*( Trích sách “Giải Mã Những Bí Ẩn của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh ).

Binh lính Sư đoàn 23 BB/VNCH  

Ngày 10 tháng 2 năm 1955, Sư đoàn 6 Bộ binh được thành lập. Dân chúng quen gọi là Sư đoàn Nùng.  Sở dĩ gọi là Sư đoàn Nùng bởi vì binh sĩ trong Sư đoàn gồm 8.400 người tuyển từ dân Bắc di cư đang định cư tại thị trấn Sông Mao và thị trấn Sông Lũy thuộc tỉnh Bình Thuận.  Sư đoàn do Đại tá Woòng A Sáng chỉ huy.

Đến tháng 9 năm 1955 Sư đoàn được đổi tên thành Sư đoàn dã chiến 41.  Hai tháng sau đổi thành Sư đoàn Khinh chiến số 3 ( Sau này trở thành Sư đoàn 5 Bộ binh ).  Nhưng đến cuối năm 1958 nhập thêm 2 trung đoàn biệt lập ( Trung đoàn 130 và 162 ở vùng Biên Hòa, Định Quán ) và  tách 2 trung đoàn Nùng đưa ra Dục Mỹ, nhập thêm một trung đoàn lấy từ Quy Nhơn; lập thành Sư đoàn Khinh chiến số 15, gồm có 3 trung đoàn là Trung đoàn 43, 44, và 45.  Bộ tư lệnh đóng tại Dục Mỹ.

*( Tháng 5 năm 1965 thành lập Sư đoàn 10 Bộ binh.  Trung đoàn 43 trở thành một trung đoàn của Sư đoàn 10 BB, gồm có Trung đoàn 43, 48 và 52.  Thay vào đó Trung đoàn biệt lập 53 đang đóng tại Di Linh được nhập vào Sư đoàn 23 BB, thay thế cho Trung đoàn 43.  Trung đoàn 53 có 2 tiểu đoàn người Thái gốc Sơn La, Lai Châu, Mộc Châu ).

Sau này Sư đoàn Khinh chiến số 15 được đổi thành Sư đoàn 23 Bộ binh.  Binh sĩ của Trung đoàn 44 và 45 nguyên thủy là của Sư đoàn 6 Nùng, có quê quán tại vùng Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Mông Cáy.  Kết quả của Hiệp định Geneve 1954 đã đưa đẩy cho các tiểu đoàn Nùng di cư vào Nam, mang theo vợ con của các chiến binh Nùng.

Đến định cư tại Sông Mao và Sông Lũy, tất cả lực lượng lao động chính của khu định cư là 8.400 chiến sĩ của Sư đoàn Nùng, họ không có thời gian để theo đuổi nghề nông như dân di cư tại các khu trù mật hay khu dinh điền khác bởi vì họ phải làm nhiệm vụ của người lính và cả gia đình sống nhờ vào đồng lương của người lính.

Rồi vì nhu cầu của chiến trường Việt Nam mà gia đình các quân nhân thuộc Sư đoàn Nùng phải theo chồng, cha mà dời chỗ định cư từ Sông Mao ra Dục Mỹ, Ban Mê Thuột, Phan Rang, Di Linh.  Cho nên cuộc sống của họ, nhất là việc học hành của con cái không được ổn định. Vả lại đồng lương của người lính chỉ đủ nuôi sống gia đình chứ không có dư để tích lũy hay tạo dựng nên sự nghiệp riêng.

Cuộc tấn công Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 của quân CSVN đã vô tình xác định một thực tế chua xót :  Khi chiến trận bùng nổ mạnh tại Kontum, quận Tân Cảnh thất thủ, Sư đoàn 22 Bộ binh bị đánh tan, thì các chiến binh của Sư đoàn 23 Bộ binh phải tiến lên địa đầu giới tuyến để ngăn chặn sức tiến của 3 Sư đoàn CSVN với xe tăng từ ngoài Bắc tràn vào.

Ba tháng sau thì Sư đoàn 23 đã tạo nên kỳ tích, họ đã chiến thắng oanh liệt và giữ vững Cao Nguyên.  Nhưng cũng từ đó thì họ phải luôn luôn hành quân liên tục, cho tới tháng 3 năm 1975 không người nào được đi phép thường niên, và các đơn vị của SĐ 23 không bao giờ được trở về BMT để nghĩ ngơi, họ chỉ có hành quân tạt ngang BMT trong những lần đánh nhau tại Quảng Đức vào năm 1973, 1974.

Nhưng trong các lần tạt ngang đó họ đã được biết những sự thật chua xót :  Trong Mùa Hè 1972, sau khi Tân Cảnh thất thủ và Kontum bị đe dọa thì dân chúng BMT tản cư về Nha Trang để đề phòng chiến tranh lan khắp Cao Nguyên.  Rốt cuộc thành phố BMT chỉ còn lại gia đình của những quân nhân Sư đoàn 23 BB.

