Câu chuyện ba con sông

Quảng Trị có ba con sông lớn.

“Lớn” là nói theo nghĩa tương đối khi so sánh với những con sông khác nhỏ hơn, cùng tỉnh.

Thông thường, trong cuộc Nam Tiến của người Đại Việt, qua một vùng đất khô cằn, gặp một con sông, có nước ngọt – điều kiên cần thiết nhứt cho sự sống, lưu dân dừng lại đó, tìm phương kế sinh nhai.

Điều kiện đó là nước và đất đai. Dân tộc nông nghiệp mà không có đất sao được. Sự khác biệt giữa dân tộc ta và các dân tộc khác là chỗ đó. Xứ của người Ả Rập phần nhiều là sa mạc nên họ sống bằng nghề chăn nuôi, thực phẩm là thịt, xã hội của họ là xã hội ăn thịt. Người Việt ăn cơm, ăn rau. Vì vậy, các nhà nghiên cứu về xã hôi – như giáo sư Lê Văn Siêu – phân biệt sự khác nhau về con người của xã hội ăn thịt và xã hội ăn rau.

Qua khỏi “Truông nhà Hồ”, còn có tên là Hạ Cờ, Hồ Xá, – “Thương anh em cũng muốn vô, Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”, là cái “truông” thì canh tác thế nào được, người đi tìm đất sống dừng lại ở Vĩnh Linh.

Sông Bến Hải, “Sao đành tâm chia đường cắt đôi!”

Vĩnh Linh là vùng đất đỏ, đi tích của núi lửa xưa kia, lại thuộc lưu vực sông Bến Hải.

Tại Vĩnh Linh, người Việi dừng lại đó, không phải chỉ vì có đủ đất và nước là “điều kiện sinh sống” mà thôi đâu.

Một vài người bạn hỏi tôi: Vĩnh Linh như thế nào mà có nhiều “họ lớn” xuất phát từ nơi đây. Đây là nơi phát xuất của họ Tống – Tống Phước Khuông, “Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu” và một cô giáo nổi tiếng ở Huế ngày trước: Đặng Tống Tịnh Nhơn…, họ Trần Công…., họ Phạm…

Những người nầy là hậu duệ các danh tướng của chúa Nguyễn Hoàng ngày xưa.

Khi Nguyễn Hoàng đóng đô ở Ái Tử – “Mẹ thương con ra ngồi cầu Ái Tử” – thì Vĩnh Linh, phía nam của Truông Nhà Hồ, là tuyến đầu để bảo vệ Ái Tử. Bởi vì cuộc “trường kỳ chống Trịnh ở phương Bắc”, nên binh lính chúa Nguyễn Hoàng phải thực hiện sách lược “tiến vi binh, thối vi nông”. Do đó, đời sống binh tướng chúa Nguyễn ở phương là phải vừa canh chừng giặc, vừa canh tác. Trong ý nghĩa đó, Vĩnh Linh không hẳn chỉ là tuyến đầu mà còn là nơi lập nghiệp lâu dài, kế dài tới các đời sau.

Cũng vì vậy nên nông nghiệp Vĩnh Linh khá phát triển, nếu so sánh với thời kỳ đó, nhiều sản phẩm cây trái buôn bán tấp nập nơi đây. “Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu, Mua câu Nam Phổ…” Chợ Cầu, chợ Phủ, chợ Huyện… là những chợ lớn ở Vĩnh Linh. Chợ nằm theo một nhánh sông của sông Bến Hải, đổ ra biển ở cửa Tùng, tên chữ là Tùng Luật. Cửa Tùng là nơi nghỉ mát nổi tiếng thời Pháp thuộc.

Để tiện việc giao thương, nhà Nguyễn cho đào một con sông đào ngang ngã ba sông Bến Hải, nhờ đó, thuyền buôn có thể chở hàng hoá từ Vĩnh Linh, đi theo các sông ngòi ở tỉnh Quảng Trị mà vào tới Huế, khỏi đi ra biển.

Sông Bến Hải là mối hận của ngươi Việt chúng ta.

Sông Gianh chỉ là ranh giới giữa Đằng Trong, Đằng Ngoài thời xa xưa, vậy mà mấy trăm năm sau, khi đi ngang đó, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước còn viết bài ca “Hờn Sông Gianh”: “Ơi sông Gianh, lòng mi than khóc, hồn mi đau đớn và mi căm hờn.”

Sự chia cắt đất nước thời Trinh Nguyễn là hành động của người trong nước với nhau. Hồi ấy, dù không được tự do hoàn toàn, người dân hai miền vẫn còn qua lại thăm viếng gặp gỡ nhau. Có vậy, ông Đào Duy Từ mới từ Đằng Ngoài trốn vô Đằng Trong được. Dù ai có bị bắt, cũng không đến nỗi đem ra chém đầu. Kình chống và thù hận, nếu có, chỉ ở những kẻ thống trị hai miền trong ngoài mà thôi.

Sự chia cắt phân ly của thời đại chúng ta bi thảm hơn nhiều.

Biết bao nhiêu máu “người vượt tuyến” thắm đỏ  sông Bến Hải, bị Cộng Sản bắn chết ở đầu sông, cuối sông. (1) Sự ngăn cấm qua lại trên sông nầy rất chặt chẽ, bắn giết rất tàn ác, kéo dài suốt hai mươi năm, người dân hai bên vĩ tuyến không liên hệ với nhau được.

Sự chia cắt nầy không phải do người dân của hai miền, cũng không do chính quyền của hai miền, mà chính là do quyền lực của các cường quốc: Liên Xô và Tàu Cộng.

Đất nước thì đất nước của mình; Dân tộc thì dân tộc mình. Vậy mà bọn đầu sỏ Đế Quốc – Đế Quốc Đỏ cũng như Đế Quốc Xanh hè nhau mà cắt đôi đất nước mình ra làm hai, ngăn cấm không cho dân chúng hai bên qua lại, chia lìa chồng vợ, dứt tình cha con. Hỏi có đau long không?!

