bảo vệ những vị khách mời ( họ văn minh nên phải theo luật lệ quốc tế)
      Nếu d/c mặc áo cờ máu tháng hoặc cờ CS quốc tế đi một mình trên đường phố Indonesia sẽ biết ngay thôi mà! d/c sẽ hồi hương trong hòm kẽm , má d/c nhìn không ra.
      Gợi ý : vào Google hỏi xem chính quyền và dân Indonesia đã làm gì tụi CS , kể cả cảm tình viên vào thập niên 60’s đến nỗi bây giờ CS ngóc đầu lên không nổi ở đó. By the way Indonesia với chữ S chứ không phải chữ X ( viết sai tên nước người ta dân địa phương tát cho rang rơi vãi ra đất lượm không kịp, chứ không phải như đại ca tàu phù viết chữ Việt Nem mà các d/c im thinh thích
      Từ hôm nay tớ sẽ nói chuyện với cái đầu gối còn hơn mất thì giờ với các đồng chí (dcsvn mạt vận rồi mới mướn dlv trình độ như thế nầy!!! tội nghiệp đảng quá!!

      • Quên nói trả lời mới nhất là gởi đến đ/c nỗi buồn cố quận  ( tên nghe vừa nhà quê vừa cải lương có đầu rơi máu chảy tùm lum!!
        Tối hôm qua đi coi pháo bông mừng năm mới nên chưa trả lời các d/c dlv. Liên lạc với chị lisa Phạm gấp để chị ấy sắp xếp một chỗ trong lớp mà ” thông não ” và ” khai dân trí ” Tớ nói cả cậu (nbcq và xuân stupid). Mau lên!! chỗ ngồi có giới hạn chậm chân đám dlv khác dành hết ráng chịu!!

  10. NỖI BUỒN CỐ QUẬN XIN TRÍCH VÀ GỬI LỜI NHẮN ANH NGUYỄN VĂN THẠC
    – LỜI NG VĂN THẠC:
    “Kính gởi anh Dan N
    Thật ấm lòng khi thấy mình có đồng minh. Tôi xin trình bày với anh mục đích của tôi :
    (1) Nếu tôi ngại phí sức của mình thì tôi sẽ bỏ diễn đàn comment này lại cho một mình bọn dư luận viên CSVN múa may quay cuồng trên sân khấu không có người diễn. Rốt cuộc trên sân khấu chỉ là những tuồng chưởi rủa và bôi bác VNCH.
    (2) Có những người con Miền Nam trước đây thấy khẩu hiệu “Ủng hộ linh mục Nguyễn Văn Lý giải thể Cọng sản” thì họ muốn vào để tìm hiểu thêm và chia sẻ. Nhưng họ sẽ nãn lòng thấy toàn những lời bôi bác, phỉ nhổ sự thật, phỉ nhổ chân lý. Họ sẽ không muốn trở vào một lần nữa để tìm hiểu hay chia sẻ.
    (3) Có những người con Miền Nam, Miền Bắc trong nước đang muốn vào trang mạng của những người chống cộng để tìm biết chuyện gì đã xảy ra ngày xưa. Trước đó họ không tin những gì mà nhà trườngCSVN đã nhồi nhét cho họ. Họ có đủ trí thông minh để biết rằng những thứ của tuyên giáo CSVN không phải là sự thực. Họ đã đi hỏi cha mẹ họ nhưng cha mẹ họ không đủ trình độ và không đủ tài liệu để giải bày cho họ. Họ tìm đến diễn đàn này, nhưng rồi họ sẽ quay đi nếu thấy toàn là những lời bình phẩm phá thối của các dư luận viên CSVN.
    (4) Có những du học sinh VN giờ đây mới có điều kiện để tìm đến với những người của phía VNCH để tìm hiểu sự thực những gì đã xảy ra ngày xưa. Nhưng họ sẽ không tìm được gì nếu những cây viết trên diễn đàn này đểu viết những lời vô thưởng vô phạt, hoặc những lời phẩn uất từ trái tim của mình mà không cần chú ý tới kỷ thuật lý luận. Họ không dẫn được người đọc tới trước chân lý
    (5) Bởi vì vậy mà tôi dùng thời gian nhàn rỗi của mình để lật mặt bọn lưu manh lợi dụng sân khấu bỏ trống để diễn trò bịt mắt thế gian hoặc ngăn chặn người nào muốn tìm đến sự thật. Tôi rất muốn có những lời bình phẩm của bọn dư luận viên CSVN càng nhiều càng tốt để tôi làm ví dụ hướng dẫn cho những người nào muốn tìm hiểu. Đồng thời trang bị lý luận mẫu cho những thanh niên Việt Nam hiện đang miệt mài gõ phím trên net để thúc đẩy dân chủ cho dân tộc Việt Nam.
    (6) Quan mục comment này, những dư luận viên CSVN sẽ giúp cho tôi biết những mẫu lý luận thuộc lòng của tuyên giáo CSVN đã nhồi nhét vào trong tâm trí thanh niên VN như thế nào.
    (7) Ngoài những mẫu tuyên truyền như con vẹt. Tôi cũng mong qua diễn đàn này sẽ có người gởi đến cho mọi người thắc mắc chân thành của họ mà lâu nay không biết ai để hỏi. Do đó tôi chỉ lo là bọn dư luận viên CSVN sẽ tránh xa diễn đàn này để đi đánh phá diễn đàn khác của VNCH. Nhưng lúc đó tôi sẽ theo qua các diễn đàn khác để tiếp tục tìm mẫu lý luận thuộc lòng của CSVN rồi nói cho mọi người biết. Tôi nắm sự thật cho nên tôi không hề sợ những đòn phép gian trá.
    Rất cám ơn lòng tốt của anh đã dành cho tôi. Và cũng xin tri ân nhiệt tâm của anh.
    Kính chào anh.

