Sau khi khóa cánh cửa ra vào bằng một ống khóa to bản, Bảng kẹp cái mũ cối vào bên hông, bước vội ra đường. Trên đường về, Bảng gặp khá nhiều người qua lại. Họ là những người cùng trong lối xóm, nhưng không có mấy người buồn lên tiếng chào hỏi Bảng. Sự kiện im lặng, gặp nhau không thèm lên tiếng chào hỏi này phải được coi là một trong những điều bất thường, trái ngược với nếp sống đơn thuần, cởi mở ở thôn quê. Lúc đầu Bảng rất bực mình, nhưng riết rồi nó trở thành một thói quen, Bảng không bận tâm nữa.

Về gần đến đầu ngõ, Bảng nhìn thấy hai người đứng to nhỏ với nhau bên đầu hè, gần chỗ đặt cái chum đựng nước uống. Đây chính là hai người đàn bà đã ghi đậm nét trong đời Bảng. Một người gã thương nhất, và một người gã thù nhất. Người gã thương nhất là Nụ, vợ gã. Còn người đàn bà bị ghét bỏ kia là bà phó Ba.

Bà phó Ba, tên gọi hình dung vị trí của bà. Gọi riết nó trở thành cái tên chính thức, còn cái tên thật của bà là gì, ít người nhớ. Bà phó Ba là cô ruột của Nụ. Khi còn trẻ bà là một người có nhan sắc, xinh đẹp nổi tiếng ở Xuân Thủy. Vì phận nhà nghèo và vì mấy mẫu ruộng, bà phải cam chịu cảnh gả ép, làm lẽ mọn hàng thứ ba cho một tay phú hào ở phủ Xuân Trường.

Sau khi nhận lời làm vợ lẽ hàng thứ ba cho ông phú Lộc, bà phó Ba lại nổi đình nổi đám hơn xưa. Bà nổi hẳn lên vì nhờ có hai loại vũ khí sắc bén trong tay. Lợi thế thứ nhất, bà là người vợ trẻ và có nhan sắc, nên rất được lòng ông phú Lộc yêu thương nể vì. Vũ khí thứ hai, ông phú Lộc đã trao quyền cai quản hơn chục mẫu ruộng cấy lúa, và tám dàn trâu cày ở Xuân Thủy vào tay bà.

Từ đó, bà thay mặt ông trực tiếp giao dịch với nông dân, tá điền trong vùng. Cũng từ đó, nhiều hộ ở Xuân Thủy, đặc biệt là thôn Đông, đều có hàm ân riêng với bà. Khi thì mượn lúa vay gạo. Lúc thuê trâu, mướn ruộng ăn chia làm rẽ. Dĩ nhiên, chả khi nào bà phó Ba cho thuê, cho mướn mà quên tính lời. Tuy thế, người nghèo trong vùng vẫn thích giao dịch với bà hơn là phải nói chuyện với người quản gia cũ của ông phú Lộc.

Thật không may cho bà phó, vào giữa lúc tên bà như ánh sao nổi lên ở Xuân Thủy thì cũng chính là lúc xuất hiện một tay chơi không thua bà, tên là Hồ Quang, được Đặng văn Khu chỉ điểm, đưa về Xuân Trường kiếm ăn. Việc trước tiên, gã cho đàn em đến… mượn đỡ của ông phú Lộc hai con bò và dăm tạ gạo, gọi là góp công góp sức cho kháng chiến. Mấy hôm sau, chiến thắng chưa có. Vẹm lại cho người đem sổ đến tính thuế trên tài sản của ông phú Lộc. Bà phó Ba tức uất, không thèm trả lời. Vẹm cũng không vừa, nửa đêm chúng hô dân công đến cướp hết kho thóc của ông phú Lộc. Đã thế, chúng còn mượn luôn mấy chiếc xe và dàn trâu, bò của ông kéo đi cho tiện. Đến sáng, ông phú đi trình quan thì đã muộn.

Sau chuyến ăn hàng của Vẹm, ông phú Lộc đã buồn càng buồn thêm. Kịp đến lúc chúng hò hét trở về sau ngày Điện Biên. Gà vịt, heo bò của ông lại được dịp lìa đời vì Vẹm say men chiến thắng. Chúng tự cho mình có đủ quyền hành để lôi heo, bò của ông phú Lộc ra mổ bụng đánh chén cho bõ những ngày lao khổ. Trước cảnh chướng tai gai mắt ấy, ông phú Lộc đã quyết một phen lành làm gáo vỡ làm môi. Vào một buổi sáng đẹp trời, sau khi dặn dò vợ con đôi câu. Ông trịnh trọng trong chiếc áo chùng thâm quần the trắng, đầu đội khăn xếp, chân mang giày Gia Định bóng, tay cắp ô, mồm gọi võng cáng ông ra khỏi nhà.

Nhìn cử bộ của ông, gia nhân bảo nhau tránh sang một bên vì sợ cảnh cháy thành vạ lây. Nhưng vừa ra đến đầu ngõ, ông phú Lộc nom thấy đôi dép râu của Hồ treo lủng lẳng trên đầu cái cọc cắm trước cổng. Tự nhiên, hàm râu lưa thưa của ông chổng ngược lên giời, riêng làn da mặt thì tái nhợt như tàu lá chuối.

Ông vờ giận dữ, cắm mạnh đầu cái ô đen xuống đất. Đứng nhìn quanh một vòng, bụng đánh lô tô, ông sửa lại bộ vó rồi đưa tay lên vuốt cho mấy sợi râu cụp xuống. Lát sau, ông nuốt toàn bộ những giận hờn vào dạ dày, bước quay vào. Ông định bụng, chờ cho đến khi ổn định xong chính quyền mới, ông sẽ hỏi tội những quân nghịch tặc này cũng chưa muộn.

Chẳng may cho ông, món nợ cũ chưa thanh toán xong, phong trào di cư vào nam lại nổi lên như sóng nước vỡ bờ. Ông phú

Lộc hoang mang cùng các vợ con bàn tính và sửa soạn hành lý để ra đi. Đến phút cuối, giữa lúc chân trong chân ngoài ngưỡng cửa, ông quyết định ở lại trong lúc con cái ông đi theo làng nước. Sau này, bà phó Ba mới tiết lộ cái lý do là vì ông phú Lộc tiếc của. Hôm ấy, ông đứng dạng chân giữa nhà, bảo vợ con rằng:

– Thứ nhất, đi là phải, nhưng chính quyền nào thì cũng phải nương những người lắm bạc nhiều tiền tại địa phương. Ông giàu có, tiền của ăn mấy đời không hết, ai dám đụng tới ông?