Vậy mà Cộng Sản Việt Nam lại cúi đầu tuân theo, và bọn Thực Dân Pháp thua trận, tiếp tục chạy dài trên con đường xâm lăng thất bại của chúng.

Cũng giống như Lưu Hữu Phước viết trong bài “Hờn Sông Gianh”, ngày nay sông Bến Hải cũng than “lòng mi đau đớn, hồn mi than khóc, và có buồn chăng?”

Nơi đây, lòng người Việt Nam bị cắt làm đôi, hồn người Việt Nam tan vở, nước mắt có chảy thành sông cũng không có gì lạ. Vợ chồng ly cách, mẹ con chia lìa. “Mẹ ơi thôi đừng khóc nữa, cho lòng già nặng sầu thương…”  Con dường Việt Nam “từ Cà Mau thẳng tới Nam Quan… mà “sao Cộng quân dành tâm chia đường cắt đôi.” Câu hát trong “nguyên bản” của nhạc sĩ Thanh Bình là “Sao Cộng Quân”. Bây giờ có người đổi “Cộng Quân” thành “người ơi” là sai. Nếu cố ý đổi là vô liêm sĩ đấy. Có phải không? Hát thì hát cho đàng hoàng. Sợ không dám hát thì thôi!

Tội chia cắt đất nước là lớn lắm, đối với dân tộc và lịch sử. Người Cộng Sản họ biết thế, Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng biết thế mà vẫn cứ đặt bút ký vào hiệp địnhGenève  chia cắt Việt Nam thành hai miền là cớ làm sao? Hỏi là đã thấy câu trả lời!

Phong thủy mỗi nơi thường căn cứ vào hai điểm chính: Núi và sông. Núi cao sông rộng, đẹp đẽ, hùng vĩ là nơi sản sinh nhiều anh tài, tuấn kiệt. Nói theo cách “phong thủy” là “địa linh nhân kiệt”.

Hiểu như vậy, để thấy rằng Quảng Trị có nhiều nhân tài. Cái gì là “địa linh” để có “nhân kiệt”?

Câu người ta thường nói về “địa linh” của Quảng Trị là “Núi Mai, sông Hãn”

&

Núi Mai không phải là nơi đầu nguồn sông Thạch Hãn

Thời Đệ Nhị Cộng Hoà, thị xã Quảng Trị thuộc quận Mai lĩnh. Tên Mai Lĩnh nầy có từ đâu? Có phải từ núi Mai Lĩnh.

Chúng ta hãy đi tìm núi Mai Lĩnh!

Ngọn núi có thật, không phải huyền thoại

Theo cách hiểu thông thường, núi có nhiều hoa mai vàng nở về mùa xuân, là ngọn núi có hình cái vú của người đàn bà, đứng trên đỉnh núi có thể nhìn bao quát khung cảnh chung quanh vì núi nằm ở tả ngạn sông Thạch Hãn, bên cạnh sông Dakrong, sông nầy cùng với sông Ba Lòng, là hai phụ lưu tạo thành sông Thạch Hãn.

Không có tài liệu nói tới cái tên cũ, một cái tên nôm na nào đó của núi Mai Lĩnh. Tuy nhiên, giữa vùng núi non trùng điệp, nơi nầy có nhiều hang động, năm phía nam đường số 9 – con đường từng là nơi xảy ra nhiều trận chiến ác liệt trong hai cuộc Chiến Tranh Đông Dương 1 và 2, – nơi có động Ông Đô là nơi “giành giật” giữa quân đội hai miền Bắc và Nam Việt Nam. Về phía quân Bắc Việt, giữ Động Ông Đô là giữ con đường xâm nhập từ Bắc vào Nam; với quân đội Miền Nam, giữ được nơi nầy là ngăn chặn đường tiến quân của phe địch.

Tên núi Mai Lĩnh mới xuất hiện vào đời vua Tự Đức, trong các sách viết về “địa dư chí” của triều đình. Núi có cái tên mới và hay, cho xứng với một nước có văn hiến lâu đời.

Mai Lĩnh cao 843 mét, thuộc huyện Hương Hóa, dân tộc Vân Kiều là những “người thượng” du canh du cư ở vùng nầy. Tôi còn nhớ khi còn trẻ, mỗi chiều mùa hè, đứng bên bờ sông Thạch Hãn, ngay tại thị xã Quảng Trị, nhìn lên phía Trường Sơn, rất nhiều khi thấy những làn khói trắng bay lên, đó là lúc “người thượng” đang đốt rẫy, chuẩn bị làm mùa.

Sau “thất thủ kinh đô”, vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (tên nôm na là Cùa). Rồi nhà vua phải chạy trốn nữa, theo đường “thượng đạo” mà ra vùng núi non Quảng Bình, Hà Tĩnh. Khi đi trốn, vua phải qua Mai Lĩnh.

Vua đã đến đây, Mai Lĩnh. Dấu chân vua có còn lại đâu đây, trên bước đường bôn tẩu của một vị vua còn quá trẻ, 16 tuổi, với một tấm lòng yêu nước son sắt, thà chết chứ không “theo Tây”. Còn có ai nghĩ tới mà thương cho ông vua trẻ vì nước mà chịu cảnh gian lao? (2)

Sông Thạch Hãn là hợp lưu của hai sông Ba Lòng, phía Tây nam, và sông Dakrong, phía Tây Bắc ở thung lũng Ba Lòng. Sông Dakrong và sông Ba Lòng đều bắt nguồn từ những khe suối trên rặng Trường Sơn.

Từ Ba Lòng vê xuôi trôi ra biển, nước sông Ba Lòng phải chảy một vùng đá vôi. Vùng đá vôi nầy “lọc” trong dòng nước, làm cho dòng nước mát lạnh và ngọt. Do đó, nước sông Ba Lòng thơm ngon nhất trong các sông chảy dọc miền Trung, tư Trường Sơn ra biển, sông tuy ngắn và lưu lượng không cao lắm, so với các sông khác trong toàn cỏi.