    NỖI BUỒN CỐ QUẬN Gửi anh NGuyễn Văn Thạc
    Trong tất cả các ý mà anh nêu trên tôi thấy câu này CỦA ANH rất lý thú:
    “Quan mục comment này, những dư luận viên CSVN sẽ giúp cho tôi biết những mẫu lý luận thuộc lòng của tuyên giáo CSVN đã nhồi nhét vào trong tâm trí thanh niên VN như thế nào”.
    VÌ THẾ, ĐỂ ANH HỎI NGU LÂU,NỖI BUỒN CỐ QUẬN tôi xin khuyên anh một câu:” HỌC,HỌC NỮA, HỌC MÃI!”

  11. Bạn DAN N đã tỏ ra ngu ngơ khi hỏi các vẫn đề lịch sử như câu:
    “DÂN N – Công Giáo đồng minh với PHƯƠNG TÂY ( không phải THỰC DÂN PHÁP) bởi vì phương Tây TÔN TRỌNG TỰ DO TÔN GIÁO!!! Điều này không có trong giáo điều của VM ( tiền thân DCSVN)”.
    Bạn DÂN N à, Pháp xâm lược Vn là sự thật rõ ràng , kiến thức lịch sử này học sinh lớp 1 chúng cũng biết. Còn bạn dốt lịch sử thì đừng nói những câu vớ vấn như vậy kẻo dư luận viên người ta coi thường cho .