Họ không tản cư được bởi vì họ không có tiền để làm lộ phí di tản.  Trong suốt thời gian mà tính mạng của những người lính được tính từng ngày trên chiến trường Kontum thì tại Ban Mê Thuột những người vợ và những người con của họ cũng phập phồng trong âu lo tuyệt vọng.

Đây là bài học đau đớn khiến cho những chiến binh thuộc sư đoàn 23 BB/VNCH đã có quyết định sẵn trong đầu là họ sẽ bỏ quân đội để lo cho gia đình một khi chiến trận tại Cao Nguyên tái diễn một lần nữa.

Không lạ lùng gì khi những người lính Trung đoàn 44, 45 đã cởi áo lính sau khi được trực thăng vận xuống Phước An…! Không lạ lùng gì khi những người lính của Trung đoàn 53 BB đã cởi áo lính sau khi chứng kiến Tướng Lê Trung Tường dùng trực thăng để bốc riêng gia đình của ông ta…!

Những người đàn ông Việt Nam thộc Sư đoàn 23 BB/VNCH, và các sư đoàn sau này nữa, đã quyết định quay về lo cho gia đình và bản thân sau khi biết chắc tập thể quân đội không thể nào hoàn thành nhiệm vụ đối với đất nước. Không ai trách được họ.

Binh lính Liên đoàn 21 Biệt Động Quân

Tiền thân của liên đoàn 21 BĐQ là những đại đội Biệt kích Mỹ thộc lực lượng Dân Sự Chiến Đấu ( CIDG ) do CIA tuyển mộ và trả lương.  Theo hồi ký của tướng Westmoreland thì tổng cộng quân Biệt kích Mỹ là 45 ngàn người, hầu hết là dân tộc Thiểu số sinh sống dọc theo dãy Trường Sơn.

Một câu chuyện minh họa :  Ngày 23-11-1967, quân CSVN tấn công đồn Huoei Sane (Huội San) của quân đội Lào.  Sáng hôm sau, quân đội Lào gồm 519 người chạy về biên gới Việt Nam cùng với khoảng 2.000 thân nhân của họ (sắc tộc Cả), được quân VNCH trong đồn Làng Vei tiếp nhận và đưa về tạm trú tại đồn Làng Vei cũ.

Con số 519 quân nhân Lào chạy sang Việt Nam cùng với 2.000 thân nhân là một điển hình của chiến tranh Việt Nam.  Từ thời Pháp người ta thường bỏ tiền ra thuê nguyên một buôn làng người Miền Núi đi lính cho Pháp, nhưng chỉ có đàn ông con trai cầm súng và nhận lương, còn người già, đàn bà và trẻ con thì sống nhờ tiền lương của đàn ông con trai.

Trước kia trong thời bình thì người già, đàn bà và trẻ con sống nhờ sức lao động làm nương rẫy của quý ông.  Nhưng trong chiến tranh thì tất cả đàn ông trong làng đều ký hợp đồng đi lính cho Pháp giống như ký hợp đồng mộ phu đồn điền.  Công việc sản suất lúa gạo bị dẹp lại vì không còn lực lao động, toàn bộ dân làng sống nhờ vào đồng lương của những người lính.

Tính ra thì cả làng đi lính lợi hơn là làm nương rẫy.  Làm rẫy thì chỉ đủ lương thực cho tới ngày giáp hạt mùa sau nhưng phải làm lụng rất vất vả và đôi khi có thể bị mất mùa.  Còn như tất cả trai tráng đi lính thì tiền lương dư sức mua gạo cho cả làng mà không phải làm lụng, chỉ cần lên đồn canh gác vào ban đêm, ban ngày thì về nhà nghỉ ngơi.  Cho nên hễ lính đóng đồn ở đâu thì dân chúng dời buôn làng đến sinh sống ở gần đấy.  Và khi những người lính bị quân CSVN đánh phải bỏ chạy thì bắt buộc cả làng phải chạy theo bởi vì ở lại thì không còn lương thực để sinh sống.

Sang tới thời Mỹ vào Việt Nam thì tình trạng cũng diễn ra y như vậy.  Do đó tinh thần chiến đấu của những chiến binh người Miền Núi không có.  Họ chỉ đi lính để lấy lương sinh sống cho buôn làng chứ không phải để chiến đấu.  Rốt cuộc một khi trận chiến nổ ra thì họ quăng súng bỏ chạy cùng với gia đình của họ.

Suốt thời gian quân đội HK hiện diện tại chiến trường Việt Nam thì 45 ngàn tay súng Biệt kích trở thành lực lượng chủ yếu bảo vệ biên thùy VNCH trên dãy Trường Sơn.  Tuy nhiên vì tính cách hợp tác lỏng lẻo, lấy đồng tiền lương và tiền thưởng làm căn bản, cho nên tinh thần chiến đấu của người dân Miền Núi rõ ràng là đánh thuê với mức tiền thưởng được tính trên từng xác chết và từng cây súng tịch thu được

*( Vào thời điểm 1970, một xác chết được trả 2.000 đồng VNCH, một cây súng trường hay tiểu liên là 2.500 đồng, một cây B.40 là 4.500 đồng, một cây đại liên là 11.000 đồng, một cây súng cối là 20.000 đồng, v.v… ).

Đến năm 1970 Lực lượng Dân sự chiến đấu ( Biệt kích ) được giải tán, tất cả 45 ngàn tay súng Biệt kích được chuyển qua Biệt động quân Biên phòng hay Địa phương quân, người lính sắc tộc thiểu số không còn gì để phải ràng buộc với chính phủ VNCH, bởi vì tiền lương của quân đội VNCH chỉ còn lại 1 nửa so với lương của một Biệt kích quân ( Thời điểm 1970, lương của một Biệt kích quân độc thân là 7.200 đồng, trong khi lương của một người lính thuộc sư đoàn Bộ binh là 3.600 đồng ).  Và tiền thưởng cho chiến công chỉ còn là chiếc huy chương Anh dũng bội tinh, không thể nào đổi thành lương thực cho gia đình.

Các buôn làng người Miền Núi nhanh chóng rơi vào khủng hoảng vì đột nhiên thu nhập giảm xuống 1 nửa, trong khi họ không thể nào mở ra công việc làm nương rẫy như xưa bởi vì không còn dụng cụ và hạt giống ngũ cốc, cũng như kinh nghiệm canh tác bị thất truyền.

Những người chiến binh Miền Núi đành phải tiếp tục bám vào quân đội VNCH như là một nguồn thu nhập bất đắc dĩ.  Và rồi đến cuối năm 1974, Hoa Kỳ giảm viện trợ quân sự, đồng bạc VNCH bị sụt giá còn 65%.  Người chiến binh Miền Núi bắt đầu nghĩ tới chuyện chia tay với quân đội VNCH nhưng họ còn chùng chình chưa chia tay được bởi vì hễ chia tay thì chết đói cả buôn làng.

Vì vậy không có gì là lạ khi Liên đoàn 21/BĐQ từ hơn 2.000 người chỉ còn 110 người trong vòng 4 ngày mà không đánh một trận nào.  Các chiến binh sắc tộc Miền Núi  đành phải buông súng để trở về lo cho buôn làng trong viễn ảnh đen tối, bởi vì trước đây họ đã lỡ gây hận thù với quân CSVN.

Không ai trách được họ.  Người Miền Núi đã phải hy sinh quá nhiều trong cuộc chiến Đông Dương 1950-1954, cũng như trong cuộc chiến Việt Nam 1959-1975.  Với bản chất hiếu hòa cho nên họ ít bị chết vì đánh nhau nhưng hầu hết họ bị chết vì miếng ăn, miếng sống của họ bị lệ thuộc vào chiến tranh.

Một khi chiến tranh kết thúc thì đương nhiên miếng sống của người Miền Núi cũng kết thúc.  Họ bị rơi vào thảm họa tuyệt chủng do vì không còn hạt giống, kinh nghiệm gieo trồng, dệt may, đan lát… bị thất truyền.  Họ không còn khả năng tự kiếm ra lương thực và tự tạo các vật dụng sinh hoạt hàng ngày cho nên họ phải tiếp tục sống dựa vào núi rừng với kiếp lượm hái như loài vượn khỉ.  Cuối cùng là chết dần chêt mòn vì đói và suy dinh dưỡng.

Sau năm 1975 chính quyền CSVN phủi tay với những người Miền Núi tự sinh sống trong vùng rừng sâu biên giới hay trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh.  Họ cũng phủi tay đối với những dân tộc Miền Núi từng theo Pháp, theo Mỹ chống lại họ. Còn người Pháp, người Mỹ thì phủi tay sớm hơn nữa, trong khi họa tuyệt chủng của người Miền núi Việt Nam là do người Pháp, người Mỹ gây ra.

BÙI ANH TRINH

Tướng Thiệu, Tướng Khang và Tướng Phú thăm viếng anh em binh sĩ Liên đoàn 24/BĐQ tại vùng hỏa tuyến Quảng Đức trong dịp tết 1975. Không ai ngờ đây cũng là lần thăm cuối cùng giữa những ông tướng tư lệnh với những người lính VNCH.

Bùi Anh Trinh - CÁC TRẬN ĐÁNH NĂM 1975