Do tính cách đặc biệt, tên nôm na của con sông là đá hàn.  Nước sông chảy qua một một vùng “đá”, (thạch) nước trở thành mát “lạnh” (hàn). Tên chữ là Thạch Hãn.

Ca dao Quảng Trị có câu: “Dẫu thơm cũng thể hương đàn, Dẫu trong cũng thể nguồn Hàn chảy ra”.

Quảng Trị có hai thứ gỗ phổ biến: Gỗ chò, thông dụng như gỗ bằng lăng ở trong Nam và gỗ hương đàn là thứ gỗ quí, có mùi thơm, dùng để đóng các dụng cụ quí. Các nhà giàu có, vua quan dùng làm quan tài.

Câu ca dao mượn ý khuyên người khác đừng chê bài nước sông Thạch Hãn. Dù gì thì nó cũng làn nước “nguồn Hàn” là nguồn nước sông Thạch Hãn, trong, mát và ngọt, cũng như gỗ hương thì phải thơm. Hương (đàn) cũng có nghĩa là hương thơm.

Sông Thạch Hãn được chạm hình trong “cửu đỉnh” để trước Thế miếu trong ĐẠi Nọi đấy!

Sau 1975, chính quyền chế độ mới, xây một cái đập nước ngang xã Phong An, tên cũ là Trấm. Đập nầy giữ nước làm cho nước ở hạ lưu cạn đi. Đoạn sông chảy ngang thị xã, ngày trước về mùa hè đã cạn, nay cạn nhiều hơn, bọn trẻ con lội ngang sông dễ dàng. Nếu chúng có đi học, không cần phải đu giây Tạc-giăng như học sinh miền núi phía Bắc nước ta. Đập giữ nước sông lại nên có mùi rong rêu hôi thối, lại them nuôi cá bè nhử ở Hậu Giang nên nước không thơm và mát như ngày trước. Ấy là cũng do “dốt” mà ra.

Một phụ lưu tương đối lớn của sông Thạch Hãn là (sông) Hiếu Giang, còn có tên là sông Cam Lộ vì sông nầy chảy ngang  Cam Lộ, hay sông Điếu Ngao (Điếu có nghĩa là câu cá), hay (sông) Đông  Hà (con sông phía đông). Hai sông nầy gặp nhau ở làng Gia Độ, làng của ông thi sĩ Hoàng Gia Độ, ngay ngã ba là làng An Giạ mà tôi có nói đến trong bài viết “Hít hà con chắt chắt”, phía bên hữu ngạn sông Thạch Hãn là chợ Đầu Kênh, trước khi chảy ra biển ở cửa Việt, tên đầy đủ là Việt An.

Giữa hai sông Hiếu và sông Thạch Hãn còn có hai phụ lưu khác, tên gọi là sông Lai Phước và sông Ái Tử. Ái Tử là nơi đóng quân đầu tiên của Nguyễn Hoàng khi ông mới vào Nam năm 1558. Vì vậy trường trung học lớn nhất và đầu tiên của tỉnh Quảng Trị ngày trước có tên là Trường Trung Học Nguyễn Hoàng để giữ một kỷ niệm lịch sử trong cuộc đi dân về phía Nam của người Việt chúng ta?!

Sử chép khi Chúa đem quân vào tới Ái Tử, vì nơi nầy là một cái truông cát, tục thường gọi là “truông Ái Tử”, biết binh lính khát nước nên dân chúng địa phương gánh bảy chum nước ra dâng. Ông Nguyễn Ư Kỷ, cậu của Chúa, đi theo làm quân sư, thấy vậy, bèn nói: “Nay mới đến trấn mà dân đem nước ra dâng, ấy là điềm trời cho. Nước tức là nước vậy.” (Độc giả có thể đọc câu chuyện nầy trong “Việt Sử Khảo Lược” của Tôn Thất Dương Kỵ). Chữ “nước” có hai nghĩa, nước uống và quốc gia (đất nước), ý muốn nói rằng Nguyễn Hoàng có thể thành lập một “quốc gia” (nước) lâu dài lử phía Nam, không lệ thuộc vua Lê chúa Trịnh ở phía Bắc.

Chúa đóng đô lử Ái Tử.  Chung quanh Ái Tử là các trại binh lính của Chúa. Vì phải “lập kế” đóng  binh lâu dài nên binh lính của Chúa phải thực hiện kế sách “tiến vi binh, thối vi nông”, nghĩa là khi có giặc (chiến tranh) thì họ là lính, khi thái bình, họ phải làm nông (nghiệp). Do đó, Chúa cho lập nhiều làng chung quanh, bảo vệ Chúa đóng ở giữa. Từ đó, khu vực nầy có một số làng tên là “Tiền Kiên”, “Trung Kiên”, “Tả Kiên”.  Tả, hữu, tiền hậu…. là vùng chung quanh dinh của Chúa.   Kiên là lòng “kiên trì, kiên gan, kiên cường”….đối với Chúa, một số tên làng đã biến mất, vì sau khi Chúa “thiên đô”, làng cũng không còn. Các làng Trung Kiên, Tả Kiên, Hậu Kiên nay vẫn còn tên (3)

Trong một bài hát Duy Khánh thường hát, có câu “Mẹ thương con ra cầu Ái Tử”, chính là địa danh làng Ái Tử, và có sông Ái Tử là một phụ lưu của sông Thạch Hãn. Câu ca dao là:

Mẹ thương con ra ngồi cầu Ái Tử,

Vợ trông chồng lên đứng núi Vọng Phu.

Độc giả khi đọc câu ca dao nầy, xin nhớ phần “tiểu đối”, là cái ý đối nhau (nhỏ) của nó:

-Mẹ (chữ đầu câu 1) đối lại là Vợ (chữ đầu câu 2)

-Sau đó là thương đối với trông; con đối với chồng, v.v…..

Phép đối thường có trong văn chương Việt Nam, bình dân (dân gian) cũng như bác học.

Núi Vọng Phu ở Khánh Hòa.

