Chuẩn bị cho ngày đi bầu!

Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 1960 khi ấy tôi đã 23 tuổi, đã đi dạy ở Huế. Sau ngày bỏ phiếu một hôm, buổi sáng, trên đường đi tới trường, tôi ghé vào Chaffanjon, trên góc đường Lý Thái Tổ và Lý Thường Kiệt (tên hồi ấy), chỗ có phòng Thông Tin Hoa Kỳ để xem kết quả bầu cử như thế nào.

Không riêng gì tôi mà các bạn đồng nghiệp của tôi nữa, phần đông còn trẻ, lớn tuổi hơn tôi không nhiều, đều mong cho ông Kennedy đắc cử!

Tại sao?

Bấy giờ đảng Cộng Hòa bết bát lắm, không nhiều người thích. Bên Cộng Hòa, tranh chức tổng thống là ông Nixon, là phó của tổng thống Eisenhower. Tôi không nhớ ai đứng phó. Bên phía Dân Chủ, người đứng phó là ông Johnson, người không tán thành việc dùng B-29 bỏ bom ở Điện Biên Phủ cứu quân Pháp đang bị vây khổn ở đây.

Phải thành thật mà nói, mặc dù miền Nam lúc ông Ngô Đình Diệm đã về nước cầm quyền, ưa hay không ưa, trong lòng những người thiên tả ở Huế, còn “hoài” kháng chiến với mục đích chống Pháp giành độc lập, nên cũng “thiên” ít nhiều về việc để cho Tây thua ở Điện Biên Phủ. Mối hận Tây xâm lược nước ta cũng còn nặng nề. Cũng từ đó, người ta hoan hô rất dữ việc tổng thống Ngô Đình Diệm đuổi Tây về nước vào năm sau (1955).

Ngoài lý do vừa nói, giới trẻ VN thời bấy giờ, dĩ nhiên có tôi trong đó, “ưa” ông Kennedy vì ông là người có tài hùng biện, còn trẻ, khi ra tranh chức tổng thống, ông mới có 43 tuổi. Ông ta cũng “đẹp trai” – điều ăn khách hồi bấy giờ. Bên cạnh đó, ông Eisenhower gặp nhiều thất bại mặc dù ông là đại tướng nổi tiếng “người hùng” mặt trận châu Âu trong Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai, giải cứu nước Pháp, đánh bại nước Đức.

Ngoài ra, chúng tôi – phải nói là chúng tôi cho đúng sự thực – chẳng biết mô tê gì nhiều về chính sách, đường lối… của hai đảng chính trị lớn của Mỹ cả.

Báo chí Saigon hồi đó nói hai đảng chính trị Mỹ giống như hai cái chân của một con người. Muốn đi đứng cho vững thì hai cái chân đó phải mạnh như nhau. Từ cuộc khủng hoảng kinh tế thập niên 1930, hai cái chân nầy mạnh khỏe không đều, một chân yếu, một chân mạnh. Có người “cương” thêm: “Eisenhower là tổng thống cuối cùng của đảng Cộng Hòa” cũng như về sau, sau thất bại của Mỹ ở Việt Nam, người ta cũng nói tổng thống Ford như thế.

Kể từ khi tổng thống Herbert Hoover (1929 – 1933) không giải quyết được nạn “Kinh tế khủng hoảng” mà rớt chức thì ông Franklin Roosevelt lên. Ông nầy là tổng thống giỏi, đã phục hồi kinh tế, lại lãnh đạo nước Mỹ thắng lợi cuộc thế chiến hồi ấy, đắc cử tới ba nhiêm kỳ, lại qua đời khi đang còn tại chức của nhiệm kỳ thứ tư, (tháng 4 năm 1945). Khi ông mất, nhiều người Mỹ khóc; chắc không giống như người Bắc Triều Tiên khóc Kim Nhật Thành hay Kim Chính Nhất, người Tàu khóc Mao, người Bắc kỳ khóc “bác” Hồ  hay “Tố Hữu khóc Xít-Ta-Lin” đâu!

Với một tổng thống tài ba như thế, đảng Cộng Hòa còn ngo ngoe gì được. Vì vậy, khi tướng Eisenhower ra tranh chức tổng thống, các “chuyên gia ngồi phía sau điên Capitol” mới khuyên ông tướng nên tranh cử dưới danh nghĩa đảng Cọng Hòa, để phục hồi cho đảng nầy mạnh lên, để nước Mỹ được hai chân bước đều nhau.

