Bùi Ngọc Hồng – Cúng Đình Làng Tân-Lập-Phú

Chợ mới An Lộc trước 72

Ngày trước chiến cuộc An- Lộc năm 1972, hàng năm, vào dịp cúng “Cô-Hồn Thí-Thực “vào dịp rằm tháng 7 âm-lịch , cộng-đồng người Hoa- Kiều của thị trấn nhỏ Quận Hớn- Quản (An –Lộc) chộn rộn hẳn lên.

1

Bà con hai bên phố chợ cũ, cùng một số ít người Hoa trong sở Văn-Hiên, Phú-Miêng, Xa-Cam, Xa-cô 28 lần lượt cử người nhà: con cháu, hoặc đích thân chủ nhà ra ngoài Chợ Cũ, tập họp tại tiệm thuốc Bắc Ông Thầy Đức-Ngươn- Đường, kế tiệm nước Tài-Ký.

1

Bà Thầy, vợ Ông Thầy, cũng được người Hoa thời đó rất tin tưởng. Trong nhà Bà Thầy lúc nào cũng khói nhang thơm phức, cộng thêm mùi thuốc Bắc (chánh hiệu bên Tàu) của Ông Thầy, Chú Tín- Sinh, là đại-diện người Hoa, bố- trí phân công, mua lồ-ô, được đặt trước từ trong Sóc- Bế, Sóc Bình-Tây. Cây dài 3 mét mang về; phải là lồ-ô có nổi bông thì thân cây mới cứng, mới chịu được lực kết bè.

Trước tiên, cây lồ-ô chặt từ trong rừng già, vác về sóc, phải dùng cưa tề cho đều 3 mét, rồi chẻ làm 8 thanh. Mỗi cây được bung ra thành hình chiếc nón, đường kính một mét, được đan thành cái kiềng, sao cho khi đặt trên nền đất mà không ngả là đặng. Cứ 2 cái đụn được kết chung với nhau, cách khoảng 4 tấc, bằng 2 cây tầm-vông làm sao mà hai người khiêng hai đầu không ngả là được; rồi mang ra trình cho chú Tín-Sinh nghiệm thu. Họ sắp 2 hàng trên vỉa hè, phơi 2 nắng cho lồ-ô nhót (co) bớt, nếu không sau nầy đến công- đoạn kết, vật cúng- tế sẽ không chịu nổi. Rồi họ dán giấy màu xanh, đỏ, tím, vàng…

Con nít, ông già, bà cả… nhất là mấy cô gái từ Ấp Phú-Lạc, Sóc-Bế, Phú-Đức, người Kinh, người Dân-Tộc, ai nấy bận quần áo đẹp, đến chiều kéo nhau ra, thả bộ hai bên phố Chợ Cũ đi coi chơi.

Trời chiều xuống nhanh, bến xe trước trường tư-thục Quốc-Tuấn, nào là quán cháo lòng, quán mì Thất- nghiệp (?), hột vịt lộn, khô bò, bò bía, bánh phồng, bánh đa… hàng quán tấp nập; nhất là xe nước mía chú Hai Rị, quán chè Ông Bảy, quán sữa đậu nành, không ngớt khách đường xa. Rồi sòng xóc-đĩa, bông-vụ, bầu-cua… Đúng là một bức tranh thời bình!

Cái hay, cái thật tình của người dân tứ xứ, riết rồi cũng trở thành người bản xứ. Họ cười nói với nhau, không phân biệt bác Bắc-kỳ, cậu Nam-kỳ hay chú Hoa-kiều. Họ làm việc với nhau suốt đêm: tối đến nhà nào có cây đèn manchon đều mang ra thắp sáng; cứ nghĩ rằng đó là việc của mình.

Cứ một đụn (một phần bày chưng cúng): khô mực phải đi kèm một đụn bánh ngọt; đụn thịt ba chỉ phải đi chung với đụn bánh bao; đụn thịt heo quay đi cùng đụn bánh bò… Nói chung những thức ăn nào người cõi Dương dùng được thì người cõi Âm ăn được.

Tất cả được kết bằng dây kẽm để khi mang lên đình làng Tân-Lập-Phú, sau phần cúng bái thì họ sẽ cúng cô-hồn khất-thực: cho mọi người (đi xem) chờ lễ xong tranh nhau giật; thức ăn nào mà họ đã chú ý, để mắt nhắm chọn từ trước.

