Bùi Anh Trinh – VÌ SAO CSVN BÁN GẤP VỐN NHÀ NƯỚC

Ngày 10-4-2017 báo chí CSVN đồng loạt đưa tin Phó thủ tướng Vương Đình Huệ ra chỉ thị : “Bán vốn nhà nước nhanh hơn, giá trị cao hơn”.

“Bán vốn nhà nước” là tiêng lóng nói về việc bán cổ phần của nhà nước hiện có trong các doanh nghiệp đã cổ phần hóa ( công ty, hãng xưởng có phần hùn vốn giữa nhà nước và tư nhân ).  Sở dĩ phải nói tiếng lóng là để cho người dân không biết là của cải cọng sản đang từ từ biến thành tư sản.

Chế độ kinh tế lai

Năm 1990 thế giới Cọng sản sụp đổ, Nga và các nước Đông Âu chuyển sang kinh tế tư bản.  Riêng Trung Cọng và CSVN chuyển sang kinh tế “cọng sản lai tư bản” ( tiếng lóng CSVN gọi là “kinh tế thị trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa” ).

Năm 1988 lãnh đạo ĐCSVN giao cho ông Võ Văn Kiệt xây dựng chính sách kinh tế mới.  Ông Kiệt ủy cho ông Nguyễn Xuân Oánh là cựu Phó thủ tướng VNCH đứng ra thiết kế chính sách mới. Thực ra là trở lại chế độ “tư sản dân tộc” có từ thời Bảo Đại.

*( Sở dĩ ông Võ Văn Kiệt phải ủy cho ông Nguyễn Xuân Oánh là bởi vì trình độ của ông Kiệt chỉ mới biết đọc biết viết. Theo tự truyện của ông Võ Văn Kiệt do Huy Đức ghi thì ông chỉ học tới lớp 2 trường làng rồi đi chăn trâu, tới năm 17 tuổi thì đi làm cách mạng.  Từ đó cho tới khi làm thủ tướng ông không có học thêm ).

Năm 1993 ông Nguyễn Xuân Oánh đại diện cho CSVN thương thảo với Wold Bank ( Ngân hàng Thế giới ), IMF ( Quỹ tiện tệ Quốc tế ), Ngân hàng Phát triển Á châu ( ADB )… để vay vốn lên kế hoạch thực hiện chính sách kinh tế đổi mới cho nước Việt Nam.  Mỹ, Nhật buộc CSVN phải tiến hành một số cải cách về luật lệ kinh tế, tài chánh ( Mỹ là cổ đông lớn nhất của Wold Bank, cũng là cổ đông lớn nhất của IMF, Nhật là cổ đông lớn nhất của ADB ).

Kế hoạch của Tiến sĩ Oánh gặp khó khăn rất nhiều bởi vì Tổng bí thư Đỗ Mười sỉ diện, sợ mang tiếng là “trở lại tư sản”, còn ông Chủ tịch Lê Đức Anh thì sợ mất lòng Trung Cọng.  Trong khi cán bộ đảng viên thì sợ sẽ bị trả thù và bị đòi lại đất đai tài sản.  Cho nên kế hoạch của ông Oánh tiến hành rất miễn cưỡng.

Tư nhân hóa

Một trong số những miễn cưỡng là không chấp nhận bán đứt công ty, hãng xưởng cho tư nhân, mà chỉ thực hiện bán một tỉ lệ nào đó ( tiếng lóng CSVN gọi là cổ phần hóa; để tránh chữ tư nhân hóa ).

Và một miễn cưỡng tiếp theo là :  Tài sản của doanh nghiệp được chia thành các cổ phần bán cho cán bộ công nhân trong doanh nghiệp và phần còn lại do nhà nước sở hữu”. ( Quyết định số 202 ngày 8 tháng 6 năm 1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt ).

Nhưng cán bộ và công nhân không thể nào có tiền mà mua cổ phần, cho nên cán bộ và công nhân bán cái quyền của họ cho những đại gia thích đánh bạc với nhà nước. Dĩ nhiên các đại gia sẽ đánh cờ gian bạc lận nhờ lòn lách qua những kẽ hở của luật lệ của chính phủ.  Điển hình như công ty bóng đèn Điện Quang của bà Hồ Thị Vui .

Tháng 8 năm 1992 Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký Nghị định 28/CP chỉ thị mỗi bộ, ngành và mỗi tỉnh chọn ra từ 1 đến 2 doanh nghiệp để làm thí điểm cổ phần hóa.  Kết quả sau 4 năm chỉ có 3 công ty trung ương và 2 công ty địa phương ( tỉnh) được cổ phần hóa.   Không ai bỏ tiền ra hùn với nhà nước, người ta sợ bị nhà nước lừa. Vả lại cán bộ nhà nước không có khả năng kinh doanh, chỉ có khả năng phá hoại.