    • D/c Xuân stupid
      Đúng là tớ có vẻ ngu ngơ nhưng vì tớ ở trong ban tuyên huấn lâu hơn nên tớ biết những chuyện d/c không biết
      Chẳng hạn, tiêu điểm của đảng ta là : vô tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo mà phương TÂy thì họ lại tôn trong những điều này. Tớ cho d/c biệt các d/c Liên Xô xưa như moccuradof va dirietmondoidef ( trình độ i tờ của d/c tớ phải phiên âm ra : móc cu ra đớp và đi riết mòn đôi dép) đã từng tuyên bố : Tôn Giáo là á phiến, và ” NGU DỐT + NHIỆT TÌNH = PHÁ HOẠI ( đúng vào trường hợp của các d/c)
      Hai triệu dân miền Bắc ( ông bà của d/c) bỏ hết ruộng vuon mồ mả ông bà leo lên tàu của bọn ( Pháp Mỹ)   ” thực dân ” chạy vào Nam để trốn sự cai trị của ” bác và đảng ”  
      Hồ ra sức ngăn cản mà đâu có được! d/c vào Nam sau 30/4/75 sẽ nghe dân hai miền thều thào với nhau ( đói quá nói không nỗi dưới sự cai trị của các ” anh lãnh đạo ” ) ” CÁI CỘT ĐÈN CÓ CHÂN NÓ CŨNG RÁNG MÀ VƯỢT BIÊN
      Đúng là trước đây dân VN chống Tây nhưng vào dưới sự cai trị của ” bác và đảng ” dân VN ” thà ở với thực dân còn hơn ở với mấy thằng răng đen mã tấu và ” thằng ấu dâm hồ chó minh ”
      Các d/c NBCQ, Xuân Stupid , Đinh Ngọc Anh nên ghi danh để chị Lisa Pham thông não và khai dan trí cho bởi vì theo đánh giá của Lisa Phạm các d/c thuộc loại ” đầu bò óc chó , ngu lâu khó đào tạo, cuồng đảng cuồng hồ”
      Tớ sẽ về kiểm tra lại tại sao ban tuyên huấn lai phí phạm tiền bạc đi thuê mướn các d/c mà trình độ chỉ hơn Nguyễn xuân phúc có một lớp
      Thôi, chán rồi, không nói chuyện với các đồng chí nữa!!.  
      Chấm Dứt!!

  12. BẠN NGUYỄN VĂN THẠC NGU LÂU QUÁ.
    “ĐỂ ANH KHỎI NGU LÂU,NỖI BUỒN CỐ QUẬN tôi xin khuyên anh một câu:” HỌC,HỌC NỮA, HỌC MÃI!”( TIẾNG NGA PHIÊN ÂM :U-TRÍT-XI-A!U-TRIT-X-IA,I U-TRITS- XI-A!)
    CÂU NÓI NÀY CỦA VƠ-LA-ĐI-MIA, I- LÍCH LÊ-NIN, LÃNH TỤ CỘNG SẢN NGA XÔ , NỖI BUỒN CỐ QUẬN NÓ CHỬI ANH ĐÓ!

  13. GỬI BẠN THẠC .
    Văn hóa Phương Tây không có súng đi xâm lược, còn Thực dân Pháp đã từng xâm lược VN đó.Hóa ra bạn ủng hộ xâm lược Pháp chống lại sự nghiệp giải phóng dân tộc của các cụ Trương Định, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu à?

  14. Bạn Thạc cho biết : Vậy là Lê Duẩn xâm lược Căm pu chía, còn Căm Pu chia có xâm lược Việt nam không? Chắc là bạn yêu tụi Khơ me đỏ là Ponpot và Iêng xa ri lắm đúng không?