Ông tướng đánh giặc thì giỏi, nhưng làm chính trị thì yếu xìu, nước Mỹ yếu đi, thua kém Liên Xô khi Liên Xô pjóng vệ tinh Sputnik năm 1957. Tổng thống Eisenhower bị thủ tướng Liên Xô Khrushchev mắng vào mặt tại diễn đàn Liên Hợp Quốc  trong vụ chiếc máy bay do thám U-2 bị bắn rơi ở Nga Xô, v.v và v.v…

Khrushchev lại rút giày gõ lên mặt bàn trong một buổi họp Đại Hội Đồng LHQ mà chẳng ai làm gì được mà Mỹ cũng im re!

Đó là chuyện cũ!

Bây giờ, không còn là ở Việt Nam theo dõi cuộc bầu cử ở Mỹ như gần sáu mươi năm trước mà câu chuyện đi xa hơn, ngoài sức tưởng tượng: Tôi và quí độc giả sẽ di bầu vào tháng 11 nầy.

Tại sao đi bầu?

“Báo + Đài” (nói theo “danh từ Việt Cộng”) trả lời quá nhiều về câu hỏi nầy! nói lại nghe cũng nhảm. Chỉ về mặt tình cảm thôi, tôi thấy “sướng” khi đi bầu ở Mỹ.

Nếu so sánh với Miền Nam VN, – dưới chế độ Việt Cộng – tôi chưa từng “được” đi bầu – thời “Cụ Ngô” cũng như thời tổng thống Thiệu, đi bầu đâu có như ở Mỹ.

Cuộc “Trưng Cầu Dân Ý” 23 tháng 10 1955, “truất phế Bảo Đại” thì người dân đã được dạy cho câu thiệu “Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì”. Còn như “bầu cử (thì) gian lận” như tôi từng kể trong cuốn “Viết Về Huế 2” khi tôi làm thư ký cho phòng phiếu ở phường tôi. Thấy rõ là gian mà không “dám” nói, sợ Công An. Đó là ở ngay thị xã Quảng Trị”, còn như ở nhà quê thì chính quyền xã “múa” như thế nào cũng xong. Ai làm gì họ?

Thời ông Thiệu thì “vì lý do an ninh” nên thùng phiếu từ quận được tạp trung về tỉnh, lấy kết quả chung cho cả tỉnh, “báo cáo về trung ương”. Từ quận về tỉnh phải chuyển bằng trực thăng, đường bộ đi không được, không tiện – có thể Việt Cộng “cướp thùng phiếu phá hoại bầu cử”. Trực thăng thì không chở được nhiều người. Người “đại diện cho đối lập” cũng không được lên trực thăng vì “lý do trên”. Vì vậy, trên chiếc trự thăng “toàn là phe ta” nên “đổi thùng phiếu”, “thay lá phiếu” hoặc “thêm lá phiếu” muốn gì làm nấy, mặc sức. Bấy giờ thì không như hồi “Cụ Ngô”, “làm quá, tỷ lệ đắc cử quá cao, coi kỳ lắm!” Thấy “kỳ” thế cũng là còn lương tâm đấy! Người miền Nam mà!

Ở Mỹ, lần đầu tiên, tôi và nhà tôi đi bỏ phiếu. Nhà tôi băn khoăn hỏi: “Họ – tức là người coi phòng bỏ phiếu – có kỳ thị không anh?” Tôi cười: “Dám! Có chi tụi nó để trong bụng, không dám lộ ra. Mình thưa chết”.

Tất cả các lần đi bầu, người Mỹ, từ anh police gác cửa cho tới nhân viên bên trong phòng, ai ai cũng vui vẻ, có người còn đứng lên bắt tay nữa đấy. Họ mừng mình là “công dân Mỹ đấy”. Thanh ra, lần nào đi bỏ phiếu về, chúng tôi đều thấy lòng thanh thản và vui và đưa nhau đi ăn… phở. Tại sao mình không nắm lấy một điều vui!

Không có điều gì không vui sao?

Có chứ!

Nước Mỹ là “nước khoa học”, việc gì cũng có kế hoạch, có tổ chức và rất khoa học. Thành thử, trên con “đường đi tới” của nước Mỹ, không bao giờ “phải chăng hay chớ” – nói như kiểu Hồ Chí Minh, “biết cũng làm, không biết cũng cứ làm. Có làm tự khắc biết”. Nói như thế là đem đất nước, đem dân tộc ra làm thí nghiệm. Thí nghiệm trật thì làm lại. Nắm vận mệnh mọt dân tộc mà làm như thế thì “chết cha dân tộc nầy rồi”.

