Chú thích của người viết :

Năm 1996 tôi đến Mỹ theo diện tị nạn chính trị.  Việc đầu tiên là tôi tìm tài liệu để giải mã trận Khánh Dương mà chính tôi có tham dự dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Phạm Văn Phú.  Nhưng rồi các tài liệu nói về Ban Mê Thuột , Khánh Dương,  Liên tỉnh lộ 7, M’drak đều dẫn tôi đến một nghi ngờ chung cuộc rằng hình như sự thất bại của Tướng Phú tại Quân Khu II là do sắp xếp của phía Mỹ.  Và tôi lần mò truy tìm bẳng chứng giải đáp cho mối nghi ngờ này.

Các tài liệu đầu tiên mà tôi có được là quyển Đại Thắng Mùa Xuân của Văn Tiến Dũng xuất bản năm 1976, quyển Decent Interval của Frank Snepp xuất bản năm 1977, quyển The Final Collapse của Cao Văn Viên Xuất bản năm 1983, và quyển The Palace File  của Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L.Schecter, xuất bản năm 1986. Đây là những quyển sách có giá trị khả tín số một nói về chiến tranh Việt Nam.

Sau đây là trích đoạn những tài liệu nói trên mà tôi dùng để chứng minh cho hành động “phản bội đồng minh” của Kissinger :

Bài toán cắt viện trợ, bỏ Vùng 1, Vùng 2

Ngày 16-8-1974, Tư lệnh quân đội HK tại VN John Murray họp buổi họp chót với Tướng Cao Văn Viên và một số tướng lãnh của Bộ TTM.  John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, tùy theo mức viện trợ quân sự của Mỹ, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2, và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4.  Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ ( Frank Snepp, Decent Interval, 1977, trang 95 ).

Ngày 11-3-1975 Tướng Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại dinh Độc Lập và sau đó trình bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975 :

“Quyết định của Tổng thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng.  Hình như Tổng thống Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”… “…VNCH không còn hy vọng nào.  Một thực tế gần như hiển nhiên là HK không muốn cuộc chiến tiếp tục, và biểu quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra.  Đối với HK, cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc” ( trang 132 ).

Nghĩa là quyết định bỏ Vùng 1, Vùng 2 và một phần Vùng 3 của Mỹ không phải là chuyện bất ngờ đối với Tổng thống Thiệu, Thủ tướng Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên và Trung tướng Đặng Văn Quang.

Quyết định bỏ rơi Miền Nam của Mỹ

Tháng 8-1974, sau khi Quốc hội HK quyết định ngân sách viện trợ quân sự cho VNCH trong năm 1975 thì Tướng Cao Văn Viên hạ một câu kết luận : “Một sự thật không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và hết nhiên liệu vào tháng 6 – 1975” ( The Final Collapse, Bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong trang 136 ). 

Nghĩa là CIA phải sắp xếp làm sao cho quân đội VNCH sụp đổ trước khi hết gạo, hết đạn vào tháng 6 năm 1975.

Tháng 8 năm 1974, CIA quyết định dẹp bỏ chi nhánh CIA tại Ban Mê Thuột vì lý do để tiết kiệm ngân sách.  ( Frank Snepp, trang 178.  Nguyên văn :  The CIA chief in the MR.2 had decided in the sumer of 1974 to shut down the agency’s out post  in Ban Me Thuot as part of a cost-cuting exercise ).

Vì vậy mà tháng 3 năm 1975 quân đội CSVN đột nhiên xuất hiện tại Ban Mê Thuột với 4 sư đoàn bộ binh và 11 trung đoàn yểm trợ ( Khoảng 50.000 người ) mà CIA không hề hay biết !!

Cuối tháng 10 năm 1974. Đại sứ Martin dùng chuyện tham nhũng làm sức ép, buộc Tướng Thiệu phải thay 3 ông tướng Tư lệnh Vùng ( Frank Snepp, Decent Interval, trang 117 ).

*( Nguyên văn :  Finally, in late October, Thieu bowed to demand.  He fire four member of his cabinet, demoted nearly 400 field-grade officers who wer suspected  of corruption and remove three of his four regional commanders, include General Nghi and General Nguyen Van Toan, commander in Military Region 2 ).

Ba ông Tướng bị thay là 3 ông tướng tài bậc nhất của VNCH lúc bấy giờ, cả ba đều là tướng thân cận của Tổng thống Thiệu.  Riêng Tư lệnh Vùng 1 Ngô Quang Trưởng là người thân cận của Tướng Trần Thiện Khiêm, mà Khiêm là điệp viên của CIA cho nên Martin không cần thay Trưởng.