Trước ngày mang lễ vật lên đình thì tại nhà ông bà Thầy cũng nhộn nhịp không kém. Tất cả những cô thiếu-nữ (người Hoa) tuổi từ 13,14,15- 16 đều phải tập hợp lại nhà Bà Thầy để nghe Bà phán (xếp đặt). Vì Bà Thầy có cốt Cậu gì đó (?) nên mỗi khi có dịp đi ngang bàn thờ,( kẻ viết bài nầy cũng) không dám nhìn vào bàn thờ sau bức màn nhung. Lỡ bị Bà nhập thì khổ (?), phải tìm bạn người Hoa (Hoàng ơi!) dạy ngộ tiếng Tàu.

Tất cả các thiếu-nử phải tắm rửa sạch-sẻ, ngồi sắp hàng chờ đến phiên làm đẹp. Chị Xí-Kiêm thời đó được phong là nữ-hoàng trang-điểm. Chị bắt tất cả phải se lông mặt, rồi đánh phấn cho hai má phải hồng hồng, tóc phải thắt bín.

Đến phần tuyển-cung hoa-hậu. Mỗi cô phải ngồi trước bàn thờ Bà, được bầu chọn sắc đẹp, tánh tình… Hình như những năm sau, khi tôi biết “phân- biệt” cô nào xấu, đẹp thì chỉ có cô Trang-Lệ-Anh là luôn được bầu làm hoa-hậu. Cũng may, thời đó mấy thằng hàng xóm trang lứa như bọn tôi: Điền- Hùng, Đình-Khoa, Trương-Bình, Phượng-Hoàng, Hửu-Phú, Lâm-Chưởng-Đệ, Bùi-Liên, Bùi-Phước, Bùi-Hồng… lúc bấy giờ chưa biết yêu là gì(?). Cho nên hàng năm, cô Trang-Lệ-Anh luôn đương kiêm hoa-hậu (vì chưa có gã trai nào tán được, làm chủ người đẹp?).

Sáng sớm ngày rằm tháng 7 âm- lịch. Cứ hai người khiêng một cụng (kiệu) hai cáng, sắp hàng chờ sẵn (đã được cho uống cà phê, ăn bánh bao lót dạ trước). Còn cô hoa-hậu được đưa lên ngồi lên kiệu, do hai người khiêng.

Xe nhạc được rước từ Thủ-Dầu-Một (Bình- Dương) có đoàn hát Tiều, đoàn Quảng-Đông đi theo múa võ. Giàn nhạc Tàu có ống tiêu, ống sáo, trống cơm, phèn la, tạo nên âm-thanh thật hay lạ, nghe riết mỗi ngày nên quen tai.

Ban nhạc Tiều đi đầu, đến đoàn Quảng Đông đánh “phá-hoàn”, cỡ 30 người vừa ca vừa múa võ, kế đến là kiệu nàng theo sau. Đi theo lộ trình quốc lộ 13, quẹo vào Chùa Ông Năm Rày, qua nghĩa-trang, rồi mới đến Đình Làng Tân-Lập-Phú Đình thờ Ông Thần  Đình cai-quản (âm đức) Huyện Hớn-Quản do người Hoa đến nơi nầy lập nghiệp  xây lên, đã có từ lâu không biết tự bao giờ? Họ cầu cho quốc-thái dân-an, sở-địa thái- hòa, buôn may bán đắt…

Rồi cơ Trời không thuận, giặc-giã nổi lên, dân tình sơ-tán, khổ cho dân, mất nhà, mất cả người thân. Buồn quá mỗi khi nhớ lại; mình  thương cho bà con nghèo còn kẹt lại quê nhà.

Chợ mới An Lộc trước 72
Chợ mới An Lộc trước 72

Bùi-Ngọc-Hồng

Viết xong tại Atlanta, tháng 2-2016.

P/S: Sau cuộc chiến mùa Hè đỏ lửa (1972) dân tình tứ-tán, Ô/B Thầy về Bàu-Sen và đã mất tại đó.

Đã xem 6755 lần

Nhiều Tác giả - Biên Khảo Tỉnh Bình Long

Chân thành cảm ơn tác giả hoặc quý vị nào đó đã đăng bài viết này lên Quán Văn.

[ Thành viên mới xin ĐĂNG KÝ ]
[ Thành viên ĐĂNG NHẬP ] để đăng bài
(Quý vị sẽ nhìn thấy cách chỉ dẫn đăng bài.)

Be the first to comment

Tham gia bình luận