– Thứ hai, phần lớn lớp cán bộ, những quan chức mới ở trong vùng, đều là những tá điền là người ăn kẻ ở của ông trước kia. Ông coi chúng như con cháu trong nhà. Gọi chúng dạ, bảo chúng vâng. Chẳng đứa nào dám cãi ông nửa lời. Được thời như thế, chả việc gì ông phải bỏ sản nghiệp này mà đi.

Kết qủa, ông phú Lộc đã nhầm. Nhầm vì Việt Minh  không toan tính như cái tính toán của ông. Việc ông định bụng sẽ trị tội chúng, ông không thực hiện được. Đã thế, chúng không tỏ dấu là kiêng nể những người giàu có, lắm thế lực trong làng trong xã như ông nghĩ. Trái lại, chính những người này là mục tiêu, gần thì của lớp cán bộ địa phương chia nhau đến rỉa rói, xa thì nằm trong kế sách lột sạch của nhà nước.

Đến khi biết mình nhầm lớn, ông phú Lộc thở dài rồi lại tính chuyện trốn đi. Không may cho ông, con đường vào nam đã bị Hồ Quang kéo hàng rào, gài mìn từ lâu rồi, nên ông phải ở lại với gã. Ít lâu sau, ông phú buồn vì cảnh đời trớ trêu, buồn vì bị bọn Hồ chẹn cổ, chúng mời ông lên văn phòng … hỏi thăm! Nghe chưa vỡ câu chuyện,  ông thổ huyết, ngã lăn ra mà chết. Ông chết uất vì bác đảng đến. Và ông chết nghẹn, vì sợ bà vợ trẻ đẹp của ông sẽ rơi vào tay Hồ Quang.

Có thể, tả về cái chết của ông phú Lộc như thế e là hơi… oan cho bác và đảng. Vì thật ra, khi ông chết, nhà nước mới mở chính sách đấu tố phú nông địa hào, chưa hỏi đến tội bóc lột nhân dân của ông và bác cũng chưa… hiếp bà phó. Khi ấy, cán bộ nhà nước mới đến mượn tạm của ông một ít tài sản. Ông tiếc của, ông giận bác. Ông chết là lỗi tại ông, không phải do lỗi của nhà nước. Ông và vợ con ông chả nên trách bác. Riêng trường hợp của bà phó Ba, vợ ông, không chết vào thời đấu tố phải được coi là một chuyện may mắn lớn.

Ngay sau khi ông phú Lộc nằm xuống, bà cả, bà hai và mấy đứa con của hai bà ở lại, không vào nam, đã vùng lên, đòi lại quyền làm chủ. Từ trước, hai bà chẳng ưa gì nhau, nhưng quyết một lần hợp tác, đến tịch thu toàn bộ tài sản của bà phó Ba. Từ những bằng khoán đất đai, giấy vay nợ của tá điền, đến trâu bò, do ông phú Lộc di miệng lại cho bà đều được thu hồi, trả lại cho hai bà lớn. Phần người ăn, kẻ ở trong nhà cũng trực thuộc quyền cai quản của bà lớn.

Riêng trường hợp của bà phó, vì nể tình người đã qúa vãng, và nhớ công của bà Ba hầu hạ ông phú bấy lâu nay. Hai bà đã không đuổi bà phó ba đi, trái lại, phát chẩn cho bà phó Ba hơn mẫu ruộng, một cặp trâu cày và một căn nhà ngói năm gian làm cơ nghiệp riêng. Về phần nhang khói cho ông, bà phó Ba không có con với ông phú. Bà cả miễn luôn cho bà phó việc cúng lễ cho ông hàng năm. Từ đó, coi như bà phó Ba tạm ly biệt với giang sơn nhà chồng.

Tuy tài sản bị tịch thu, bà phó Ba vẫn lấy làm mãn nguyện. Lý do, ngoài của nổi hai bà lớn tặng cho bà làm cơ nghiệp riêng. Lúc sinh tiền, ông phú Lộc như đã nhìn thấy trước cảnh lẻ loi đơn chiếc của bà khi ông khuất núi. Ông đã âm thầm tặng cho bà một số của chìm như vòng vàng nhẫn bạc. Nhờ của chìm của nổi này, bà phó Ba vẫn đủ ăn đủ tiêu, vẫn có gia nhân đi về hầu hạ bên cạnh bà cho đến hết đời. Kế đến, nhờ bà, người anh của bà là ông Bính, bố của Nụ, đã có đến năm mẫu ruộng và ba cặp trâu cày. Và đặc biệt, khi chính sách đấu tố ra đời bà phó ba mới thấy được cái… phúc nhớn của bà trong vụ bà cả đến tịch thu tài sản của bà.

Bảng và ba phó Ba biết nhau từ lâu, nhưng họ không thể xích lại gần nhau được. Cả hai, cứ nhìn thấy nhau là như nom thấy kẻ thù truyền kiếp. Việc hai người tự ý coi nhau như kẻ thù, bắt nguồn từ một nguyên nhân khá xa xưa.

Theo cái nhìn của Việt cộng, Bảng được sinh ra và lớn lên từ giai cấp lãnh đạo đảng và nhà nước. Đó là giai cấp bần cố nông. Bố mẹ Bảng không có tài sản riêng, họ sinh sống bằng nghề cày thuê cuốc mướn độ nhật qua ngày. Nên khi Bảng mới lên 7 lên 8, thay vì đi giày tây sách cặp da đi học, Bảng đã được bố mẹ cho đi ở đợ, làm nghề chăn trâu cho một gia đình khá giả trong làng.

Khi đi ở đợ, Bảng những tưởng sẽ sung sướng hạnh phúc ngang bằng những đứa trẻ con nhà giàu. Không ngờ, phải vất vả cả ngày mới có chén cơm đỡ lòng. Tệ hơn thế, mỗi khi ham rong chơi bỏ bê việc chăn trâu, vớt bèo, cắt cỏ, Bảng còn được thưởng thức tính hà khắc, thích đánh đập gia nhân của gia chủ dành cho Bảng. Đến khi lên 12, 13 tuổi, Bảng đã phải làm quen với cái cày, con trâu. Lúc được 14 tuổi, Bảng đã anh dũng gia nhập hàng ngũ tá điền trong nhà bà phó Ba, là một trong những người thuộc giai cấp bóc lột.