    • Trình độ cờ lờ mờ vờ mà cũng đòi góp chyện. Như thế nào gọi là xâm lược?
      Xua quân đánh chiếm thủ đô đất nước người ta, ăn cướp tài sản, tài nguyên của người ta về nước mình. Cai trị nhân dân người ta như là trâu ngựa, bắt làm ra của cải cho mình hưởng, thì mới gọi là xâm lược.
      Lê Duẩn xua quân chiếm thủ đô Nam Vang, chở của cải ăn cướp được của nhân dân Campuchia về nước, cai trị nhân dân Campuchia còn hơn thời Pháp xâm lược Campuchia. Cả thế giới người ta nguyền rủa, Liên hiệp Quốc phải ra lệnh cấm vận CSVN y như cấm vận Bắc Triều Tiên ngày nay, khiến cho nhân dân cả hai nước đói rã họng. Đó mời là xâm lược.
      Năm 1975 Lê Duẩn xua quân chiếm miền Nam Việt Nam, ăn cướp đất đai tài sản của nhân dân miền Nam về Bắc, cài nào không chở được thì đem vợ con vào chiếm ngụ. Cai trị nhân dân Miền Nam như trâu bò, bắt làm ra của cải cho bọn chúng hưởng, không cho kêu than, không cho mở miệng oán trách. Còn tệ hơn là thời Pháp cai trị. Đó mới là xâm lược.
      Năm 1939 quân Đức xâm lược nước Pháp, chiếm thủ đô Paris của Pháp. Năm 1944 quân Mỹ vào Pháp để đánh đuổi quân Đức ra khỏi nước Pháp. Không ai nói đó là xâm lược, có ngu mới nói là xâm lược.
      Năm 1950 Kim Nhật Thành xua quân Bắc Triều Tiên tràn qua vĩ tuyến 38 chiếm thủ đô Seoul của Nam Hàn. Quân Mỹ vào Nam Hàn để đẩy lùi quân Bắc Triều Tiên về Bắc. Không ai nòi đó là xâm lược, có ngu mới nói đó là xâm lược.
      Năm 1964 Lê Duẩn xua quân theo đường mòn HCM đành chiếm Miền Nam, năm 1965 quân Mỹ vào Miền Nam để giúp nhân dân Miền Nam bảo vệ đất đai tài sản của mình. Không ai nòi đó là xâm lược, có ngu mời nòi là xâm lược.
      Đã bớt ngu ra chưa? Dư luận viên CSVN ? Đi làm mọi cho chúng nó ăn trên ngồi trước, nhà cao cửa rộng, con du học nước ngoài mà còn không thấy ra. Nó phát cho một xuất du học, nó bắt làm dư luận viên mà không biết nhục.
      Nhưng mà làm cái kiểu ngu dốt như thế này thì kể như chưởi cha tụi nó thì cũng được nhưng trong lương tâm phải tìm cách mà ở lại, khi ở lại được rồi thì nói lên sự thật cho đồng bào biết.

  15. Cái chuyện mà Thạc nói mình biết từ lâu rồi,lũ vô học nó nói bừa như thế trên mạng nhảm quá. Nhưng mình chỉ hỏi bạn Căm Pu chia có xâm lược và giết hại đàn bà trẻ con VN không, Thạc có yêu bọn Khơ me đỏ Ponpot ,Iêng-xa ri không thì không thấy Thạc trả lời.

    • – Chuyện Lê Duẩn xâm lược bạn biết từ lâu rồi nhưng bạn giấu nó trong lòng phải không?
      – Chuyện Thạc tôi có yêu Pol Pot, Ieng Sari hay không thì bạn cũng thừa biết.
      – Vậy tôi để cho mọi người vào xem sẽ đánh giá ai nhảm? Chuyện nào nhảm?
      – Xin mời nhân dân Campuchia, nhân dân Miền Nam vào đây xác nhận xem Thạc tôi có nói nhảm hay không? Họ chính là nạn nhân của CSVN họ không sợ gì để phải nói láo
      – Thắc mắc cái kiểu con nít như thế này thì cờ lờ mờ vờ quá