Người Mỹ họ không làm như thế. Họ chia ra từng lãnh vực như kinh tế, giáo dục, quân sự, chính trị….  Trong mỗi ngành như thế đều có chuyên viên (thượng thặng) vạch ra con đường đi tới: Năm (5) năm nữa, kinh tế đi tới đâu? Mười (10) năm nữa, đi tới đâu. Hai ba chục năm (20, 30) nữa đi tới đâu, đâu có nhắm mà đi mò được.

Thành ra ông tổng thống Mỹ làm gì khi mà con đường đi tới của nước Mỹ đã có các chuyên viên (thượng thặng, có khi người ta gọi là “bộ óc của nước Mỹ”, những người “ngồi ở phía sau điện Capitol” vạch ra rồi).

Hồi trước, tôi cứ tưởng ông tổng thống Mỹ là to lắm, khác chi ông vua ngày xưa. Bỗng một năm, ông giám đốc mà cũng là thầy giáo cũ của tôi, đang làm hiệu trưởng trường tôi dạy, đi “du hành quan sát” Mỹ về, các giáo sư họp lại hỏi chuyện ông, ông nói – sau khi nói “năm điều ba chuyện” về “xứ Mỹ văn minh”, ông bỗng nói với mấy giáo sư trẻ chúng tôi: “Các cậu tưởng tổng thống Mỹ là quyền lắm à! Không! Ông ta chỉ là “tham mưu trưởng” mà thôi!” Có anh bạn hỏi: “Thầy nghĩ “tư lệnh” là ai?” “Là ai thì đâu có biết! Họ là những người tài giỏi cả đấy, chuyên gia, giáo sư đại học và những người nắm quyền lợi của nước Mỹ. Quyền lợi của họ là quyền lợi của nước Mỹ. Đó là những tập đoàn tài chánh ở Manhattan!”

Chính “đường lối của nước Mỹ” – chớ không phải là một người nào cả – chọn ông “tham mưu trưởng” để thi hành đường lối đó! Giai đoạn nầy, khi người ta cần làm công việc gì thì sẽ chọn ông “tham mưu trưởng” (tổng thống) nào. Tới giai đoạn khác, đường lối phải chỉnh sửa hay thay đổi như thế nào đó… thì phải chọn ông “tham mưu trưởng” (tổng thống) khác. Vân vân và vân vân…

Quyền lợi nước Mỹ là trên hết. Phải phục vụ cho quyền lợi đó, bởi như đã nói ở trên, quyền lợi của các “tập đoàn tài chánh” là quyền lợi nước Mỹ. Giả như nước Mỹ mà sụp đổ thì quyền lợi của các tập đoàn tài chánh cũng sụp đổ theo. Không có cách nào khác.

Quyền lợi lớn nhất của các tập đoàn tài chánh “tập trung” ở hai lãnh vực: Dầu hỏa và vũ khí (buôn bán, sản xuất). Nguồn lợi của hai cái nầy lớn lắm cho nên việc sản xuất và buôn bán dầu lửa cũng như “gây chiến tranh để buôn bán vũ khí” là việc tranh giành giữa các tập đoàn tài chánh, và gây chiến tranh cũng là vì lý do đó.

Ngay như nước Việt Nam cũng là nạn nhân của việc tranh giành dầu lửa.

Năm 1974, tôi từ Hà Tiên về Cần Thơ, tình cờ gặp một ông chủ cây xăng quen, mời đi ăn cơm. Hôm đó, trong bàn ăn, có thêm một ông “thanh tra của hãng Shell” ở Saigon đi công tác ở Cần Thơ. Sau khi tôi hỏi thăm về một người học trò cũ, anh Lý gia T., đậu kỹ sư ở Úc về, đang làm cho Shell ở Saigon, thì ông thanh tra báo thêm một tin vui: Hãng Shell đã mở champagne ăn mừng vì họ đã tìm thấy dầu ở mỏ thăm dò Bông Hồng hay Trái Dừa gì đó. Hôm sau, tôi về Saigon, lại gặp một người bạn đồng nghiệp cũ, đang làm chuyên viên trong Phủ Đầu Rồng, tôi bèn kể chuyện “uống Champagne ăn mừng tối hôm qua. Anh bạn bèn phán một câu tôi cũng lạnh giò: “Mừng gì! Tai họa đó! Tư Bản, Cộng Sản xúm nhau vô tranh dầu thì chết dân mình mà thôi.”