Tá điền ở ngoài bắc thường có hai loại. Loại thứ nhất, có nhà riêng và chỉ đến thuê ruộng, thuê trâu cày của nhà giàu để làm ăn chia với chủ. Việc ăn chia này không nhất định, tùy theo vùng và tùy theo sự hà khắc hay rộng rãi của những phú nông địa hào. Loại thứ hai, không có đất cắm dùi, không có chỗ ở, phải đến xin ở nhờ trong khu nhà sau của những nhà phú hộ, nên còn được gọi bằng một cái tên khác là canh điền.

Người canh điền làm một lúc hai công tác. Canh tác đất đai và canh giữ tài sản, nhà cửa, ruộng đất cho các phú hộ. Tuy thế, khi một người được cho vào sinh sống trong khu nhà của phú hộ, phải được kể là một ân huệ riêng từ ông hoặc bà phú hộ ban cho. Họ được coi như là những gia nhân thân tín trong nhà, đôi khi làm ít nhưng vẫn no bụng. Bảng thuộc diện thứ hai, diện hưởng hàm ân riêng.

Phần bà phó Ba, kể từ ngày bước vào khung cửa đài các, bà sinh ra nhiều tật lạ. Trước tiên, bà tập được cái thói thích nghỉ trưa. Khi ngủ dậy, bà thường đứng trước cửa buồng vươn tay vươn chân vài lần cho dãn gân cốt. Sau đó, bà bước đến bên thau nước do gia nhân dọn sẵn, với lấy cái khăn ướt lau mặt. Khi rửa mặt, bà không quên rút cái nút cột giải yếm ở phía sau lưng ra và lau qua hàng dừa cho nó mát. Không ngờ, việc lau chùi… bẹ sữa của bà đã làm khổ cái thằng Bảng.

Tuy thế, nếu bảo Bảng chỉ tình cờ nom thấy là sai. Bởi lẽ, đây không phải là lần đầu tiên Bảng nom trộm hai qủa vú sữa của bà phó. Trái lại, Bảng đã có đôi mắt tò mò này từ lâu. Tuy nhiên, là người cẩn thận, bà phó Ba không vội lên tiếng trách đứa trẻ con. Đến hôm nay, chỉ không may cho Bảng, giữa lúc Bảng há mồm ra chiêm ngưỡng khoảng da thịt hở hang của bà phó bằng một đôi mắt người nhớn, thì bà phó bắt gặp ánh mắt tội lỗi của nó. Nó làm bà phó thẹn thùng. Bà khép vội lại mảnh tà áo và không thể không lên tiếng hỏi:

– Đứa nào đấy, có phải thằng Bảng không?

Đang xem phim, Bảng giật thót người lên, nó trả lời theo một phản ứng tự nhiên:

– Dạ phải, bà phó cho gọi con?

– Phải, vào đây tôi nhờ tý việc nào.

Chuyện Bảng được bà phó gọi vào và nhờ tý việc rất thường xảy ra. Điệp khúc này, Bảng đã nghe hàng trăm lần. Nghe từ khi Bảng mới đến nương nhờ bà phó cách đây mấy năm về trước. Bảng còn thuộc lòng câu kế:

– Đi rửa tay rồi vào đấm lưng, bóp… đùi cho bà!

Lúc đầu, Bảng bỡ ngỡ không hứng khởi. Sau một thời gian, Bảng khám phá ra là Bảng rất thích và hãnh diện được làm công tác đặc biệt này. Lý do, nó vừa nhẹ nhàng lại dễ kiếm ăn. Tuy nhiên, câu gọi quen thuộc này, lâu nay bà phó đã bỏ quên. Bà bỏ quên vì hai nguyên do:

Thứ nhất, Bảng đã lớn, nó không còn thích hợp cho việc đấm lưng bóp chân xuông nữa. Nói ra thì bảo là lẳng lơ  Nhưng sự thật, mấy lần sau này nó đấm bóp cho bà phó, nó mạnh tay quá khiến bà phó thấy người nao nao, rạo rực khó chịu lắm, nên bà có ý thôi không muốn gọi nó nữa.

Thứ hai, Bảng phải tham gia những công việc có tính cách người lớn như đi cày, đi cấy. Nó không còn rảnh rỗi như khi xưa.

Đến trưa nay, gặp ngày không phải đi lao động, lại đang lúc trời nóng nực, Bảng chỉ mặc trên người một cái quần đùi rộng ống, ra đứng khuất dưới gốc dừa phía sân sau hóng mát. Không ngờ sung rụng, Bảng mừng rỡ, miệng há hốc ra và đôi mắt thì nhìn dán chặt vào hai bẹ sữa của bà phó. Ngày nắng thành ngày hạn. Khi biết việc bại lộ, Bảng toan theo gương bác tìm đường tẩu vi thì bà phó ra tay vẫy gọi.

Âm thanh của tiếng gọi khá ngọt ngào êm đềm,  tiếng tôi cũng nhỏ hẳn đi. Nhưng Bảng giống như một tội nhân, gã nghe lời gọi êm ái kia mà ngỡ như nghe một án lệnh. Bảng toát mồ hôi, đôi tay bóp chặt vào nhau đếm bước trở lại bậc thềm căn nhà trên. Khi đến trước khung cửa, Bảng len lén nhìn lên khuôn mặt tôn kính của bà phó như để thẩm định xem chuyện gì sẽ xảy ra. Liệu có phải là một trận nổi cơn lôi đình vì sự bất cẩn của Bảng hay không?

Lạ! Bảng không tìm thấy một nét giận giữ nào trên khuôn mặt gần bốn mươi của bà phó. Đã thế, Bảng thấy bà phó còn ẻo lả bước đến bên cái ghế tràng kỷ. Một tay vịn trên thành ghế, một tay cầm cái quạt phe phẩy trước mặt. Gặp gió, tà áo mỏng để buông xuôi không cài lại có dịp đong đưa bên ngoài cái yếm ngắn. Chờ Bảng bước qua khung cửa, bà phó mỉm cười ngồi xuống ghế và làm Bảng giật mình vì một câu nói không có trong sách vở của bà:

– Đóng cái cánh cửa lại!

Trống ngực Bảng đập mạnh hơn, gã lính qúynh làm theo lệnh rồi khép nép đi lại phía sau cái ghế nơi bà phó đang ngồi:

– Bẩm bà phó cho gọi con, bà có gì sai bảo chăng?

  Bà phó Ba liếc nhìn Bảng, mỉm cười:

– Nào có sai bảo gì. Gọi vào mà ăn củ… khoai!