  16. Nguyễn văn Thạc ngu hay là Không biết khi Thạc nói:
    “Năm 1964 Lê Duẩn xua quân theo đường mòn HCM đành chiếm Miền Nam, năm 1965 quân Mỹ vào Miền Nam để giúp nhân dân Miền Nam bảo vệ đất đai tài sản của mình. Không ai nòi đó là xâm lược, có ngu mời nói là xâm lược”.
    Xin hỏi tHẠC, vụ án Ba làng An,Miền Nam VN tại đây sau cuộc tàn sát của lính Mỹ, tổng cộng đã có 347 người Việt Nam bị giết theo nguồn tin của Mỹ ( 504 người bị giết theo nguồn tin của Việt Nam).Nạn nhân nhỏ nhất là 1 tuổi và lớn nhất là 82 tuổi. Làng Mỹ Lai đã tan hoang, xác người nằm la liệt khắp nơi.
    Vụ thảm sát Thạnh Phong,Thảm sát Thạnh Phong là sự kiện xảy ra ngày 25 tháng 2 năm 1969 tại Khâu Băng (ấp Thạnh Hòa, xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre), lực lượng biệt kích đặc nhiệm hải quân SEAL của quân đội Mỹ, do Bob Kerrey chỉ huy, giết hại 21 thường dân gồm người già, phụ nữ và trẻ em trong khi truy tìm một cán bộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.
    Theo lời kể, một toán biệt kích SEAL do trung úy Bob Kerry dẫn đầu tới ấp 5, xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Nhóm biệt kích này dùng dao găm KA-BAR để cắt cổ ông Bùi Văn Vát (66 tuổi) và bà Lưu Thị Cảnh (62 tuổi). Ba đứa cháu nội của ông Vát (6 tuổi, 8 tuổi và 10 tuổi) trốn trong ống cống cũng không thoát. Biệt kích Mỹ lôi 3 cháu nhỏ ra, đâm chết 2 cháu gái và mổ bụng cháu trai. Sau đó, nhóm SEAL lùng sục hầm trú ẩn của các gia đình khác, bắn chết 15 dân thường, trong đó có 3 phụ nữ đang mang thai, mổ bụng một bé gái.
    Thảm sát Khánh Giang – Trường Lệ, tỉnh Quảng Ngãi-Tháng 4/1969, hơn 1 năm sau ngày xảy ra vụ thảm sát Mỹ Lai (16/3/1968), quân đội viễn chinh Mỹ lại tiếp tục gây thêm một vụ giết người tàn bạo mà nạn nhân là 63 người dân vô tội (trong đó có 34 người Kinh, 29 người dân tộc H’re.
    Đó là chưa kể tới hậu quả chất độc da cam/di-ô-xin cho tới nay hàng trăm nghìn người Vn và cả binh lính Hàn, Mỹ cũng gánh hậu quả.Những người lính VNCH họ cũng họp báo tại Mỹ tố cáo chuyện này.Báo chí Mỹ , truyền hình Mỹ nói ầm lên về chuyện này nên ai cũng biết. Mỹ giúp nhân dân Miền nam mà sao ác vậy? nhờ Thạc giả thích dùm.
    Mong bạn đừng mang tư tưởng phản quốc, chỉ mặt rõ tội ác xâm lược, và hãy nói theo đúng sự thật và chớ quanh co nhé.