Sở dĩ Martin phải đẩy Tướng Toàn đi khỏi Vùng 2 vì ông không muốn Toàn sẽ là người tiếp tục giữ vững Cao Nguyên trong trường hợp quân Bắc Việt xâm lăng.  Đặc biệt muốn đối phó với xe tăng của CSVN thì cần phải có một ông tướng Thiết giáp để chỉ huy trận địa Tây Nguyên, trong khi Tướng Toàn là ông tướng thiết giáp kiệt xuất.

Tháng 11 năm 1974 Quốc hội Hoa Kỳ ra đạo luật không cho phép VNCH dùng tiền viện trợ kinh tế của HK để trả lương cho quân đội VNCH. Trong khi vật giá leo thang từng ngày, người lính VNCH không đủ chi phí để nuôi gia đình :

“Hình ảnh người lính Việt Nam, với đôi mắt buồn ẩn dưới vành chiếc mũ sắt; cao bằng khẩu súng M.16;  lương tháng tương đương 12 đô la, nhưng phải nuôi vợ con với mức 1 đô la một ngày mà không hy vọng thoát khỏi số phận cho đến khi nằm trên chiếc băng ca hoặc giải ngũ ở cái tuổi 37, quá già để có thể làm bất cứ việc gì” ( Frank Snepp Decent Interval, trang 8 ).

Tuần đầu của tháng 3 năm 1975.  Trong một cuộc họp đầu tuần của Bộ Ngoại giao HK, Kissinger đã giải thích hành động viện trợ “lấy có” cho Cam Bốt: “Chính phủ Lon Nol đang trên đà sụp đổ, đây là nguyên do chính khiến chúng ta phải tiếp tục viện trợ để cho sau này không ai có thể trách chúng ta vô trách nhiệm”.( Frank Snepp, Decent Interval, trang 175 ).

*( Nguyên văn : “…he say, the Lon Nol Government was on the brink of collapse, it was essential to keep open the aid pipeline so no one could later blame the United States for the disaster” ).

Ngày 7-3-1975, Kissinger chỉ thị cho các viên chức Ngoại giao HK trước khi ông ta lên đường đi Trung Đông : “Hãy làm mọi cách để Quốc hội tiếp tục duy trì viện trợ cho Cam Bốt và Việt NamKhông phải để cứu vãn hai nước đó, mà vì không thể nào cứu vãn được hai nước đó” ( Frank Snepp, Decent Interval trang 176 ).

*( Nguyên Văn :  Do every thing possible to ensure that Congress lived up our aid commitments to Cambodia and Vietnam- not because the two countries were necessarily salvageable, but precisely because they might not be ). 

Kissinger không muốn thiên hạ nghĩ rằng Việt Nam sụp đổ do không còn viện trợ.  Và với mức độ viện trợ nhỏ giọt thì đến ngày 30-6-1975 quân đội VNCH sẽ không còn gạo và không còn đạn ( Tài liệu The Final Cllapse của Tướng Cao Văn Viên ).  Vì thế Kissinger sắp xếp cho Quân đội VNCH tự tan rã trước khi hết gạo và đạn trước tháng Sáu năm 1975.

Âm mưu phá hoại ngay tại Bộ tham mưu Quân đoàn 2

Ngày 13-3 : 

“ Nicol ( Don Nicol, trưởng cơ sở CIA tại Pleiku ) nhận được điện thoại của Đại tá Lê Khắc Lý, Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 …. Lý cho Nicol biết ngày mai 14/3 tướng Phạm Văn Phú sẽ họp với tổng thống Thiệu tại Cam Ranh. Buổi họp được giữ kín và máy bay của tướng Phú sẽ đi Qui Nhơn trước để đánh lạc hướng. Lý hứa với Nicol có tin gì sau khi Phú đi họp về Lý sẽ cho hay. Nicol báo cho Robert Chin, trưởng cơ sở CIA Nha Trang biết nội dung tin Lý vừa cung cấp”. ( CIA and The Generals, bản dịch của Trần Bình Nam )

 Ngày 14-3 :

“Ngày hôm sau 14/3 trước khi Nicol bay về Nha Trang họp thì được điện thoại của Chin cho biết cơ sở Qui nhơn cho hay tướng Phú có bay về Qui Nhơn thăm bộ chỉ huy một sư đoàn ở đó.