Năm 1997 Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký nghị định cho phép : doanh nghiệp có vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống thì lãnh đạo bộ, ngành, địa phương có quyền tự tổ chức thực hiện cổ phần hóa trên cơ sở Nghị định số 28/CP( 10 tỷ đồng tương đương 1 triệu USD ). Nhờ đó có thêm 28 doanh nghiệp được cổ phần hóa.  Đến năm 2001 có 548 doanh nghiệp được cổ phần hóa.

Năm 2002 Thủ tướng Phan Văn Khải ký thêm Nghị định cho phép các công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn.  Ngoài ra còn được quyền bán một phần hoặc toàn bộ cổ phần của nhà nước cho tư nhân.  Người trong nước có quyền mua cổ phần không hạn chế.  Còn người nước ngoài thì chỉ được mua 30% vốn cổ đông.

Hậu quả đen tối của chương trình cổ phần hóa hay tư nhân hóa

Trong khi ông Nguyễn Xuân Oánh hô hào tư nhân hùn vốn với nhà nước thì tư nhân không ai có tiền để đầu tư, chỉ có tiền đủ sống là may lắm rồi.  Vả lại nếu có tiền thì không ai dại gì hùn vốn với nhà nước bởi vì nhà nước làm ăn chỉ có lỗ.

Tuy nhiên đối với những công ty đang làm ăn có lãi trông thấy thì lãnh đạo công ty không dại gì bỏ qua cơ hội. Một khi “nắm chắc đằng cán” ( không sợ bị nhà nước lừa ) thì lãnh đạo công ty huy động vốn của thân nhân để mua cổ phiếu hay cổ phần.  Nếu nhà nước dở quẻ lừa gạt họ thì họ sẽ làm cho công ty sập tiệm mà họ vẫn có cách ngầm lấy lại phần hùn của họ.

Rốt cuộc sinh mạng của các công ty “đẻ trứng vàng” thuộc về cán bộ lãnh đạo công ty và thân nhân của họ ( tiếng lóng CSVN gọi là “nhóm lợi ích” , gồm có ban giám đốc ( lãnh đạo công ty ), và hội đồng quản trị ( cổ đông, thân nhân của lãnh đạo công ty ).

Theo nguyên tắc ban đầu do các chuyên gia tư vấn Mỹ, Nhật đề ra thì những cổ đông tư nhân và cổ đông nhà nước sẽ cùng nhau giám sát hoạt động của ban giám đốc ( hễ công ty lời thì họ được lời, hễ công ty bị lỗ thì chính họ sẽ bị lỗ ).  Nhưng các chyên gia không biết gì về lòng dạ con người trong xã hội Cọng sản cho nên không nghĩ tới chuyện ban giám đốc và hội đồng quản trị là một, thay vì bảo vệ và phát triển đồng vốn của họ có trong công ty thì họ chuyển tất cả vốn nhà nước và vốn của họ về nhà riêng.

Cái cách của họ như sau :

–  Nếu thực sự có lời thì họ sẽ làm báo cáo “không lời”, phần thực lời sẽ chạy vào túi của nhóm lợi ích ( Ban giám đốc và hội đồng quản trị tư nhân ).

–  Nếu có khi lời có khi lỗ; hoặc có phần lời, có phần lỗ thì họ sẽ báo cáo lỗ, phần thực lỗ thì thâm trừ vào vốn của nhà nước, còn phần thực lời thì chạy vào túi nhóm lợi ích.

–  Trường hợp lỗ trông thấy thì nếu lỗ 1 họ sẽ khai lỗ 2.  Hai phần lỗ đều thâm trừ vào vốn của nhà nước, phần lỗ giả sẽ được rút ra đút túi cho nhóm lợi ích.

Rốt cuộc hễ có lời thì nhóm lợi ích hưởng, hễ lỗ thì nhà nước chịu.  Cho đến khi vốn của nhà nước lẫn tư nhân chỉ còn 0$ thì họ hoạt động cầm chừng, báo cáo không lãi và không lỗ, trong khi thực ra công ty vẫn họat động có lãi.  Họ chờ cho tới ngày nhà nước bán hóa giá ( bán tống, bán tháo ) thì họ sẽ lấy tiến nhà ra mua lại rồi mở máy hoạt động trở lại.

Vậy rồi giờ đây bán các doanh nghiệp nhà nước thì chuyện gì xảy ra ?

Thông thường, tất cả mọi doanh nghiệp luôn luôn báo cáo cho nhà nước rằng doanh nghiệp đã thâm vốn; doanh nghiệp chỉ còn là cái xác, cái vỏ;  vốn liếng không còn bao nhiêu so với vốn ban đầu.  Trong khi sự thực là vốn ban đầu của nhà nước đã chạy vào trong túi của họ ( làm cho công ty lời thì khó nhưng làm cho lỗ thì rất dễ ).