Bảng ngơ ngẩn, gã ngơ ngẩn vì hôm nay bà phó nói toàn câu lạ. Đã thế, âm thanh của lời nói êm ái như rót mật vào lòng. Ngày thường, bà phó vốn dĩ không phải là người hay càu nhàu, la hét đám gia nhân như phần đông những gia chủ khác, nhưng chắc chắn chả mấy khi Bảng nghe được lời nói ngọt như thế. Từ lo âu đến thắc mắc, Bảng nhìn lên khuôn mặt của bà phó để tìm xem lời nói ấy có ý nghĩa gì. Bảng chịu thua, không hiểu được gì thêm ngoài khuôn mặt thật xinh, hiện rõ nét tươi tắn với đôi môi hồng chúm chím gợi tình.

Liếc sang bên cạnh, trên mặt bàn là những hình ảnh khá quen thuộc trong tầm mắt Bảng. Trong một cái khay có bình trà và bộ tách qúy, bộ trà dùng để chưng bày nhiều hơn là dùng. Kế bên bình trà là hai cái dĩa kiểu. Một cái đặt nải chuối tiến, một để mấy củ khoai còn bốc khói. Đây là những thức ăn nhẹ dành cho bà phó sau giấc ngủ trưa, do gia nhân dọn sẵn cho bà theo lệnh của ông phú Lộc.

Ông phú Lộc không có mặt thường xuyên tại nhà bà phó. Theo thói quen, mỗi tháng ông xuống một lần và thường ở lại với bà phó dăm bảy ngày, tùy theo nhu cầu của công việc và bà phó đòi hỏi. Đôi khi vì bận việc với những nơi khác, vài ba tháng ông phú Lộc mới xuống thăm bà phó một lần. Gặp trường hợp như thế, thời gian ông phú ở lại với bà sẽ lâu hơn.

Ông phú Lộc có một tật xấu khó chừa. Ông thích ăn qùa vặt sau giấc ngủ trưa. Từ ngày ông lấy bà phó, ông đã tập luôn cho bà cái tánh hư ấy. Do đó, những thức ăn nhẹ dành cho bà phó sau giấc ngủ trưa như kẹo bánh, trái cây, hoa qủa tuỳ theo mùa chẳng bao gìơ vắng mặt.

Nhìn bề ngoài, ai cũng cho bà phó là người sung sướng hạnh phúc bậc nhất. Ruộng vườn, bà là chủ nhân của mấy chục mẫu ruộng cấy lúa. Gia nhân, người ăn kẻ ở lớn nhỏ lúc nào cũng túc trực bên bà để gọi dạ bảo vâng. Phần chưng diện, ăn uống, bà muốn gì được nấy. Tuy nhiên, khi nhìn ánh mắt và nụ cười của bà sẽ thấy bà phó như còn đang thiếu thốn một điều gì. Không biết có phải vì bà phó mới hơ hớ ngoài ba mươi cái xuân xanh, trong khi ông phú Lộc đã lục tuần lại ít được gặp nhau?

 Thấy Bảng đứng lóng ngóng mãi, bà phó vươn mình, quay lại nhìn gã và chỉ cái ghế trước mặt, bảo:

– Ngồi xuống đấy, lấy… sôi chuối mà ăn.

Bảng liếc nhìn dĩa sôi, nải chuối. Nước bọt ứa ra chân răng, gã định đưa tay ra cầm lấy nhưng lại thôi. Nhớ lại lúc trước, sau mỗi lần đấm lưng bóp chân cho bà phó, Bảng thường mở lời nhắc nhở bà phó đừng phê, rồi bỏ quên công lao của người vừa hành nghề đấm bóp cho bà. Đến khi có qủa chuối, củ khoai trong tay, Bảng hân hoan leo lên ngồi xổm trên cái ghế trường kỷ này như ông chủ con. Nhưng hôm nay, Bảng thấy lúng túng ngập ngừng thế nào ấy.

Chừng như thông cảm được nỗi lòng của Bảng, bà phó với tay, cầm lấy dĩa khoai luộc đưa ra trước mặt Bảng. Bất đắc dĩ, Bảng nghiêng người về phía trước cầm lấy một củ:

– Cám ơn bà phó cho qùa.

Trong lúc Bảng nói thuộc lòng câu nói ngày năm xưa, bàn tay Bảng chạm vào tay bà phó. Bốn ánh mắt đồng mở lớn gặp nhau. Bảng hốt hoảng cúi xuống, tay run run nắm gọn và xoa nhẹ trên củ khoai. Để trấn tĩnh mình, Bảng tự nhiên tái diễn lại những động tác quen thuộc của ngày năm xưa. Gã vén quần ngồi xổm xuống trước mặt bà phó. Bà phó nhìn thấy… bác, bà giật mình đánh thót người lên.

Thật là đại bất kính và gây ra ngượng ngùng, khó nghĩ cho bà phó. Thằng con trai đã 16, 17 tuổi đầu, trên người chỉ mặc vỏn vẹn một cái quần đùi rộng ống lại ngồi xổm để lòi… ấy ra trước mặt bà phó. Bà phó trẻ vừa nom thấy là ngượng đỏ mặt, vội quay đi nơi khác:

– Đã bảo là ngồi lên ghế. Ai lại ngồi để…

Bà phó lấy cái quạt lên che ngang miệng, kịp giữ lại đoạn cuối câu nói dở. Trong lúc ấy, Bảng không cần nghĩ ngợi, gã bình thản từ chối lời mời:

– Cám ơn bà phó, con ngồi thế này đã quen rồi.

Chẳng ai nỡ trách Bảng vì một thói quen, chỉ tội cho bà phó Ba. Tội vì bà phó Ba không phải là người lẳng lơ thích chuyện trăng hoa. Kể từ khi bà về với ông phú Lộc đến nay, số đêm bà phải vò võ một mình trong căn nhà vắng nhiều hơn những đêm bà được cận kề bên người chồng răng long tóc bạc. Tuy thế, bà luôn thủ tiết, không bao gìơ có ý nghĩ phản bội ông trong lúc ông đi vắng.

Nhưng hôm nay, từ lúc bà lỡ đưa mắt nhìn rõ… bác sống động trong quần Bảng, lòng bà phó bỗng rung lên một nỗi niềm sao xuyến lạ kỳ. Bà thật không ngờ, cái hình hài ấy lại có sức mạnh mãnh liệt ghê gớm như thế. Nó không những làm bà chới với mà còn đánh thức toàn bộ những ước muốn thầm kín, và làm bật dậy những rạo rực nóng bỏng trong cơn khẩn trương của bà.