Chiều ngày 14/3, sau khi Nicol đã đi Nha Trang, Stephens (phụ tá của Nicol?) đến bộ tư lệnh quân đoàn 2 kiếm tin về cuộc họp giữa Phú và Thiệu. Stephens gặp Lý trước, Lý chưa nói được gì thì Phú bước vào. …Hôm đó Stephens không lấy được tin gì. .” ( CIA and The Generals, bản dịch của Trần Bình Nam )

Ngày 15-3 :

“Ngày mai Stephens trở lại với hy vọng có tin sốt dẻo. … Nửa giờ sau Stephens tìm được Lý. Lý kéo Stephens ra một chỗ vắng và sau khi căn dặn tuyệt đối giữ kín, Lý cho Stephens biết Thiệu ra lệnh tướng Phú bỏ Pleiku và Kontum” ( CIA and The Generals, bản dịch của Trần Bình Nam )

Ngày 15-3 :

“Meanwhile, the awful truth about the decisions taken at Cam Ranh the day before was beginning to leak out.  Shortly after the morning staff meeting, a CIA agent on Phu’s staff alerted his local American case officer that a total abandonment of the highlands was imminent”.

“Trong khi đó tin tức về quyết định khủng khiếp tại Cam Ranh ngày hôm trước đã bắt đầu rò rỉ.  Ngay sau cuộc họp của Bộ tham mưu vào buổi sáng, một điệp viên CIA cài trong Bộ tham mưu của Tướng Phú ( Lê Khắc Lý ) đã báo động cho trưởng cơ sở CIA tại Pleiku rằng cuộc triệt thoái khỏi cao nguyên sắp xảy ra”. ( Frank Snepp Decent Interval, trang 196, bản dịch của Bùi Anh Trinh ).

“Unfortunately, in their haste to save themselves, they committed a host of sins for wich intelligence operative should be drawn and quartered. In addition to abondoning their American colleagues and their own Vietnamese employees, they neglected to provide for the safety of the long-time agent on Phu’ staff”.

“Thật không may, trong lúc vội vã lo tự cứu mình, họ đã phạm sai lầm nghiêm trọng đối với nghiệp vụ tình báo.  Chẳng những bỏ rơi các đồng nghiệp Mỹ và nhân viên Việt Nam, họ còn quên bảo vệ cho một điệp viên kỳ cựu được cài trong Bộ tham mưu của Tướng Phú” ( Frank Snepp Decent Interval, trang 200, bản dịch của Bùi Anh Trinh )

Ngày 16-3 :

Soon an Air America C-46 transport lumbered in, picking its way carefully along the tarmac through throngs of soldiers and civilians.  Thinhking this was the plane he has just summoned, Thieme dashed over to it and grabbed for the hatch lock.  But as he did the pilot gunned his motors and pulled off down the run way, to parking area reserved for military planes.  Thieme, at once frightened and furiuos, put in a radio call to Nha Trang to demand an explanation.  He was told that the C-46 was specially scheduled CIA plane sent in to rescue “ahigh-ranking Vietnamese Military officer” ( Actually, the CIA agent on Phu’s Staff who has been abandoned the day before ).

A short while later another Air America transport arrived to pick up Thieme’s group”.

“Một máy bay vận tải C-46 của hãng Air America nặng nề hạ cánh, nó chầm chậm lướt qua đám lính và dân sự.  Thieme nghĩ rằng đây là chiếc máy bay mà mình vừa yêu cầu, ông lao tới nắm lấy khóa cửa.  Nhưng khi ông vừa hành động thì viên phi công từ từ cho máy bay trườn tới bãi đậu dành riêng cho các máy bay quân sự.

Vừa sợ hãi, vừa tức giận, Thieme gọi về Nha Trang yêu cầu được giải thích.  Ông được trả lời rằng đó là chiếc máy bay C-46 đặc biệt được gửi tới để cứu thoát “Một sĩ quan Việt Nam cao cấp” ( Thực ra đó là điệp viên CIA được cài trong Bộ tham mưu của Phú, người đã bị bỏ quên ngày hôm trước )

Một thời gian ngắn sau đó, một chiếc máy bay vận tải khác của Air America hạ cánh để bốc nhóm người của Thieme”( Frank Snepp Decent Interval, trang 203, bản dịch của Bùi Anh Trinh).

Đại tá Lê Khắc Lý là Tham Mưu trưởng của Quân đoàn 2.  Ông ta là người duy nhất ra lệnh trực tiếp cho các đơn vị quân đội tại Cao Nguyên sau khi Tướng Phú về Nha Trang để chỉ huy mặt trận Ban Mê Thuột.  Một khi Lê Khắc Lý bí mật trốn khỏi Pleiku thì toàn bộ máy chỉ huy của Quân đoàn 2 tan rã. Cuộc lui binh sau đó đã trở thành cuộc chạy loạn, mạnh ai nấy chạy.  Trong khi đó Lê Khắc Lý từ nơi lẫn trốn vẫn tiếp tục báo cáo cho Tướng Phú rằng mọi chuyện tốt đẹp.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - CÁC TRẬN ĐÁNH NĂM 1975