Hai năm sau, khi vô tù “cải tạo” rồi, tình cờ đọc một bài báo trên tờ Tin Sáng (do nhà tôi gởi lén vào cho tôi, giả làm giấy gói đồ thăm nuôi), có một đoạn nói về một chuyên gia dầu lửa Mỹ, đến VN hồi năm 1974, nói đại khái là có dầu lửa rồi thì phải chấm dứt chiến tranh. Dầu bơm lên thì phải có bể chứa xây ở Vũng Tầu mà một gói mìn plastic vài ký lô cũng làm cho Mỹ “cháy” hàng trăm triệu dolla dễ như không” Chấm dứt chiến tranh kiểu Mỹ thì hàng triệu người miền Nam vô tù ngồi, v.v…

Người Mỹ, khi bắt tay với Tầu Cộng, chấm dứt chiến tranh Đông Dương, có suy nghĩ gì tới vấn đề nầy hay không?

Ngày nay, khi đọc những bản tin về các nước có tiềm năng dầu lửa lớn, tôi vẫn thường suy nghĩ theo cách của một nhà báo, không theo cách nhìn của những chuyên gia kinh tế, chúng ta thấy gì về số phận Venezuela, về Iraq, về Iran, về Arabie Saoudite… Nước nào đi chung đường với Mỹ thi an toàn phát triển; nước nào đi ngược thì tan nát, đói nghèo, “chết đói trên các giếng dầu”. Thế lực của tập đoàn dầu lửa Mỹ mạnh đến như thế nào? Ngay trong khi Thế Giới Chiên Tranh thứ hai đang xảy ra, người Mỹ đã đến Riyad, thủ đô Arabie Saoudite để bàn chuyện khai thác dầu lửa ở xứ nầy rồi. Đọc “Bí mật dầu lửa” của Nguyễn Hiến Lê, quý độc giả biết rõ hơn.

Trở lại việc đi bầu. Câu chuyện không phải là cá nhơn một ông nào ra tranh chức tổng thống hay nghị sĩ (senator), dân biểu (congressman). Có thể có ông xấu, ông tốt, ông có tài, ông bất tài, ông hy sinh làm việc chung hay lợi dụng chức vụ mà kiếm lợi riêng như lo cho business của mình, “độc quyền bán xăng” cho quân đội Mỹ ở Iraq thời ông Bush làm tổng thống chẳng hạn. Mấu chốt là đường lối của mỗi đảng, Cộng Hòa hay Dân Chủ. Mục dích cuối cùng là “quyền lợi của nước Mỹ”.

Theo cách nhìn chung chung là “cấp tiến” hay “bảo thủ”. Đảng Dân Chủ thường có đường lối là cấp tiến và Cộng Hòa thì thường là bảo thủ.

Theo cách nhìn của anh em chúng tôi trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ hồi năm 1960, thì chúng tôi ưa đảng Dân Chủ hơn. Ngoài những lý do như tôi đã trình bày (theo theo ngôn ngữ Việt Cộng là “chia xẻ” hoặc “xẻ chia”) ở trên thì đường lối cấp tiến có “quan tâm” đến các nước nhược tiểu trên thế giới. Nam VN bấy giờ là nước đã nhỏ lại nghèo, lập quan hệ với nước Mỹ do đảng Dân Chủ cầm quyền thì họ quan tâm đến “nước mình” nhiều hơn, “Mỹ quốc viện trợ” nhiều hơn, dân tình đỡ khổ mà việc “kiến thiết đất nước” của “Cụ Ngô” cũng có nhiều thuận lợi.

Bây giờ, chúng ta đang sống ở Mỹ thì “quyền lợi” của chúng ta nhiều hơn: Quyền lợi của các chủng tộc ít người, quyền lợi của người tỵ nạn chính trị, của người di dân, hưu bỗng, trợ cấp, bệnh hoạn, thất nghiệp… Và cũng còn một điều quan trọng: Đóng góp trực tiếp hay gián tiếp cho đồng bào ở quê nhà. Nếu chúng ta tìm tòi thì cũng còn nhiều điều lắm đấy. Ngược lại, chúng ta đến Mỹ, từng đi làm, từng đóng thuế…

Nếu như một đảng có đường lối “co cụm”, quyền lợi của nhiều nhóm chủng tộc sẽ bất lợi hơn nhiều. Nhiều khi quyền lợi của họ (và chúng ta nữa) bị các dân cử coi thường, bỏ qua; thậm chí họ cũng thiếu tôn trọng các cử tri không có “mắt xanh mũi lõ” nữa đấy.