&

Tỉnh lỵ Quảng Trị – Cổ thành

Trước khi Tây dô hộ nước ta, Quảng Trị không có thị xã mà chỉ có “thành cổ” Quảng Trị, xây từ đời Gia Long (khoảng 1802), sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi không bao lâu. Thành bằng đất, đến đời Minh Mạng mới xây lại bằng gạch, như người thấy, trước khi có trân đánh năm 1972.

Thành hình vuông, khoảng nửa cây số mỗi bề, có 4 cửa, theo hướng đông, tây, nam, bắc

-Cửa hương Bắc, ngó ra sông Thạch Hãn, gọi là cửa Hữu. Đường thẳng từ cửa ra bến sông, xưa gọi là Bến Thuế vì ghe thuyền phải neo ở đây, đóng thuế cho triều đình.

-Đối diện với cửa Hữu là cửa Tả, ngó về hướng Nam. Ngay cửa Tả là một ngã ba của con đường chạy song song với bờ thành là “đường cửa Tả”, sau nầy có tên là đường Trần Cao Vân (hay Duy Tân). Ngay cửa Tả, đi theo đường Duy Tân là xuống Góc Bầu, tức là góc Đông Nam thành cổ. Ở góc nầy có đường đi về làng Trí Bưu, tên nôm na là Cổ Vưu, và một đường đi phía ngoài của làng Trí Bưu để về làng Qui Thiện, bên kia sông đào Vĩnh Định. Làng nầy nguyên có tên là làng Tri Lễ. Việc đổi tên làng, và việc một số người họ Thái ở làng nầy chạy trốn lên Cam Lộ, sau khi Phong Trào Văn Thân tan rã, có dịp sẽ nói sau!

Phía trong cửa Tả, xưa kia là khu dinh thự của các quan Nam Triều (tức là triều đình nước An Nam), gồm có: Dinh quan tuần vũ (tỉnh trưởng tỉnh nhỏ), dinh quan án sát (trông coi về tư pháp), dinh quan lãnh binh (coi về binh lính, quân sự).

-Phía Tây là cửa Tiền, có đường cửa Tiền.

-Đối diện với cửa Tiền là cửa ngó ra Phía Đông: cửa Hậu, có đường chạy dọc theo bờ thành, ra tới sông Thạch Hãn là đường cửa Hậu. Từ cửa Hậu ngó ra một cái xóm xa, bên bờ sông Vĩnh Định, thuộc làng Cổ Thành, có cái tên rất đẹp là “thôn Hạnh Hoa”, có khi gọi theo sách Nho là “Hạnh Hoa thôn”. Tên thì đẹp nhưng lại là nơi đổ máu nhiều, bị tàn phá cũng nhiều trong các trận chiến vừa qua, vì Hạnh Hoa là con đường giao liên của Việt Cộng khi xâm nhập thị xã Quảng Trị.

Thị xã Quảng Trị được xây dựng vào thơi Tây cái tri nước ta.

Về địa dư, lãnh thổ thị xã Quảng Trị là đất của làng Thạch Hãn, kể cho tới địa giới đất của làng Cổ Thành là con đường kiều xóm heo, nằm kế Miếu Đôi ở cuối đường Lê Văn Duyệt, tên cũ là đường Cửa Hậu. Đường Xóm Heo là ranh giới làng Cổ Thành và Phường Đệ Tứ.

Vùng phía sau phường Đệ Tứ là ruộng của làng Cổ Thành.

Phía sau xóm nhà ở cửa Tả là đất của làng Trí Bưu, cũng như vùng đất phía Tây đường Quang Trung, bên kia con hói lại thuộc làng Thạch Hãn.

Ranh giới đường xóm Heo là tương đối rõ hơn các vùng khác.

Thị xã Quảng Trị tuy nhỏ nhưng hoàn chỉnh, tương đối có đầy đủ phương tiện và nhu cầu như một thành phố văn minh Âu Mỹ thời bấy giờ:

-Trước tiên là khu hành chánh, gồm Tam Toà, dinh thự chánh sứ (tức là công sứ – Quan Tây cái trị của tỉnh), dinh Phó sứ, và các quan Tây.

-Khu quân sự gồm doanh trại lính Khố Xanh (lính địa phương) phía góc Đông Bắc thành cổ.

-Khu bệnh viện ở phía ngoài góc Đông Bắc thành cổ, kế phường Đệ Tứ, bên cạnh con Đường Giữa, sau nầy có tên là đường Trần Hưng Đạo. Bệnh viện tuy không lớn lắm, nhưng cũng “đa khoa”, nghĩa là có văn phòng, khu điều trị (bệnh nhân nằm điều trị), khu hộ sinh (mẹ tôi làm việc ở đây khoảng mười năm), khu “nhà thương điên” (bệnh tâm thần), và khu “isolé” (cách ly vì bệnh nan y như bệnh phung, bệnh lao…) (4)

-Khu trường học, gồm “Nha Học Chánh” và trường tiểu học (ở tỉnh lỵ và vài phủ huyện. Phần nhiều có trường sơ học)

  • Ty Kiểm Lâm (kiểm soát việc khai thác rừng)

-Ty Thương Chánh (kiểm soát và thâu thuế các loại hàng hoá, độc quyền bán thuốc phiện và rượu (công ty rượu Sica), và abatoire, lò mổ thịt heo bò. Thịt heo bò bán ở chợ phải được kiểm dịch để tránh tật bệnh cho dân chúng.

-Nhà Máy nước (vô tận nhà hoặc có fontaine công cộng).

-Nhà Máy Điện (đèn): Điện nhà, điện đường (công cộng) và công sở).

-Nhà Tế Bần. Nhờ vậy, thời Pháp thuộc không có người ăn mày nơi công cộng.

  • Ty (hay sờ không biết) “Cu-Lít” tức là Police, nói theo tiếng Tây, khoảng một chục ông “Cu lít”, do một ông đội Tây chỉ huy.

-Quan trọng và “dữ dằn” nhứt là Ty Mật Thám Tây (không có mật thám An-Nam, hay Công An của Nam Triều). Tuy nhiên, quan án sát của Nam Triều có nhà tù riêng). Bên cạnh Ty Mật Thám là Lao Xá, tức Nhà Tù của Tây.