Bất giác, bà phó Ba khẽ rùng mình rồi tự thở dài. Thở dài vì

từ lâu nay bà vẫn cho rằng, những sự rung động thèm muốn

ấy đã thực sự chết ở trong bà. Nó chết từ lúc bà cô đơn lẻ bóng trong căn phòng lạnh lẽo. Và chết từ lúc bà nhỡ miệng, gật đầu nhận lời về làm lẽ mọn cho ông phú gần đất xa trời. Kể từ đó, bà những tưởng đời bà sẽ chẳng còn biết đến sự thèm muốn ân ái kia là gì. Ngờ đâu, nhờ có bác trong Bảng, từng cơn sóng lòng lại cuồn cuộn theo nhau nổi lên. Nó cuốn dạt bà theo hơi thở gấp. Bà mất chủ động, không kiểm soát được chính mình.

Đã mấy lần bà phó Ba tính quay mặt đi nơi khác để tránh cái nhìn trực diện với nó. Nhưng không hiểu lý do gì, mỗi lần bà muốn quay mặt đi lại là một lần bà nghe rõ lời kêu gọi của… bác. Cuối cùng, bà đành phó mặc cho con nước, quay lại nhìn, tự mỉm cười và trịnh trọng đổi thế ngồi.

Thế ngồi của bà phó Ba lúc này không còn gĩư nét đài các tôn kính nữa. Bà ngồi duỗi thẳng hai chân, đẩy hẳn người ra trước mặt. Rồi thay vì dục Bảng bóp chân cho bà như xưa, bà gợi chuyện:

– Năm nay bao nhiêu rồi, mà nom đã… lớn tướng?

  Bảng ngay thật gỉa nhời:

– Bẩm bà, con đã 17 ạ.

– Chóng thế?

Rõ chán cho cảnh vờ vịt của bà phó! Bởi lẽ, bà còn lạ gì cái lý lịch của thằng Bảng. Cách đây bốn, năm năm về trước, bố nó dẫn nó đến, xin bà nhận làm gia nhân trong nhà và cho tập việc cày cấy. Lúc đầu, bà không có ý nhận Bảng. Đến sau khi nghe bố Bảng trình bày về cái gia cảnh không mấy khá của gia đình ông ta, bà mới nhận lời.

Mấy năm qua, Bảng ở với bà. Bàn tay của nó đã bao lần đấm lưng bóp chân cho bà, bà còn lạ gì Bảng. Xa hơn thế, nó có tật xấu có thói gian nào mà bà không biết. Tuy thế, vào lúc này, có một sự việc bà phó biết rất rõ, nhưng lại cố tình quên hay làm như không nhớ. Đó là một Bảng đã ở vào lứa tuổi 17 với những bắp thịt nẩy nở cuồn cuộn trên vai và trên đôi chân. Như thế, nó không còn là một thằng Bảng bé bỏng như xưa.

Vì nhầm tưởng Bảng còn nhỏ bé như xưa, bà lại muốn Bảng quay về nghề cũ. Khi vừa có ý định táo bạo ấy, bà chợt thấy

người nổi gai ốc, rồi đê mê nhớ đến cánh tay của Bảng đã vờn vẽ, di động làm rát bỏng người bà trong cái lần cuối cùng nó trèo lên… giường. Nghĩ đến đó, bà si dại nhìn Bảng. Đôi đồng tử mở lớn lên rồi đôi môi mấp máy, bà muốn áp lên người nó. Tự nhiên, bà muốn nó không phải là thằng Bảng, nhưng là người tình. Bà cần tình, bà cần nó, không biết cần cho một công việc gì, nhưng nhất định không thể thiếu.

Tự nghĩ thế, bà níu chặt cánh tay trên thành ghế, vươn hẳn người ra trước mặt Bảng rồi táo bạo đem so sánh cái lực lưỡng trai trẻ khỏe mạnh, rắn chắc của Bảng với cái lão nhược suy yếu của ông phú Lộc. Bà thấy lửa rát trên thân. Bà vội vã đứng dậy và ấn một bàn tay lên bờ vai trần của nó:

– Thôi để xuống đấy, lát nữa hãy ăn. Vào đây tôi… nhờ tý việc đã!

  Bảng không một phản ứng, nó bỏ củ khoai xuống trên cái dĩa, lững thững đi theo sau lưng bà phó. Đi được mấy bước, Bảng nhìn xuống đôi tay. Đôi tay đã chai đá, có lẽ không còn thích hợp cho việc đấm lưng bóp… đùi xuông nữa. Tuy nghĩ thế, nó vẫn không biết phải làm gì và cũng không tìm ra lý do để từ chối.

Phần bà phó, vừa bước qua cánh cửa buồng ngủ, bà đứng lại, đan tay sau ót, giả như còn ngái ngủ rướn cao người lên trước mặt Bảng. Vươn xong, bà cố tình gác một cánh tay lên vai Bảng trong lúc cài lại cái then cửa buồng, bà bảo:

– Này… cởi cái nút thắt giải yếm ở đằng sau ra hộ tôi cái.

Bảng lẳng lặng vòng tay ra rút cái nút cột giải yếm phía sau lưng bà phó ra. Mảnh yếm điều từ từ rơi xuống. Đôi tà áo không cài khó che kín khoảng ngực trần. Bà cười nụ, bà thôi miên, nghiêng người, đưa giải yếm lên trước mặt Bảng. Rồi tình tứ, đặt một ngón tay trên má, trên cằm Bảng. Bỗng bà phó Ba giật thót người như chạm phải điện. Bà tròn vo đôi mắt khi nhìn thấy một bàn tay khác của bà đã nằm ngay trên cái giải rút quần trước bụng thằng Bảng. Bà kéo thằng Bảng lại gần.  Mảnh yếm rời tay cùng lúc với thân hình bà áp vào người Bảng. Hình như bà đã thơm nó một cái trước khi ẻo lả nằm úp mặt xuống trên gối.

Trong khi đó, ngoài một đôi mắt mở rộng, Bảng đứng khép chặt đôi chân nom cứng như thân tượng gỗ giữa buồng. Nó hết nhìn cái giường lại nhìn bà phó, rồi hoang mang không biết phải làm gì, nói gì. Đã thế, bà phó lại kín đáo. Ngoài những cử chỉ khác thường, bí ẩn. Bà lên giường nằm như chờ đợi, nhưng lại không nói năng gì, nên Bảng chẳng hiểu bà phó muốn nhờ Bảng làm gì. Mãi một lúc sau, Bảng mới nghe thấy tiếng bà phó gọi nhỏ:

– Lại đây… ngoan nào…!