Cũng may, ở Mỹ, các người “đại diện cho dân” là do dân bầu, không theo phương cách “đảng cử dân bầu” nên người đắc cử phải “phục vụ”, đấu tranh, “giành quyền lợi” cho người “bầu ra họ”, chớ không phải người “cử ra họ”.

Có người bạn cho biết: anh ấy sẽ đi bầu, không “sai hẹn”, nhưng sẽ không theo đảng nào hết. Ai “hay” thì bầu. Hay, theo anh, là biết “lo cho quyền lợi chung”, “quyền lợi riêng”. Chung là cho nước Mỹ, riêng là cho địa phương của anh, cho cộng đồng thiểu số người Việt của anh. Tôi nghĩ điều đó đúng, nhưng cần phải nhấn mạnh thêm một điều. Ở các nước nhược tiểu, lạc hậu, thiếu dân chủ, người ra ứng cử một chức vụ gì, dù là chức nhỏ ở địa phương hay cấp “lãnh đạo quốc gia” là người ta đi tìm cái LỢI hơn là cái DANH. Cầm quyền ít lâu, ai nấy đều giàu. Quyền đẻ ra tiền”.  Ở nước Mỹ thì ngược lại. Không ai ra ứng cử tổng thống, nghị sĩ, dân biểu, thống đốc… để làm giàu. Người ta muốn đi tìm cái DANH hơn là cái LỢI. Khi một người ra làm tổng thống để “có lợi” cho công việc kinh doanh của mình, là “nước Mỹ tới hồi mạt vận” rồi đấy. Có lắm người, khi giữ một chức vụ nào đó trong các công ty, nhất là ở những công ty quốc tế, lương tiền của họ cao hơn gấp nhiều lần khi họ giữ một chức vụ công cử.

John Kennedy, Robert Kennedy, Reagan trở thành những người danh tiếng là vì họ là những người “phục vụ” cho nước Mỹ. dân tộc Mỹ cả đấy.

Trong viễn tượng phục vụ cho quyền lợi đất nước, người Mỹ không cần phải trung thành với đảng của họ. Người ta có thể “bỏ đảng nầy sang đảng kia” hay “ứng cử tự do”, không cần phải “dưới ngọn cờ” của đảng nào hết.

Việt Nam thì khác. Trước 1945, bỏ đảng hay phản đảng có khi có nghĩa là “theo Tây” cho nên người phản đảng có thể bi tử hình. Thời kỳ ấy, trong nội bộ Quốc Dân Đảng cũng có người bị giết vì “phản đảng theo Tây”. Năm 1945, sau khi “Việt Minh cướp chính quyền” (danh từ hồi đó), tại quê tôi, thị xã Quảng Trị, “chính quyền Việt Minh” đã xử bắn bà Trần Thị Biền về tội “phản đảng”, mặc dù bà là em gái ông Trần Công Khanh đang giữ chức “chủ tịch ủy ban hành chánh Trung Bộ” (mới cướp chính quyền, chưa có danh xưng “ủy ban hành chánh kháng chiến”).

“Phản đảng” phải là tội theo Tây, còn như bỏ đảng nầy, qua đảng kia cũng được xem như vô tội. Ông Trần Huy Liệu, ông Trần Hữu Dực gốc là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, khi vô tù, được các đảng viên Cộng Sản “tuyên truyền giác ngộ” nên bỏ Quốc Dân Đảng mà vô Cộng Sản, chẳng bị kết tội gì hết. Tuy nhiên, với Cộng Sản thì ngược lại, bỏ đảng Công Sản mà gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng hay Đại Việt Quốc Dân Đảng đều bị coi là phản đảng, và bị tử hình. Thế Lữ theo Cộng Sản, nhưng vì có hoạt động văn nghệ, “quan hệ tích cực” với nhóm Tự Lực Văn Đoàn, tuy vẫn không bỏ đảng, đã bị Cộng Sản tìm cách giết. May cho ông, sau tháng 8/ 1945, ông nhanh chân chạy trốn khỏi Huế, ra Quảng Bình rồi ra Bắc, không thì bị đám Cộng Sản Huế như Tố Hữu, Tôn Quang Phiệt, Trần Hữu Dực cho đi “mò tôm” rồi. Sở dĩ Cộng Sản có hành động như thế là vì họ coi “quyền lợi đảng” là trên hết. Đảng đứng trên Tổ Quốc, chờ không phải “Tổ Quốc trên hết” như đảng phái tự do hay các quốc gia tự do.