-Vườn hoa công cộng, (cuối đường Nguyễn Hoàng, bên bờ sông và Nhà Máy Nước.

-Khu Thể Thao, có sân đá bóng và các phương tiện “nhảy dài, nhảy cao, chạy đua. Có đội bóng tròn Quảng Trị.

  • Hồi đó đã có “xẹc-Tây”, tức là Câu Lạc Bộ dành cho Tây, có sân. Tennis, bóng rỗ. Ngày “cách to ju-dết”, Tây ăn tiệc ở đây, và Tây đầm ôm nhau nhảy đầm.

Bên cạnh cảnh Tây đầm sung sướng nầy, tôi nghe có câu dồng dao:

“Một ngàn ba mươi vạn ông Tây,

Mụ ăn mày xách cái bị đi xin.”

để nói lên sự trái ngược của xã hội ta thời ấy.

Tôi không nhớ có Ty Thể Dục Thể Thao hay không, hay đến “thời kỳ Vệt Minh mới có.

-Không có hội âm nhạc, chỉ có đội “kèn Tây” của lính Khố  Xanh”

-Có lúc Tây tổ chức giải bơi lội và giải bơi thuyền ở Bến Sứ trên sông Thạch Hãn.

Vậy rồi thành phố ấy bị tàn phá những hai lần.

Lần thứ nhất xảy ra vào năm 1946, khi Hồ Chí Minh kêu gọi “toàn dân kháng chiến”, tức là làm theo Liên Xô, thực hiện “vườn không nhà trống”, đập phá hoàn toàn mọi công ốc, bệnh viện, trường học. …

Lần thứ hai là cuộc chiến năm 1972, hải pháo, đai bác, bom đạn làm cho một viên gạch cũng không còn nguyên.

Mấy chục năm sau, khi Tây không còn cái trị nước ta, cũng khó tìm lại được một thành phố được xây dựng hoàn chỉnh như vậy.

Chiến tranh trên sông Thạch Hãn

Chiến tranh đến với Quảng Trị khá sớm, sau khi Thế Giới Chiến Tranh thứ II bùng nổ không bao lâu.

Sau khi Nhật tấn công Mỹ ở Trân Châu Cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941, Mỹ bắt đầu phản công trên chiến trường Thái Bình Dương. Máy bay Mỹ oanh tạc, đánh sập tất cả những cái “cầu chung” (xe hơi và xe lửa  dùng chung) trên Quốc Lộ 1. Chẳng hạn câu Mỹ Chánh, cầu Quảng Trị đều bị đánh sập.

Hôm ấy nhằm ngày chủ nhật, một bọn con nít đang chơi đùa ở presau (nhà chơi) tại trường Tiêu Học Quảng Tri (École Primaire Élementaire de Quảngtri) thì nghe có tiếng nổ thật lớn. Anh Cả tôi (chừng 13 tuổi), nói: Bánh xe điện nổ. Hồi đó, xe hơi gọi là xe điện. Chúng tôi chạy ra sân, tới sát nha “ông Tây kiểm Lâm” ông nầy có xe điện, coi có phải bánh xe điện ông ta nổ không! Không thấy gì, lại chạy qua nhà ông Phó Sứ, nhà cụ Đốc Hy – kế nhà ông Phó Sứ. Hai nhà nầy đều có xe hơi. Cũng không thấy gì.

Một chốc thấy ông anh Cả tôi đi đâu về, nói: Cầu Ga bị tàu bay Mỹ thả bom sập rồi.  Chúng tôi ra nhau ra bờ sông, ngay trước cổng trường, ngó lên hướng núi, thấy cầu ga sập hai vài giữa xuống nước, trông giống như hình chữ V. Cầu ga có bốn vài, sập mất hai vài giữa. Xem như vậy, hôm đó là ngày đầu tiên chiến tranh đến với Quảng Trị. Tôi không nhớ là ngày nào. Xin đừng trách tui. Một thằng nhóc, chưa tới 5 tuổi để vô lớp năm, còn học lớp Đồng Ấu với Cô Hồ, làm sao nhớ ngày nào. Cỡ tuổi tôi, nhiều đưa còn nhớ Cô Hồ là cô giáo đầu đời. Trong số nầy, còn hai “thằng” còn sống giai là Phạm Hữu Nhân, hiện ở Texas và Lê Hữu Thăng đã cuốn gói về Việt Nam và tôi “vẫn còn sống đây”. Ba tay nầy có thể xem như “nhân chứng sống” cho ngày chiến tranh khơi mào ở Quảng Trị.

Thế rồi chiến tranh kéo dài ba mươi năm trên đầu dân tộc khốn khổ này để nay tôi đành sống kiếp lưu vong.

Cầu Ga bị phá sập 3 lần.

Hai lần sau là một lần vào năm 1946. Việt Minh phá sập cầu khi họ rút lui khỏi thành phố; Tây từ Huế tấn công ra.

Lần thứ ba là vào năm 1972, khi quân Cộng Sản xâm lược, vượt sông Bến Hải tấn công vào  Miền Nam VN,

Cầu Đông Hà, tuy không phải là cầu chung, nhưng cũng chung số phận như cầu Ga sông Thạch Hãn. Cả hai cầu xe hơi, xe lửa bị Việt Minh phá sập 1946. Năm 1947, Tây chi sửa lại cầu xe hơi, cầu xe lửa vẫn để nguyên, không sửa.

Sau Hiệp Định Geneva 1954, đường xe lửa thống nhất, tuy được tái lập, nhưng chỉ dài từ Saigon đến Đông Hà. Đông Hà ở bên nầy sông Hiếu Giang nên không cần phải nối lại cầu xe lửa. Thành ra, kể từ ngày cầu Đông Hà bị sập kéo dài tới 20 năm. Sau khi Cộng Sản chiếm Miền Nam, cầu mới được nối lại, thông đường tàu Nam Bắc Việt Nam.