    • Bạn đã đưa tài liệu của phía CSVN. Vậy thì Thạc tôi đưa tài liệu của phía VNCH. Để cho người đứng giữa, nhất là thanh niên Việt Nam phàn xét ai đúng ai sai :
      – Trận Ba Làng An
      Năm 1965, tháng 8, một toán thám báo của Sư đoàn 3 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ tại Chu Lai phát hiện khoảng 1 trung đoàn CSVN đang tập trung gần bán đảo Ba Làng An để chuẩn bị tấn công vào căn cứ Chu Lai của Hoa Kỳ.
      Tướng Lewis W.Walt, Tư lệnh sư đoàn 3 TQLC, điều động 1 tiểu đoàn TQLC đi thuyền đổ bộ đến mũi phía Nam Ba Làng An, 1 tiểu đoàn TQLC khác được trực thăng vận xuống phía tây Ba Làng An để lùa quân CSVN ra biển, đồng thời điều động một đại đội TQLC cùng với Xe tăng tiến vào bán đảo Ba Làng An, dưới sự yểm trợ của pháo binh Hải quân Hoa Kỳ từ ngoài biển.
      Sau 3 ngày bị truy quét, cuối cùng Trung đoàn 95 của CSVN bị dồn lại tại mũi phía Nam của bán đảo Ba Làng An và bị tiêu diệt với 700 xác để lại tại chỗ, số còn lại chạy thoát vào rừng. Hồi ký của Tướng Westmoreland ghi nhận đây là trận đầu tiên của quân đội Hoa Kỳ và cũng là trận đẹp nhất vì quân đội Hoa Kỳ hoàn toàn trong thế chủ động và không bị thiệt hại.
      * Chú giải : Sau trận này Trung đoàn 95 của sư đoàn 325 bị xóa sổ, sư đoàn trưởng 325 là Thượng tá Nguyễn Hữu An cùng với Tướng Chu Huy Mân và Đặng Vũ Hiệp phải dời lên Kontum mở mặt trận Tây Nguyên. Nguyễn Hữu An để lại Trung đoàn 18 cho tỉnh Bình Định, đến tháng 9 thì Trung đoàn 18 đổi tên thành Trung đoàn 12 để thành lập Sư đoàn 3 Sao Vàng. Từ đó Sư đoàn 325 coi như bị giải thể.
      Sư đoàn 325 được thành lập vào tháng 3 năm 1951, sau khi ông Hồ Chí Minh thỏa thuận nhận viện trợ vũ khí của ông Mao Trạch Đông. Binh lính của sư đoàn là người thuộc vùng Quảng Bình, Quảng Trị. Sư đoàn có trung đoàn thiện chiến nhất là Trung đoàn 101. Nhưng đến tháng 8 năm 1952 quân Pháp đã dùng 1 liên đoàn Bộ binh và 2 tiểu đoàn Dù bao vây và tiêu diệt trung đoàn 101 tại vùng biển Quảng trị. Kết quả trung đoàn 101 hoàn toàn bị tiêu diệt, có 2.900 người bị chết và bị bắt.
      Sau năm 1954 Hà Nội cho thành lập lại sư đoàn 325 với trung đoàn 101 hoàn toàn mới. Đến khi Hà Nội quyết định đưa quân vào Miền Nam thì Sư đoàn 325 hoạt động sát vùng Bến Hải nên được đưa vào trước tiên. Đoàn quân theo đường bộ bên đất Lào vào tới KonTum vào tháng 2 năm 1965 nhưng vì không đủ lương thực nên trung đoàn 18 xuống Bình Định và Trung đoàn 95 xuống Quảng Ngãi. Trong khi đó Trung đoàn 101 trụ lại Kontum ( Sau này đổi tên thành Trung đoàn 33 ).
      Sau trận Ba Làng An thì trung đoàn 95 bị xóa sổ, trung đoàn 18 sát nhập vào Sư đoàn 3 Sao Vàng, bộ chỉ huy Sư đoàn 325 lên Kontum nhưng trở thành bộ chỉ huy của Mặt trận Tây Nguyên (B.3).
      – Vụ thảm sát Mỹ Lai
      Năm 1969, ngày 7-9, Trung úy William Calley bị tòa án Hoa Kỳ kết án chịu trách nhiệm về vụ sát hại ít nhất 20 thường dân tại làng Mỹ Lai thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Dân chúng Hoa kỳ biểu tình phản đối bản án tù chung thân khổ sai dành cho Calley, họ cho rằng chính phủ Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về việc Calley đã bị căng thẳng thần kinh lâu dài do anh ta phải làm một công việc mà anh ta hoàn toàn không thích. ( Sau này trong phiên tòa ngày 29-3-1971 được giảm xuống còn 20 năm tù giam ).
      * Chú giải : Nội vụ xảy ra từ tháng 3 năm 1968 (sau trận Mậu thân đợt 1) nhưng được ém nhẹm cho tới tháng 4 năm 1969 thì cơ quan tư pháp của chính phủ Hoa Kỳ mới nhận được đơn tố cáo của một cựu quân nhân Hoa kỳ tên Ronald L. Ridenhour, cáo buộc về tội ác chiến tranh của một số quân nhân thuộc Lữ đoàn 11 Bộ binh của Sư đoàn Americal. Những người này đã tàn sát một số thường dân Việt Nam (theo đơn tố cáo thì có 394 người) trong một cuộc hành quân tại Làng Mỹ Lai, xã Hồng, quận Sơn Mỹ, tỉnh Quảng Ngãi.