Nghe tiếng gọi, Bảng nhìn thấy màu nắng xuyên qua khung cửa sổ, hắt lên tấm lưng thon, dài, nửa kín nửa hở sau vạt áo cuốn của bà phó. Bảng mon men từng bước, đến ngồi ghé bên mép giường. Thấy Bảng đến, bà phó Ba khẽ nhích người, nằm quay mặt vào phía trong. Bà vén cao lưng áo lên, rồi tự nhiên, nắm lấy tay thằng Bảng để lên trên thắt lưng bà. Sau đó, bà dùng một bàn tay, xoa nắn lan dần trên lưng, trên đùi Bảng như có ý dục nó vào công tác.

Kết qủa, đôi tay nó run và nằm chết cứng trên cạp quần của  bà phó. Nó tự biết người nó nóng rực lên theo một nhịp phách kỳ lạ. Nó định rút tay về và nhích người ra xa một chút để tránh bàn tay táo bạo của bà phó. Không ngờ, bà phó xoay người, nắm lấy cạp quần của Bảng, bảo nó:

– Này… cởi ra… đấm… lưng nhá!

Thằng Bảng hốt hoảng, rút tay về giữ lấy cái quần.  Trong khi đó, bà phó Ba lại nhổm người lên, ôm ghì chặt lấy người nó, rồi thả ngả người ra phía sau. Thằng Bảng mất đà, ngã đè lên người bà phó. Nó loay hoay chống tay nhổm dậy. Bà phó bạo dạn tụt cái quần đùi của nó xuống, dục:

– Cởi ra… đấm… đấm đi…

Tiếng nói bà chưa dứt, thằng Bảng đã mất hồn vía, nó dựng người lên khi thấy bác không có lấy một mảnh vải che thân. Nó hoảng hốt vùng dậy, thoát ra khỏi vòng tay tham lam của bà phó. Chân vừa chạm đất, nó kéo vội cái quần lên rồi tung cửa, cắm đầu chạy như bị ma đuổi. Sự việc đã diễn tiến ra ngoài dự trù của bà phó. Bà chưng hửng, nằm giang rộng chân tay trên giường, mắng với theo:

– Đúng là đồ ngu. Sôi không ăn thì ăn… cám.

Phần câu chuyện này, được ghi rõ ràng trong hồ sơ lý lịch đảng tịch của Bảng. Các cán bộ Vẹm khi ấy đã đánh gía Bảng như là một đồng chí kiên cường, dũng mãnh. Đã hiên ngang chống lại cường hào áp bức, chống lại giai cấp bóc lột. Hành động cụ thể này chính là một ý thức cách mạng cao độ, đáng được ghi vào sử đảng, để đời đời làm gương cho toàn đảng noi theo.

Riêng Bảng, sau khi vùng thoát khỏi căn buồng đầy ma lực với đôi tay tội lỗi của bà phó, nó dừng lại và nép người vào gốc cây mít cuối vườn. Khi nép, nó vừa thở vừa len lén lo âu nhìn về phía căn buồng của bà phó. Dù từ căn nhà của bà phó không vang ra bất cứ một lời nói, hoặc một câu quát mắng nào, Bảng cũng thấy lòng lo lắng hồi hộp. Lát sau, nó thấy bóng bà phó đứng chống tay ngay trước cửa ra vào. Nó đứng nép vào thân cây mít một lúc, rồi lẳng lặng bỏ đi.

Nó đi và chẳng biết đi đâu. Đến khi chiều sắp tàn, nó lần bước về nhà. Mẹ và các em nó đang chia nhau những hạt cơm dính trong đít nồi. Thoáng cơ cực, nó ra bên chum nước, uống một gáo nước đầy thay cho bữa cơm chiều. Đêm ấy, Bảng ở lại nhà và báo cho mẹ nó một bản tin buồn. Nó không trở lại làm việc cho bà phó nữa. Mẹ nó kinh ngạc hỏi lý do, rồi bảo:

– Không làm cho bà ấy thì kiếm đâu ra chỗ ăn chỗ ở? Nếu con có lỡ làm điều gì lỗi thì mai U sẽ lên xin thưa lại câu chuyện với bà phó. Người ta chỉ đánh kẻ chạy đi, ai nỡ đánh kẻ chạy lại bao giờ!

Mặc cho bao lời khuyên nhủ, Bảng cương quyết không trở lại đấm lưng cho bà phó nữa. Lý do, cần gì phải có bà phó gã mới có miếng ăn. Kết qủa, suy luận của Bảng đúng có một nửa. Bởi lẽ, trong vùng Xuân Thủy không có nhiều hộ giàu, sẵn sàng nhận gia nhân. Bảng gõ cửa mấy nơi, Bảng chỉ nhận được lời từ chối khéo. Họ từ chối Bảng vì nhiều lý do, trong đó có việc thắc mắc vì lý do gì Bảng giã từ hàng ngũ gia nhân của bà phó Ba. Cuối cùng, Bảng phải cắn răng đến xin giúp việc tại nhà ông Bính, là anh của bà phó.

Phương cách đối sử của ông Bính với Bảng, hoàn toàn khác với bà phó. Bà phó ngọt ngào êm dịu bao nhiêu, ông Bính la hét khó chịu bấy nhiêu. Tuy thế, Bảng không có ý định rời xa nơi tạm dung này. Một phần vì công việc và miếng cơm manh áo và một phần vì Bảng đã phải lòng Nụ, con gái ông Bính. Ít lâu sau, ông Bính nghe được những lời to nhỏ của đám gia nhân về việc vụng trộm của Bảng và Nụ. Ông Bính dứt khóat cho Bảng thôi việc.

Khi mất việc, Bảng đâm ra thâm thù bà phó. Bảng thù bà phó vì cho rằng bà là người lắm chuyện, đặt điều. Bà bảo với ông Bính là nuôi Bảng có khác gì nuôi ong tay áo. Đã thế, bà còn nói xa nói gần và nhất là không để cho nó có cơ hội gần cái con Nụ. Kết qủa, ông Bính nghe lời cố vấn của bà phó nên Bảng phải quảy gánh ra đi, và mối tình giữa bà phó và Bảng thì khôn hàn gắn…

Lúc này, khi thấy hai người vẫn to nhỏ bên chum nước, Bảng rất khó chịu. Gã vờ vịt đứng lại ngoài ngõ, gỉa ngửa cổ lên nhìn giời nhìn đất như để xem nắng mưa thế nào, nhưng thật ra là có ý để cho bà phó Ba nhìn thấy mà lánh mặt. Một lúc sau, bà phó Ba biết ở lại không tiện, bà vắn tắt câu chuyện rồi nhanh chân bước ra. Cả hai người nhìn thấy nhau ngoài đầu ngõ, họ nhất định không một lời cho nhau.