&

Trong chiến tranh chống Pháp, Ba Lòng là chiến khu của Việt Minh. Nơi đây chiến cuộc xảy ra không nhiều vì Tây hành quân lên đó chỉ một lần vào năm 1948, không như trên đường số 9, vì là đường giao thông nối liền giữa Việt Nam và Lào. Trận Cam Lộ, trận Cùa, trận CaLu, Làng Vây, Khe Sanh nổi tiếng trong cả hai trận Chiến Tranh Đong Dương.

Con đường thủy đi qua Lào, thay cho Quốc Lộ 9

Nước Lào nằm bên kia dãy Trường Sơn, không có biển. Quốc Lộ 9, là con đường duy nhất và ngắn nhất để người Lào và hàng hóa quốc tế xuất nhập Lào bằng đường bộ. Không những vậy, hàng hóa xuất nhập cho tỉnh Vân Nam bên Tàu theo con đường từ Vân Nam xuống Lào rồi theo đường số 9 mà ra biển, cũng tiện lợi hơn là con đường từ Vân Nam xuống Quảng Đông, Quảng Tây.

Tuy nhiên, Quốc Lộ 9 chỉ là con đường bộ, sức vận chuyển hàng hoá bằng xe vận tải không cao. Hồi cuối thế kỷ 20, người ta đã nghĩ tới phương cách “mở rộng” con đường vận chuyển sang Lào.

Theo đó, người ta đã nghĩ tới cách mở rộng sông Hiếu Gìang thành sông bậc thang. Sông bậc thang Đông Hà có thể đưa ghe tàu lên đỉnh Trường Sơn. Từ đỉnh nầy, sông bậc thang Đông Hà nối liền với sông Sebang Phai (hay Sebang Hiên) bên phía Lào để đi dần xuống phía sông Cửu Long phía bên kia, coi như người ta có thể nối hai con sông, một sông bên phía nước ta, một sông bên phía Lào, để làm một con đường thủy, nối liên hai nước Lào Việt, ghe tàu qua lại được. Người ta chọn sông Đông Hà vì thượng nguồn sông nầy, ngang đèo Lao Bảo là điểm thấp nhất của rặng Trường Sơn. (Quí độc giả có thể đọc thêm bài “Gió Nam Non” cùng tác giả, cùng nói về hiện tượng nầy).

Mấy chục năm nay, không nghe người  ta bàn tới việc nầy nữa. Có phải công trình nầy quá vĩ đại và tốn kém nên không làm được, hay nhờ sự phát triển về đường hàng không – trọng lượng máy bay chuyên chở cao hơn nên kế hoạch nầy không còn hữu ích?

Ba Lòng và một vài buôn làng chung quanh là nơi Việt Minh dặt cơ quan kháng chiến trong chiến tranh chống Pháp 1946-54. Theo hiệp định Genève, Việt Minh ở Ba Lòng “tập kết” ra Bắc. Cũng năm 1955, lực lượng quân sự của Đảng Đại Việt (miền Trung), kéo nhau lên Ba Lòng chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm. Sau khi dẹp tan lực lượng chống đối nầy, chính quyền Miền Nam thành lập Quận Ba Lòng.

Sau năm 1960, Cộng Sản Bắc Việt phát động “chiếu cố miền Nam”, bắt đầu đem quân xâm lược VNCH, thì Ba Lòng trở thành “chướng ngại” trên đường tiến quân vào nam của Cộng Sản. Cộng Sản Bắc Việt phải “nhổ” cái chướng ngại nầy đi. Sau nhiều trận chiến kịch liệt, quận Ba Lòng phải rút đi, rồi dẹp bỏ. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa chỉ còn giữ được các quận Cam Lộ và quận Hương Hóa, nằm dọc theo Quốc Lộ 9 mà thôi.

&

“Ôi! Dòng Ô, vang chiều nay, trong khói sương buồn…”

Trên là câu hát về sông Ô Lâu, thời kỳ kháng chiến chống Pháp năm 1946-54. Tôi không rõ cơ quan Việt Minh nào đóng ở thương nguồn sông Ô Lâu.

Trong cuốn “The street without joy” (dịch ra tiếng Việt là “Con đương buồn thiu”), của một reporter nổi tiếng trong cả hai cuộc chiến tranh Đông Dương: Bernard Fall. Trong bài viết cùng tên với cuốn sách, tác giả viết về “trận Camarge”, người dân Quảng Trị gọi nôm na là “Trận Thanh Hương”, nói về việc Tây đem một lực lượng lớn nhằm ý đồ bao vây và tiêu diệt trung đoàn 101 Việt Minh ở vùng hạ lưu sông Ô Lâu, nhưng không thành công. Nhờ các kinh rạch chằng chịt ở cuối sông trong vùng phá Tam Giang nên lực lượng Việt Minh trốn thoát được, đi chuyển ngược lên thượng nguồn sông Ô Lâu. Tây không dám truy kích tới sào huyệt của Việt Minh. Lực lượng Tây không đủ mạnh.

Sông Mỹ Chánh không phải là ranh giới giữa hai tỉnh Quảng Trị – Thừa Thiên. Sông Mỹ Chánh chỉ là một phụ lưu của sông Ô Lâu. Chợ Mỹ Chánh, ở trên hữu ngạn sông Mỹ Chánh, tả ngạn sông Ô Lâu, còn ở trong lãnh địa tỉnh Quảng Trị.

Sông Ô Lâu, phía nam Mỹ Chánh khoảng hơn 5 km, là ranh giới hai tỉnh Quảng Trị  – Thừa Thiên. Thời cụ Ngô làm tổng thống, có bảng ghi rõ ở đầu cầu phía nam sông Ô Lâu, cầu đúc xi măng, dài chưa tới 50 mét, có bảng ghi rõ địa giới hai tỉnh.

Chợ Mỹ Chánh nằm gần một ngã ba sông: Chỗ sông Mỹ Chánh và sông Ô Lâu gặp nhau. Qua khỏi bến đò ở ngã ba sông nầy, là đi đọc theo bờ phải sông Ô Lâu, là đi dọc theo các làng Phước Tích (làng đôộc – độộc của ông bạn nối khố Lương Thúc Trình của tôi), làng Vân Trình (con gái nổi tiếng đẹp) là thuộc địa phận huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên.