Như vậy nếu nhà nước muốn bán trọn doanh nghiệp đã thua lỗ thì chỉ có những người trong ban giám đốc và hội đồng quản trị ( nhóm lợi ích ) mới dám mua.  Nhưng họ chỉ mua lại với giá bèo ngoài sức tưởng tượng, có nơi họ chỉ chịu nhận mua doanh nghiệp với giá 0$.  Thường thì họ chỉ chịu mua với cái giá tương đương với phần hùn còn lại của họ trong doanh nghiệp.

Điển hình như cảng Quy Nhơn trị giá hằng chục ngàn tỉ đồng nhưng năm 2015 đã chuyển 86,23% vốn điều lệ cho công ty tư nhân Hợp Thành với trị giá 100% là 404 tỉ đồng. *( Cảng Quy Nhơn có 6 cầu tàu có thể tiếp nhận được các loại tàu đến 30.000 tấn, có hệ thống 20.960m2 kho, 201.000m2 bãi, 48.000m2 bãi chứa container,v.v… ).

Theo Phó thủ tướng Vương Đình Huệ thì hiện nay đã có 96,5 % số doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa; nhưng số vốn tư nhân bỏ vào chỉ mới chiếm 8% tổng số vốn.  Lý do rất dễ hiểu là người ta sợ làm ăn hùn hạp với nhà nước, chỉ có  từ lỗ tới lỗ.

Còn doanh nghiệp nào đang đẻ trứng vàng thì tiền lời của doanh nghiệp vẫn chạy vào túi nhóm lợi ích mà họ không cần phải bỏ vốn ra.  Họ hạn chế tối đa việc bỏ vốn để khi họ muốn chạy làng thì cũng đỡ vướng víu.  Điển hình như vụ Trịnh Xuân Thanh. Một khi Trịnh Xuân Thanh đã bỏ chạy thì vốn của Tổng công ty Xây lắp dầu khí chỉ còn là một con số âm khổng lồ.

Hiện nay, quý 1 năm 2017, chương trình cổ phần hóa đang bị chững lại vì Nghị định 59/CP của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc không giải quyết rốt ráo về việc xử lý đất bất động sản của doanh nghiệp (  Hiện nay đất bất động sản của các doanh nghiệp đều được tính là 0$, bởi vì đó là đất của nhà nước;  không được tính vào vốn của doanh nghiệp ).

Trong khi chờ đợi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sửa đổi Nghị định 59 thì lãnh đạo Bô Tài chính và Bộ kế hoạch đầu tư lại cho rằng không cần chờ sửa đổi, cứ theo tinh thần nghị định 58/CP là được rồi.  Nếu có “vướng mắc” thì bên mua và bên bán ngồi lại với nhau, sẽ “giải quyết được hết”.  Điển hình là ông Phó chủ tịch Thành phố Hà Nội đã cho cổ phẩn hóa công ty thương mại Hapro mà không cần đợi Nghị định 59 của ông Thủ tướng.

Ông Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cũng đồng ý không cần chờ nghị định sửa đổi của Thủ tướng, ông nói : “Chậm một ngày thì lỡ tiến độ thực hiện tới hằng tháng, cả một quý, thậm chí cả một năm của doanh nghiệp”.

Thái độ “chụp giật” của ông Phó thủ tướng và ông Bộ trưởng bộ Tài chánh cho thấy cái mà nhà nước CSVN đang cần không phải là tiến độ cổ phần hóa, mà là cần tiền.  Chưa biết cần tiền để làm gì nhưng nó cũng đủ chứng tỏ rằng làn sóng đầu tư quốc tế đã ngưng chảy vào Việt Nam.  Vậy thì nhà nước CSVN lấy tiền đâu để trả nợ đáo hạn cho quốc tế? Bán gấp mọi thứ cũng không đủ và không kịp.

BÙI ANH TRINH

Đã xem 2404 lần

Chân thành cảm ơn tác giả hoặc quý vị nào đó đã đăng bài viết này lên Quán Văn.

[ Thành viên mới xin ĐĂNG KÝ ]
[ Thành viên ĐĂNG NHẬP ] để đăng bài
(Quý vị sẽ nhìn thấy cách chỉ dẫn đăng bài.)

Máy chiếu VPL-DX240 XGA

Chuyên phân phối MÁY CHỦ DELL POWEREDGE T30 E3-1225 V5

Phân phối thiết bị mạng Cisco FULL mã

Máy in hóa đơn, máy in bill PRP-085 Giá hot

NỆM CAO SU KIM CƯƠNG TỔNG HỢP KHUYẾN MÃI TẶNG GỐI

Thuốc diệt GIÁN thần kỳ

Nhà Hàng SÀI GÒN PHỞ TOMBALL, TX CẦN NGƯỜI

Cần Sang Nhà Hàng Phở Vùng TOMBALL, TX

Bán xe Toyota Camry 2004. 2.4 mới cứng. Hệ thống máy móc tân tiến cùng dàn video từ nước ngoài

Cần bán 4 lô đất khu du lịch Cam Ranh và Diên An – Khánh Hoà

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách