( Trích sách “Giải Mã Những Bí Ẩn của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh )

Quân VNCH và quân CSVN bàn giao thị xã Hậu Bổn

Ngày 18-3, tại Phú Bổn

  • Lúc 5 giờ chiều. Theo lời khai của Tướng Trần Văn Cẩm trong traị tù thì lúc 5 giờ chiều ông nhận được lệnh của Tướng Phú từ Nha Trang, bảo phải “bỏ xe tăng và đại bác ở lại Phú Bổn, quân bộ binh băng rừng về Tuy Hòa” ( Sách Chân Dung Các Ông Tướng của CSVN )..

  • Lúc 6 giờ, theo lời khai của Tướng Tất trong hồi ký của Tướng CSVN Văn Tiến Dũng : “Phú ra lệnh cho chúng tôi bỏ hết vũ khí nặng và quân dụng, chạy khỏi Phú Bổn. Tôi ra lệnh cho quân bỏ lại hết xe cộ, đại bác, đi bộ vòng rừng không qua đèo. Thiết đoàn 3 cũng bỏ hết xe chạy vào rừng sau khi bị Quân giải phóng chặn đánh nhiều lần”.( Đại Thắng Mùa Xuân )

  • Lúc 6 giờ chiều, theo hồi ký của Tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp : “18 giờ ngày 18 tháng 3, Sư đoàn 320 hoàn toàn làm chủ thị xã Cheo Reo” ( Ký Ức Tây Nguyên trang 431). 

Chú giải : Tài liệu của Phạm Huấn và lời khai của Tướng Cẩm, Tướng Tất cho thấy tới 6 giờ chiều ngày 18-3-1975 các ông được trực thăng bốc khỏi thị xã Cheo Reo mà chưa có phát súng nào nổ ra.

Trong khi tài liệu của tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp cho biết :  “Lúc 18 giờ ngày 18 tháng 3, Sư đoàn 320 hoàn toàn làm chủ thị xã Cheo Reo”.  Ráp các tài liệu vào với nhau thì rõ ràng là quân VNCH bỏ Cheo Reo vào lúc 6 giờ ngày 18-3-1975 mà chưa có một phát súng nổ, và quân CSVN làm chủ thị xã Cheo Reo cũng vào lúc 6 giờ cùng ngày mà không cần nổ súng (sic).

Câu “hoàn toàn làm chủ” có nghĩa là không có đánh nhau, chỉ là bên này rút, bên kia tiếp thu.  Còn giờ làm chủ 18 giờ có nghĩa là Tướng Hiệp căn cứ từ sách của Văn Tiến Dũng, còn Văn Tiến Dũng căn cứ vào lời khai của Tướng Cẩm và Tướng Tất.  Chứ sự thực không có quân CSVN nào tại Phú Bổn vào thời điểm đó.  Nếu có thì Tướng Hiệp đã ghi vào sổ tay ghi chép của ông là đơn vị nào đánh như thế nào, hay tiếp thu như thế nào.

  • Buổi chiều , tại chân đèo Tu Na, Liên đoàn 7 BĐQ chia nhau chiếm lĩnh đèo Tu Na để làm bàn đạp bảo vệ an ninh cho đoàn di tản, Tiểu đoàn 58 BĐQ và BCH Liên đoàn đi trước, Tiểu đoàn 32 và Tiểu đoàn 85 đi sau.  Cũng trong lúc này Đại đội 9 của Tiểu đoàn 9 thuộc Sư đoàn 320 CSVN đã đuổi kịp tới chân đèo và bố trí địa điểm phục kích dưới chân đèo Tu Na, bên kia cầu Ea Nu.  Tuy nhiên cũng giống như Đại đội 11 và Đại đội 10, Đại đội 9 cũng nằm im không dám nhúc nhích vì địch đông quá, toàn là xe tăng.

Đoàn xe di tản bị bắn B.40, cầu sập

  • Lúc xẩm tối, cầu tạm bắc qua sông Ea Nu mới hoàn thành 2 lớp nhưng công binh cũng cho phép xe tăng và Pháo binh qua cầu.  Đi đầu là 1 Chi đoàn thiết vận xa.

Lợi dụng trời tối, một tiểu đội của Tiểu đoàn 9 CSVN bò ra sát bìa đường và bắn B.40 vào đoàn xe tăng M 41 vừa qua khỏi cầu.  Đoàn xe bị dồn lại trên cầu làm cầu sập, một số xe M.48 rơi xuống vực, trong đó có xe chở Thiếu tá Hà Mộng Thúy, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 32 BĐQ của Liên đoàn 7.

Tiểu đoàn 58 BĐQ tràn lên tấn công quân CSVN, 40 phút sau phi cơ lên bỏ bom nhưng chỉ thả cách xa con đường Liên tỉnh lộ 7, quân CSVN rút lui.  Trời tối, khoảng 6 giờ 50, thì im tiếng súng.  Quân Tiểu đoàn 58 BĐQ đào hố cá nhân, trụ lại chân đèo để chờ mai đánh tiếp.  Thiếu tá Hoàng Đình Độc, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 85 BĐQ bị thương được trực thăng tản thương về Nha Trang.

Trong khi đó quân của Tiểu đoàn 32 và 85 BĐQ ( Cả hai không còn Tiểu đoàn trưởng ) nhận được lệnh của Tuớng Tất đi vòng theo chân đèo mà về Tuy Hòa.  Trong đêm hai tiểu đoàn mạnh ai nấy đi, nhắm hướng xuôi theo Liên tỉnh lộ 7 mà tiến.  Coi như 2 tiểu đoàn tan hàng từ lúc này.

Sau khi cầu sập, đoàn thiết giáp và pháo binh cũng như đoàn xe 200 chiếc của BCH 2 Quân vận báo cáo về BCH.2/Tiếp vận, Đại tá Bửu Khương báo cáo tiếp về cho Tổng cục Tiếp Vân;  Đại tá Phạm Bá Hoa, Tham mưu trưởng TCTV, báo cáo cho Tướng Viên nhưng Tướng Viên ra lệnh hãy giấu chuyện này đi.  Đặc biệt báo cáo của Quân vận cho thấy cầu sập nhưng không có đánh nhau;  nghĩa là quân CSVN chỉ có 1 tiểu đội thừa dịp tối trời bắn B.40 vào đoàn xe thiết giáp, chứ không phải là đại quân của Sư đoàn 320 CSVN tấn công như người ta tưởng tượng.

Về phần Tiểu đoàn 103 Pháo binh 175 ly tại bên này cầu đã nhận được lệnh bỏ súng băng rừng vào lúc 6 giờ, trước khi trận chiến nổ ra.  Đến lúc cầu sập thì Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Bá Nguyệt quyết định ra lệnh hủy súng rồi cùng binh lính đi bộ tới chân cầu để tìm cách qua cầu rồi suôi về Nam.

Thấy cầu tuy sập nhưng người đi bộ còn qua được nên quân pháo binh lần lượt qua cầu.  Tiếp tục đi tới thì đụng cái chốt CSVN ở đầu đèo nên Thiếu tá Nguyệt ra lệnh cho các trung đội trưởng pháo binh 175 ly cùng nhau xung phong phá chốt.  Theo lời kể của Trung úy Nguyễn Ngọc Ninh, một trung đội trưởng của Thiếu tá Nguyệt, thì các sĩ quan trung đội trưởng từ chối bởi vì quân Pháo binh không rành chuyện nhổ chốt, không có lựu đạn, không có M.79.  Thiếu tá Nguyệt bèn kêu gọi người tình nguyện theo ông đi phá chốt, một toán khoảng mười mấy pháo binh đi theo.

Cũng theo lời kể của Trung úy Ninh thì khoảng 20 phút sau ông nghe súng nổ tại lưng chừng đèo, sau đó quân pháo binh chạy trở lại cho biết Thiếu Tá Nguyệt và Trung úy Chảy, Trưởng ban 4, đã lãnh 1 trái B.40 tử trận.  Trung úy Ninh bèn quyết định dẫn lính của mình đi vòng đèo rồi cắt rừng về Tuy Hòa. ( Đèo Tu Na dài 7 cây số ).

*Chú giải :  .Hồi ký của Tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp cho biết lực lượng tấn công tại chân đèo Tu Na là Tiểu đoàn 9 của Sư đoàn 320, nhưng thực ra chỉ có 1 đại đội, vì đại đội thứ nhất ( Đại đội 11 ) trụ lại tại phía Tây Hậu Bổn và đánh quấy rối tại phi trường.  Đại đội thứ hai ( Đại đội 10 ) lập chốt quấy rối tại đoạn đường ra khỏi Hậu Bổn 4 cây số, chỉ còn Đại đội 9 mới đến được đèo Tu Na. Sở dĩ chỉ có Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn 64 CSVN mới kịp tới Hậu Bổn vào ngày 18-3 bởi vì đêm 16-3 họ chỉ cách Hậu Bổn có 7 cây số.

Sổ tay của Tướng Đặng Vũ Hiệp ghi lại công trạng của Sư đoàn 320 CSVN tấn công đoàn di tản tại Phú Bổn như sau :

Tiểu đoàn 9 ngoan cường nổ súng vào đoàn xe địch.  Tiểu đội trưởng Nguyễn Vi Hợi thuộc Đại đội 9 tiểu đoàn 9 bắn 2 quả B.40 diệt 2 xe bọc thép địch… …Trong hai ngày 18 và 19 tháng 3, chỉ tính riêng tiểu đội của Nguyễn Vi Hợi đã tiêu diệt 40 tên, bắt 46 tù binh, bắn cháy 9 xe tăng, xe bọc thép.  Riêng Hợi diệt 21 tên địch, bắn cháy 6 xe bọc thép, bắt sống 6 xe bọc thép khác” ( trang 430 ).

Dĩ nhiên ai cũng biết đoạn văn trên được viết với tính cách khoa trương tuyên truyền, nhưng vô tình cho thấy :

(1) Tiếng là Sư đoàn 320, ( một sư đoàn khoảng 10.000 người ) nhưng thực sự là chỉ có Tiểu đoàn 9 là tiểu đoàn chỉ nằm cách Phú Bổn có 7 cây số.

(2) Tiếng là Tiểu đoàn 9 ( Một tiểu đoàn khoảng 500 người ) nhưng thực sự chỉ có 1 tiểu đội của Nguyễn Vi Hợi ( Một tiểu đội từ 8 đến 12 người ).

(3) Một mình tiểu đội của Nguyễn Vi Hợi và một mình Nguyển Vi Hợi mà bắn được chừng đó người và chừng đó chiến xa thì chỉ có nước bắn vào người không có súng, và bắn vào xe không có người đang nằm trơ giữa đường, những người trên xe đã bỏ xe băng rừng về Tuy Hòa. Không thể nào có chuyện một người mà “bắt sống” 6 xe tăng, chỉ có nước bắt sống bằng bùa phép.

Ngoài chiến công của Nguyễn Vi Hợi, sổ tay ghi chép của Tướng Bí thư Quân ủy Mặt trận Tây Nguyên Đặng Vũ Hiệp không hề ghi thêm một chiến công nào của một tiểu đội hay trung đội hay tiểu đoàn hay trung đoàn nào khác của Sư đoàn 230 CSVN.  Chứng tỏ toàn bộ Sư đoàn 320 CSVN hoàn toàn không có tham chiến trên LTL.7;  ngoại trừ Tiểu đoàn 9, trong đó có Tiểu đội của Nguyễn Vi Hợi.

Nhưng toàn bộ Tiểu đoàn 9 cho tới 6 giờ chiều ngày 18-3-1975 chỉ còn độc một tiểu đội, và tiểu đội này hưởng hết mọi chiến công bởi vì không còn đơn vị nào khác để chia chiến công.

Tan hàng vì hoảng loạn

Ngoài ra hồi ký “Ký ức Tây Nguyên” của tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp không ghi lại một chiến công nào khác của quân CSVN trên suốt trận LTL.7.  Như vậy có thể kết luận rằng cuộc rút quân khỏi cao nguyên chỉ là một cuộc chạy loạn.  Và tất cả tan hàng vì hoảng loạn.  Hoảng loạn do không có chỉ huy.

Sau này trên đất Mỹ, Tướng  Phạm Duy Tất đã gặp lại các vị chỉ huy của các liên đoàn và tiểu đoàn BĐQ có mặt trên Liên Tỉnh Lộ 7;  tất cả đều cho biết quân số trình diện tại Sài Gòn gần đầy đủ ( Đỗ Sơn, Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất và Sự Thật Cuộc Triệt Thoái Quân Đoàn II, trang 197 ).

Đơn giản là một khi nhận được lệnh bỏ xe tăng đại bác chạy băng rừng thì mạnh ai nấy chạy, và khi về được đến nơi an toàn thì không tội gì ra trình diện.  Chỉ cần vứt súng thay đồ dân sự chạy theo đoàn dân di tản vào trình diện tại Trường BĐQ dục Mỹ để nhận lương, quân trang và thực phẩm.  Rồi khi Trường BĐQ Dục Mỹ di tản thì theo dân chạy vào Nam.

BÙI ANH TRINH

Bản đồ cầu Ea Nu và đèo Tu Na
[post_connector_show_children slug="b%c3%b9i-anh-trinh-c%c3%a1c-tr%e1%ba%adn-%c4%91%c3%a1nh-n%c4%83m-1975" parent="12417" link="true" excerpt="false"]

Bùi Anh Trinh - CÁC TRẬN ĐÁNH NĂM 1975