Bên kia sông Ô Lâu là làng Lương Điền (làng cô giáo dạy văn hay như chim Sáo hót), làng Hưng Nhơn, (làng ông bạn Nguyễn Hữu Tuấn), làng Câu Nhi, làng Trung Đơn… thuộc phủ Hải Lăng tỉnh Quảng Trị.

Hạ lưu sông Ô Lâu là một cánh đồng lớn, đủ sức nuôi dân Quảng Trị?

Phụ lưu cuối  của sông Thạch Hãn, nằm về phía Nam là sông Nhùng – thường gọi sai là sông Giồng.

Phía nam sông Nhùng là một con sông nổi tiếng trong văn chương; sông Diên Trường. Câu hò như sau:

Trăm năm diều (x) nỗi hẹn hò

Cây đa bến cộ (x) con đò khác đưa.

Cây đa bến cộ (x) còn lưa (x)

Con đò đã thác (x) năm xưa tê (x) rồi.

Giải thích tư ngữ địa phương:

(x) diều = nhiều

(x) cộ = cũ

(x) còn lưa = còn lại

(x) thác = chết – tiếng Việt cổ

(x) tê: kia

Truyện kể:

Ngày xưa, cáo anh học trò từ miền ngoài vào kinh đô Huế để đi thi. Gặp cô lái đò đẹp, hai người yêu nhau, thề nguyền, thi đậu, anh sẽ cưới cô lái đò làm vợ.

Nhưng rồi hỏng thi, anh học trò buồn tình đi biệt!

Mấy năm sau, khi anh học trò về ngang lại bến sông, cô lái đò đã quên lời thề, “bỏ thuyền, bỏ lái, có lái đò kia đi lấy chồng.”  Anh học trò buông lời thề độc: Con đò đã thác.

Từ câu chuyên tình nầy, Nguyễn Bính làm bài thơ “Cô lái đò”

                        Xuân đã đem mong nhớ trở về,
Lòng cô gái ở bên sông kia.
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,
Trên bến cùng ai đã nặng thề.

Nhưng rồi người khách tình quân ấy,
Đi biệt không về… với bến sông.
Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi,
Mấy lần cô gái mỏi mòn trông.

Xuân này đến nữa đã ba xuân,
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần.
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi,
Cô đành lỗi ước với tình quân.

Bỏ thuyền, bỏ bến, bỏ dòng trong,
Cô lái đò kia đi lấy chồng.
Vắng bóng cô em từ dạo ấy,
Để buồn cho những khách sang sông

(Trích lại ở “Thi Viện”)

Bài thơ được Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc. Quý vị có thể tìm nghe trong Youtube.

Gọi sông Diên Trường là theo cách của người xưa vì ngày xưa, chưa có Quốc Lộ, được xây dựng sau khi Tây đô hộ nước ta.

Hồi ấy, người ta di chuyển theo “Con Đường Cái Quan”. Con đường nầy, nếu kể trong phạm vi phủ Hải Lăng là từ “thành cổ”, vào Diên Sanh, người ta đi theo ngã Qui Thiện, Ngô Xá. Từ Diên Sanh, theo con đường đất kế bên là con kinh nhỏ đi vào làng Diên Trường. Tại đây, có bến đò Diên Trường là nơi xảy ra câu chuyện tình nói trên. Trước chiến tranh, bến đò Diên Trường có cây đa rất lớn. Năm 1953, khi còn học ở Trường Trung Học Quảng Trị, sau nầy là trường Nguyễn Hoàng, tôi mới 14 tuổi, “đi theo chơi” với anh Trịnh Dũng Yên, thiếu úy, đang giữ chức vụ “chef sous secteur de Hailang”. Anh đi thanh tra đồn Diên Trường, do một ông trung sĩ già làm trưởng đồn. Ông trung sĩ trưởng đồn nói với tôi về “cây đa bến cộ” là ngay chỗ đồn của ông ta. Lúc ấy, bến đò đã dời lên phía trên.

Cũng trên con sông nầy, cầu trên Quốc Lộ 1 có tên là cầu Trường Sanh, tên sông được gọi là sông Trường Sanh. Cũng có khi người ta gọi là cầu Bến Đá. Cách cầu nầy không xa, phía thượng nguồn, là cầu xe lửa Trường Sanh; kế là ga xe lửa Trường Sanh.

Trong chiến tranh, Mỹ làm một Quốc Lộ mới, từ cầu Mỹ Chánh tới Long Hưng. Chiếc cầu qua sông Trường Sanh nầy được gọi là cầu Dài. “Đại Lộ Kinh Hoàng” là đoạn đường giữa cầu Dài và cầu Mỹ Chánh.

Đây là nỗi đau vô cùng to lớn; người dân Quảng Trị không bao giờ quên được, dù có hay không thân nhân bị tử nạn trong cuộc tàn sát ấy!

&

Những cái tên cũ thường để lại “dấu tích” trong những cái tên mới. Theo ông Thái Văn Kiểm, tên cũ Ma Linh của người Chàm ngày xưa, nay còn lại trong tên phủ Vĩnh Linh, huyện Gio Linh của Quảng Trị. Cũng theo ý kiến của học giả ấy, thì tên châu Ô nay còn lại ở sông Ô Lâu.

Theo cách suy nghĩ đó, một phần lớn đất của tỉnh Quảng Trị nằm giữa châu Ma Linh và châu Ô, tức là khoảng từ lưu vực sông Hiếu đến lưu vực sông Thạch Hãn và vùng phía Bắc sông Ô Lâu, thuộc châu Rí ngày xưa. Vì chữ Nho không có chữ Rí nên sách xưa phải viết thành là Lý. Nam Ô là phía nam châu Ô, tức tỉnh Thừa Thiên là đất châu Ô xưa.

Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dặm

                        Một gái thuyền quyên đáng mấy mươi.