      Kết quả có 4 sĩ quan và 9 binh sĩ bị truy tố. Trung úy Calley và 1 sĩ quan khác bị đưa ra xét xử ngay. Ngoài ra còn có 25 người khác đã giải ngũ nên bị đưa ra ban Tư pháp Lục Quân. Tướng Ray Peers được chọn làm trưởng nhóm điều tra. Kết quả điều tra cho thấy có 12 sĩ quan liên quan đến việc ém nhẹm nội vụ, kể cả Tướng Koster là Tư lệnh Sư đoàn Americal, những sĩ quan này bị đưa ra Hội đồng kỷ luật của Quân đội. Riêng Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 11 bị đưa ra tòa án quân sự.
      Đây là một vụ lính Mỹ nổi điên sau khi một số đồng đội của họ bị chết. Vụ nổi điên này không phải là chính sách của chính phủ Mỹ hay của người Mỹ. Cũng chính người Mỹ đã ngăn cản vụ này và luật pháp Mỹ khuyến khích những ai tố giác. Còn những người nào che giấu cho tội phạm, từ cấp tướng tời binh nhì,đều bị lãnh án thích đáng.
      Còn vụ giết 5.000 người dân Huế, đa số là chôn sống,thì lại là chủ trương của Hà Nội. những người này bị can tội là theo VNCH. Hoặc vụ pháo vào đoàn dân chạy loạn trên đại lộ kinh hoàng Quảng Trị,khiến cho 20.000 người chết là do chủ trương của cấp chỉ huy CSVN.
      – Vụ Thạnh Phong
      Khởi đầu là năm 2001 cựu đại úy Hải quân Bob Kerrey đắc cử chức thượng nghị sĩ tiểu bang Nebraska. Một số cựu quân nhân dưới quyền của Bob Kerrey tố cáo với báo New York Times rằng vào một ngày của năm 1969, trung đội biệt hải của họ do Kerrey chỉ huy đã tấn công vào 1 căn nhà tại xã Thạnh Phong thuộc tỉnh Bến Tre và giết ít nhất 13 người đàn bà và trẻ em.
      Ngay thời đó, 2001, Kerrey đã giải trình rằng ông ta nhận được lệnh tấn công đột kích vào một ngôi nhà có bộ chỉ huy huyện ủy CSVN đang nhóm họp tại xã Thạnh Phong, là một làng thuộc quyền kiểm soát của CSVN. Cấp trên đã ra lệnh cho ông rằng sau khi thanh toán xong mục tiêu thì rút ra biển để về lại đơn vị ( Đột kích vào đất địch ).
      Kerrey đã cho trung đội của ông áp sát mục tiêu và rồi ra lệnh nổ súng dọn sạch mục tiêu trước khi xung phong lục soát mục tiêu. Nhưng không ngờ khi đạp cửa xông vào nhà thì các ông chỉ thấy một nhà đàn bà và trẻ con vừa chết vừa bị thương. Các ông vội rút lui ra biển và báo cáo sự việc cho đơn vị trưởng.
      Việc này hoàn toàn do lỗi của đơn vị trưởng, ông ta đã ra lệnh tấn công một mục tiêu mà không ngờ đó là mục tiêu dõm, nghĩa là ông ta đã nhận được tin tình báo dõm. Vì vậy ông ta sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm một khi Bob Kerrey tấn công lầm. Theo luật của quân đội Mỹ cũng như luật của quân đội VNCH thì ông xếp của Kerrey phải ra tòa án binh.
      Thế nhưng thói đời không ai tự đưa mình ra tòa án binh cho nên ông xếp của Kerrey cho nhém vụ này lại bằng cách báo cáo tiếp lên trên rằng Kerrey đã hoàn thành nhiệm vụ, tiêu diệt được 21 địch quân trong vùng đất địch. Và vì thế Kerrey được thưởng huy chương.
      Đây là chiến tranh, và chiến tranh nào cũng có những lầm lẫn ngoài ý muốn. Lấy một ví dụ khác, có liên quan đến sự lầm lẫn của cả hai bên :
      Tháng 3 năm 1973, 2 đại đội của Tiểu đoàn 228 Địa Phương Quân nhận được lệnh đột kích chiếm lại xã Đệ Đức thuộc quận Bồng Sơn của tỉnh Bình Định, xã này đã bị quân CSVN tiến chiếm trong chiến dịch lấn đất giành dân sau hiệp định Paris.
      Trời vừa rạng sáng, trung đội thám báo của Tiểu đoàn 228/ĐPQ ập vào làng Đệ Đức thì một số lính chính quy CSVN tại một sân đập lúa vừa bỏ chạy vừa bắn trả, quân VNCH bỏ qua một nhóm dân chúng đang ngồi chờ làm việc trên sân để đuổi theo.
      Không ngờ khi toán thám báo VNCH vừa vượt qua sân đập lúa thì mấy cô du kích CSVN tại sân đã chụp súng AK bắn vào lưng toán thám báo. Thấy vậy đại đội VNCH đi sau nổ súng tiêu diệt toàn bộ đám du kích trên sân.
      Kết quả 18 lính VNCH bị bắn, đạn trổ từ sau lưng ra trước ngực, 6 nữ du kích CSVN bị giết với 6 khẩu AK trên tay, 6 thường dân ( ông già và phụ nữ ) bị chết lây trên sân đâp lúa. Những thường dân này bị chết vì cấp thời bị ngộ nhận là quân du kích chứ không phải bị cố ý tàn sát.
      Bob Kerrey cũng vậy, ông ta bị lầm nhưng sự lầm lẫn này là do cấp trên của ông ta chứ không phải của Kerrey. Vì vậy mà dư luận Mỹ vào năm 2001 đã bỏ qua bởi vì đó là tai nạn của chiến tranh. Lỗi của Kerrey là sơ suất trong khi thi hành nhiệm vụ chứ không phải phạm tội ác chống lại nhân loại.