                                          *

                                      *       *

Khi bóng bà phó Ba đã khuất hẳn ở cuối con đường, Bảng mới vào trong nhà. Gã giận lẫy, ném cái nón cối là linh hồn của đảng Vẹm lên trên cái chõng đặt ở gian trống, nơi dùng làm phòng khách. Sau đó, gã đi ra phía sau hè, đến bên chum nước, múc nước đổ ra tay rửa mặt. Rửa xong, gã đi trở vào. Đi được vài bước, Bảng đứng lại như vừa nhớ ra điều gì quan trọng. Gã trở lại bên chum nước, nhìn trước nhìn sau rồi cởi phăng bộ quần áo mặc trên người ra. Gã múc nước dội ào ào lên người.

Tắm xong, Bảng với tay lấy bộ quần áo treo trên đầu cái cọc gần nơi úp rổ chén bát đi vào trong nhà. Vừa đi, Bảng vừa lau khô người bằng một cái khăn đã rách tả tơi. Sau khi thay quần áo, Bảng vặn tréo cái quần dùi ướt trên tay rồi máng lên giây phơi. Cùng lúc, có bóng Nụ đi qua, Bảng hất cằm hỏi trống không:

– Cơm nước đã thổi chửa?

Nụ không trả lời, Bảng nhăn mặt nhìn theo. Gã thấy một tay Nụ cắp rá gạo, tay kia cầm cái nồi đi ra phía cầu ao. Bảng giậm chân, nói đổng:

– Tối mẹ nó rồi mà cơm nước gìơ này chưa thổi. Biết đến bao gìơ mới được ăn để còn đi họp đi hành đây? Chuỵện gì mà lắm chuyện thế, ngày nào cũng to cũng nhỏ.

Nụ nghe rõ nhưng không trả lời trả vốn câu nào, Bảng bực mình đi thẳng lên nhà trên. Gã rót lấy bát nước, đến ngồi bó gối bên cái điếu cày, nhìn chừng ra ngoài sân trong lúc đợi cơm chiều. Thật ra, Bảng ít để ý đến giờ giấc của bữa cơm chiều. Bởi lẽ, khi thì gã về sớm, khi về trễ, không có chừng mục và bữa cơm chiều cũng theo đó dãn nở như giây thung.

Tuy nhiên, chiều nay vì câu chuyện hẹn hò với Lựu, nên Bảng thấy nóng ruột. Có lúc, Bảng bước ra cửa tính bỏ bữa cơm chiều, nhưng lại thôi. Một lúc sau, Nụ bưng mâm cơm lên và đặt xuống trên cái chõng thay vì cái bàn như thường lệ. Bảng bước đến, gã chán nản nhìn mâm cơm xã hội chủ nghĩa với đầy đủ những nét hỷ, nộ, aí, ố… nhục.

Cảnh đạm bạc trong đời cán bộ phục viên, hiện gĩư chức chủ nhiệm hợp tác xã của nhà nước như Bảng đã tái diễn như thế này qúa nhiều lần. Rất ít khi chủ nhiệm Bảng ngửi thấy mùi thịt, mùi mỡ trong bữa ăn. Tuy nhiên, Bảng không thể tìm ra phương cách nâng cấp cho bữa ăn. Lúc trước, gà vịt của nhân dân còn, cán bộ có hành nghề trộm cắp về đêm thì cũng còn kiếm được miếng ăn. Lúc này, dù có tận lực hành nghề cán bộ cũng chỉ nhìn thấy sau lớp rào thưa kia là một cán bộ khác đang phục binh, đợi thời, và tuyệt nhiên không còn thấy bóng dáng gà vịt ở trong chuồng của nhân dân.

Theo đó, nếu Bảng còn được bữa ăn như chiều nay, phải được kể là do bàn tay đảm đang và khôn khéo của Nụ. Nếu không có Nụ, đồng chí Bảng chỉ còn một cách, đem cái chức chủ nhiệm của nhà nước ban cho ra mà ăn dần, riêng phần cơm gạo thì xin… kiếu.

– Nhà không ăn luôn một thể à?

– Không, tôi còn phải đi tắm cái đã.

Không cần chờ và hỏi han thêm nữa, Bảng vục cái bát vào nồi cơm. Sau khi có một bát cơm đầy, Bảng gắp miếng cá và mấy cọng rau muống cho vào bát. Gã nhìn lên bức chân dung của bác kính yêu rồi lùa cơm vào miệng. Khi ăn, Bảng không một thắc mắc. Bởi nếu có thắc mắc, Bảng cũng không tìm được câu trả lời thỏa đáng. Trái lại, Bảng sẽ nhận được những lời thẳng thừng của Nụ:

– Đã làm cán bộ thì phải phấn đấu, khắc phục khó khăn để làm gương cho quần chúng nhân dân noi theo chứ? Đất nước còn nhiều khó khăn, có đâu cán bộ ngồi mâm cao cỗ đầy.

  Mỗi lần nghe câu nói móc ấy, là một lần Bảng thấy như có đôi đũa nhọn chọc sâu vào cổ họng gã. Gã đau đớn, quắc mắt nghiến răng, muốn mắng vào mặt vợ gã:

– Đéo mẹ mày, ăn nói nó ngu vừa vừa một tý. Có hô hào khắc phục, phấn đấu là để đánh lừa cái thằng dân thôi chứ. Đã làm cán bộ việc gì phải kham khổ, phải khắc phục?

Tuy nghĩ thế, Bảng vẫn không dám nói ra nửa lời. Bởi lẽ, vợ gã chửi gã như thế là đúng lắm. Hơn nữa, cứ mỗi lần Bảng nhỡ mồm than không có gì ăn, là một lần Nụ nhắc đến cái chết của ông Bính với lòng căm thù Bảng:

– Anh muốn có miếng cơm ngon, muốn có manh áo đẹp à? Hãy lôi bố tôi ra mà đấu tố, ra mà chém như lời bác đảng dạy dỗ anh. Chém giết rồi đó, tài sản tịch thu hết rồi đó. Anh đã được miếng cơm ngon, miếng thịt tốt, manh áo mới nào chưa? Hay cứ mở mồm ra là hò hét những lời đảo điên, gian trá?