Câu chuyện Huyền Trân Công Chúa từ giã người tình Trần Khắc Chân để về làm vợ ông vua già người Chàm tên là Chế Mân tôi có viết rồi. Hy vọng có bạn còn nhớ chuyện ấy, và cảm tạ một bà công chúa hy sinh đời mình để con cháu ngày sau có đất sinh sống.

Công ơn của Công Chúa Huyền Trân chúng ta không quên dù nay còn ở quê nhà hay lưu lạc phương xa. Có người lại muốn quên đi:

Châu Ô, châu Lý mà chi nữa!

                        Đất đã mang về nỗi biệt ly!

(Huy Phương)

“Biệt ly” là tại con cháu, sao lại trách cứ tiền nhân?!

Theo bản năng sinh tồn, trong cuộc di dân của tổ tiên đi về phương Nam, thường gọi là Nam Tiến, hễ đến nơi nào có nước, có đất là tổ tiên chúng ta định cư.

Cuộc định cư của lưu dân ngày trước tại Quảng Trị có lý do đặc biệt, ngoài những lý do chính là do lưu vực của ba con sông vừa nói ở trên, tổ tiên dân Quảng Trị còn liên hệ ít nhiều đến việc ông Nguyễn Hoàng lập nghiệp ở phương Nam và cuộc phân ly Nam – Bắc hồi thế kỷ 16, 17.

Lưu vực ba con sông nầy không lớn, lại còn bị cát trắng xâm thực. Bên kia cửa Tùng là vùng đất cao và núi, xa hơn nữa là “Truông Nhà Hồ”. Hữu Ngạn cửa Tùng là một vùng cát trắng của các làng Thủy Bạn, Cát Sơn, An Mỹ. Từ ngã ba sông Hiếu gặp sông Thạch Hãn lại là vùng cát trắng Tường Vân, cửa Việt. Bởi vậy Phạm Duy mới viết về Quảng Trị “Có những cánh đồng cát dài” khi ông đến Quảng Trị năm 1948 trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1946-54. Vùng cát trắng nầy kéo dài tới Chợ Cạn, Đồng Bào, Liên Chiểu và Mỹ Thủy của vùng hạ lưu sông Ô Lâu. Hết cát trắng thì tới vùng đầm lầy ở Phá Tam Giang mà Bernard Fall mô tả trong cuốn sách “The Street Without Joy” nằm phía đông Con Đường Cái Quan của phủ Hải Lăng.

Vùng “trung châu” của các con sông nầy, tức là vùng đất cao phía Tây Quốc Lộ 1, thiếu nước, đất hoang, trồng khoai, trồng sắn sản lượng cũng thấp, nói chi tới lúa gạo. Đây là vùng đồi, cây sim, cây mua mới mọc được.

Vùng nầy dài mênh mông từ Phò Trạch, phía Nam sông Ô Lâu, kéo dài tới Gio Linh, Vĩnh Linh và ra tới Thanh Nghệ Tĩnh. Về mùa xuân hoa sim, hoa mua màu tím nở đầy tràn, khiến nhà thơ Hữu Loan viết những câu thơ đầy xúc cảm:

                        Qua những đồi sim

                        Những đồi hoa sim

                        Màu tím hoa sim

                        Tím cả chiều hoang biền biệt!

Người dân quê “Quảng Trị tui” lãng mạn và tình nghĩa không kém chi:

                        Đói lòng ăn nửa trái sim

                        Uống lưng bát nước đi tìm người thương!

Đói bụng mà ăn sim thì xót ruột. Thế mà cũng phải ăn. Ăn nửa trái, để dành nửa trái cho người mình thương. Một nửa bát nước cũng để dành cho người ấy…

Tôi từng đi lang thang lên vùng Phước Môn, Như Lệ, An Đôn, Ái Tử, vùng hai bên bờ sông Thạch Hãn và bắt chước người xưa mà hát thầm:

“Áo anh sứt chỉ đường tà…”

Nói là “sứt” thay vì “đứt” cho đúng thổ ngữ Trị Thiên….

Giữa tháng 3/ 2018

hoànglonghải

  • Nhà văn Vũ Anh Khanh, tác giả bộ tiểu thuyết “Nửa bồ xương khô” (trong đó có bài thơ nổi tiếng Hận Tha La), bị Cộng Sản bắn chết ở Bến Tắt, thượng nguồn sông Bến Hải.

(2) Bài nầy viết về sông Thạch Hãn, nên không bàn nhiều về núi Mai Lĩnh. Độc già có thể tìm thêm về “núi Mai Lĩnh” trên Google.

(3) Lê Duẫn quê ở làng Trung Kiên. Thật ra, quê của ông là làng Bích La Đông. Vì nghề nghiệp, thân phụ ông phải qua hành nghề ở Trung Kiên. Lê Duẫn chỉ là người lớn lên ở Trung Kiên.

(4) Bác sĩ Phan Văn Hy tốt nghiệp Y Sĩ Đông Dương (médecin Indochinoise) năm 1915, khi ông làm giám đốc bệnh viện nầy, ông mở nhiều khoá đào tạo y tá và hộ sinh. Các “thầy” tốt nghiệp khóa nầy gồm thầy Liễn, thầy Song, thầy Kế, thầy Bàng (về sau mua chức “thị độc” của triều Nguyễn nên gọi là Thị Bàng)… Thân phụ HPNT, tuy con nhà quan nhưng “lỡ thì”, chữ Nho không giỏi, triều đình lại bỏ thi nên không ra làm quan được, chữ Quốc Ngữ cũng mới “bập bẹ”, đành học y tá, một đời bất mãn vì con nhà “dòng dõi” mà không được làm quan như cha, ông. Các con ông học được cái tính bất mãn thời thế như ông ta vậy, mặc dù gia đình nầy có làm quan nên cũng giàu có, sung sướng… không nghèo đói bao giờ như đồng bào làng Bích Khê, quê ông./

Đã xem 6305 lần

Chúng tôi nhận thiết kế website hoặc hướng dẫn tạo website riêng với giá phải chăng.
Xin liên lạc Email: baotoquoc@hotmail.com

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.