  17. XUÂN, STUDENT GỬI BẠN THẠC .
    Văn hóa Phương Tây không có súng đi xâm lược, còn Thực dân Pháp đã từng xâm lược VN đó.Hóa ra bạn ủng hộ xâm lược Pháp chống lại sự nghiệp giải phóng dân tộc của các cụ Trương Định, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu à?
    Tôi biết bạn đã trả lời, nhưng chưa đủ, xin trả lời trực tiếp không vòng vo tam quốc diễn nghĩa nhé,hic!

    • Trình độ cờ lờ mờ vờ của bạn không đáng để Thạc tôi trả lời. Để cho người ngoài hay cấp trên của bạn trả lời. Cấp trên của bạn quá dốt khi đưa những lý luận ngây ngô của con nít đi tranh luận trên net.

    • Xin mạn phép có chút ý kiến. Hồ chí Minh trong tuyên ngôn độc lập 2/9/45 nói gì về văn hoá phương tây bạn Xuân còn nhớ khg ? HCM có nói gì về chủ nghỉa CS khg? tại sao ?

  18. DAN NGUYEN, ĐÂY LÀ DIỄN ĐÀN CÔNG KHAI, BẠN CẦN CÓ PHÉP LỊCH SỰ TỐI THIỂU KHI COMMENT.BẠN HOE BẠN LÀ NGƯỜI CỦA VNCH ĐÀO TẠO, VẬY BẠN ĐỪNG ĐỂ CHÚNG TÔI COI BẠN LÀ LŨ VÔ HỌC QUEN CHỬI THỀ, CẮN BẬY, NGHE!

    • Đứa nào vô học cắn bậy thì người đọc người ta đánh giá. Diễn đàn công khai này của thiên hạ thì để thiên hạ đánh giá. Còn Dan Nguyen thì chỉ dùng lời vô lịc sự đối với bọn vô lại mà thôi. Tôi thấy Dan Nguyen nói với Thạc tôi rất là lịch sự. Anh ta chỉ chưởi thề đối với bọn mất dạy mà thôi.

Tham gia bình luận