Ở Mỹ thì người ta coi đảng như là “một phương tiện” để phục vụ đất nước, chớ không có việc “phục vụ đảng” như Cộng Sản, lại càng không có “đem đất nước phục vụ đảng” như Cộng Sản Việt Nam.

Ở Mỹ cũng như ở các nước dân chủ, tự do thật sự, người ứng cử cần có đảng phái ở phía sau họ. Đảng là cái “bệ phóng” để được đắc cử, và sự nghiệp chính trị của họ càng ngày càng đi lên. Ví dụ: Từ dân biểu tiểu bang, nhờ đảng, họ đi dần lên dân biểu liên bang, rồi lên thượng nghị sĩ, thống đốc, phó rồi tổng thống. Đó là con đường hy vọng, nhưng không phải ai cũng suôn sẻ như thế.

Khi đi bầu, theo quan điểm của người miền Nam Việt Nam trước 1975, người ta chọn người ứng cử viên phải có TÀI có ĐỨC. ĐỨC TÀI là tiểu chuẩn căn bản. Đơn giản thì Tài là người có khả năng hoàn thành tốt đẹp công việc, hay quyền chỉ huy, lãnh đạo, kể cả lãnh đạo đất nước.

Về Đức, có hai tiêu chuẩn. Xưa thì người có Đức là người có lòng thương, giúp đỡ, lo lắng cho người khác. Thời Ngô Đình Diệm, có bài thi vào trường Quốc Gia Hành Chánh (đào tạo cán bộ cai trị cấp cao, hạng A) hỏi thí sinh: “Nhân trị hay Đức trị?” Nhân trị là lấy người trị người, bằng Công An hay Quân Đội, là cai trị bằng vũ lực, đàn áp, đánh đập, tù tội và kể cả giết chóc (xử tử).

Đức trị là cách cai trị của ông vua ngày xưa. Vua thấy dân đói rét mà thương, khổ sở mà giúp đỡ, tha thuế, không bắt dân làm việc cực nhọc, nói gọn là không phải “sưu cao thuế nặng”. “Thấy dân đói rét nghĩ mà thương…” (Người dệt cửi – Lê Thánh Tông). Đó là cái tiêu chuẩn Đức Trị mà ông Ngô Đình Diệm muốn áp dụng khi ông làm tổng thống. Điều nầy khá dễ hiểu vì ông Ngô Đình Diệm xuất thân từ “Cửa Khổng, sân Trình).

Đây là một triết lý siêu hình. Đời bây giờ người ta thực tế hơn. Thay vì nói về Đức, người ta nhìn vào tư cách, tác phong, giáo dục, văn hóa… của ứng cử viên, kể cả mỵ dân. Người ta thực tế đến mức độ nói năng lung tung cũng được, tiền hậu bất nhất cũng được, lá mặt lá trái cũng được… miễn sao “kinh tế lên”, công ăn việc làm nhiều, lương tiền cao, giảm thuế, đời sống dễ dàng…

Sinh hoạt cộng dồng, xã hội và đất nước càng ngày càng phức tạp, khó hiểu cho nên việc chọn ứng cử viên càng khó khăn bởi vì nhiều sự việc vượt ra khỏi tầm kiến thức phổ thông của cử tri. Vì vậy, trong một vài lãnh vực chuyên môn, người ta cần phải nghe, tìm hiểu các chuyên gia nói gì, giải thích như thế nào. Các chuyên gia nhiều khi có lập trường quan điểm không giống nhau, có khi trái ngược nhau. Trong viễn tượng đó, khi cầm lá phiếu để chọn người lãnh đạo xứ sở đất nước, như thống đốc, tổng thống khó khăn như thế nào! Dư luận không thể hướng dẫn người ta chọn ứng cử viên được.

hoànglonghải

15/ tháng 10/ 2018

Đã xem 4157 lần

Chúng tôi nhận thiết kế website hoặc hướng dẫn tạo website riêng với giá phải chăng.
Xin liên lạc Email: baotoquoc@hotmail.com

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.