Bảng nóng mặt, toát mồ hôi hột khi nghe Nụ lớn tiếng, nhưng Bảng tự dằn bụng là không nên có phản ứng. Bởi lẽ, lời qua tiếng lại người ngoài nghe thấy, họ sẽ đánh gía gia đình chủ nhiệm Bảng mất cảnh giác cách mạng và cá nhân Bảng là để mất lập trường của giai cấp đấu tranh. Bảng đành xuống nước:

– Ông ấy bị chém đầu là do lệnh đấu tố của nhà nước, của đảng, nào phải do tôi? Không mở mắt ra mà xem, bên Hành Thiện, thư ký thứ nhất của đảng đã đấu bố mẹ đẻ để làm gương cho toàn quân, toàn đảng noi theo thì đã sao. Riêng trường hợp của tôi, tôi chỉ là một cán bộ thừa hành, thấp kém, làm sao tôi có thể cứu được tội lỗi to lớn của ông ấy?

Vừa nghe Bảng nhắc đến câu tội lỗi to lớn của ông ấy, Nụ liền nổi điên, nàng xăn tay áo bước tới trước mặt Bảng:

– Chứ không phải chính anh là người đã hạ quyết tâm đề bạt tên bố tôi vào cái danh sách ấy à? Ở đời, tôi chưa nghe thấy có thứ con cái nào phản phúc đến như thế. Dù không phải là bố đẻ ra anh, thì cũng là bố đẻ ra vợ anh, mà anh dám làm chuyện trái với luân thường đạo đức, kề cái mã tấu vào cổ bố tôi à? Anh là người, là đảng viên hay là qủy?

 Bảng lồng lộn lên như con heo bị thọc huyết:

– Đ. M mày, câm mồm. Con phản động kia, mày dám chửi cả bác, cả đảng à? Có phải mày muốn đi theo thằng bố mày hay không?

  Nghe hỏi, Nụ tiến lên lôi tuột cái tấm hình của Hồ đang treo lủng lẳng trên bức vách xuống:

 – Phải, có giỏi thì giết đi, giết đi. Không dám à? Tôi là con gái của địa chủ, của phú nông địa hào đây, theo tôi làm gì? Có giỏi thì ra xin với bác với đảng cho ở riêng đi. Việc gì phải nhờ cả cái chi bộ ấy đến nhà mà năn nỉ và xin lỗi tôi. Cán bộ oai phong lừng lẫy lắm, trên không sợ trời dưới không vị đất, việc gì phải về cái nhà này mò bát cơm nguội? 

Nói xong, tiện tay Nụ quăng ngay cái tấm hình có nắm lông mồm kia ra ngoài sân, ý thị muốn tống khứ cả Bảng đi cho khuất mắt. Bảng giận đến run ngươi. Run vì giận, vì thương bác nhưng không biết phải sử trí ra sao. Bởi  há miệng thì mắc quai. Ở ngoài xã hội, Bảng lơ láo theo bác theo đảng đá cá lăn dưa. Điều nhân lễ nghĩa trí tín không một lần nghe biết, nên Bảng không có lấy một người bạn, gã chỉ có những đồng chí và kẻ thù quanh mình. Khi về nhà, Bảng lại theo bác ra chiêu đâm cha chém chú. Kết cuộc, người ta cho gã là một loài ký sinh, và những kẻ đi làm cách mạng như Bảng như bác không có lỗ dung thân.

Tại sao những nhà cách mạng lại gặp cảnh hẩm hiu thế? Bảng hỏi, và không tìm ra câu trả lời. Gã chỉ nhớ mang máng là từ ngày xa bà phó và tự xóa bỏ giai cấp của mình đến nay, đời gã như bước vào nhiều khúc quanh khắc nghiệt hơn. Làm công cho ông Bính mới được vài năm thì vướng vào vòng tình ái với Nụ.

Kết qủa, Bảng phải ngậm đắng nuốt cay mà đi. Giữa lúc lang thang cùng đường, Bảng thấy một gã trung niên đang co ro ngồi kéo điếu thuốc lào. Buồn ngủ gặp chiếu manh, Bảng ghé lại hỏi thăm. Không ngờ ánh sáng của cách mạng đã từ cái đốm lửa trên đầu cái đóm hút thuốc soi dọi vào ruột gan Bảng một niềm mơ ước lớn. Mơ ước đi theo cách mạng để có cơm ăn, thuốc hút. Đang lúc đói, bốn chữ sau cùng này như có ma lực hấp dẫn Bảng. Gã không ngần ngại đứng lên vái gã một cái rồi hai người cùng lên đường.

Bảng còn nhớ rõ, ngay từ khi đi theo cách mạng, Bảng đã được dậy cho phương cách làm người khác người của đảng viên. Ban ngày trốn chui trốn nhủi như những con chuột hoang, dấu mình trong bờ cây bụi cỏ, không dám nhìn ánh sáng mặt trời. Đến khi đêm xuống thì len lén chia nhau ra theo từng toán, từng đội vác mã tấu lên vai. Ngoài miệng, nói là đi đánh đuổi thực dân đế quốc, và lật đổ cường hào ác bá, trừ hại cho dân. Nhưng trên thực tế, chúng phải thay tên đổi họ để không ai biết chúng là ai. Sau đó, chia nhau vào các làng mạc gần đó để cướp của giết người kiếm miếng ăn.

Qua phương cách sinh hoạt này, nếu bảo rằng đời Bảng đã đổi từ khi có bác thì có đổi thật. Bởi vì, ngày xưa Bảng phải làm đầy tớ, làm gia nhân cho bà phó sai khiến, rồi làm lao công cho ông Bính mới có được miếng cơm manh áo. Còn ngày nay, Bảng đã thanh thản hơn. Bảng chỉ cần đè con dao vào cổ nhân dân là có gạo có tiền.

Đến lúc lên đường vào Điện Biên, nhân chứng của đảng là đồng chí Bảng không còn một hình tượng giống như ngày đầu đi theo bác. Đã thế, trước mặt chỉ thấy một màu xanh thẳm của núi rừng, còn phía sau lưng, ngoài những bánh pháo nặng trĩu trên vai là lời hò hét, hô hào khắc phục tiến lên của cấp chỉ huy. Tiến lên cũng chết, mà không tiến lên thì khó sống với nòng súng ngắn của lãnh đạo. Cũng may mà Bảng bị thương sớm.

Ngày xuất viện trở về làng, Bảng những tưởng sẽ có nhiều người đổ ra đường hò hét, hoan hô Bảng là anh hùng cứu quốc như lời cán bộ an ủi Bảng trong thời gian nằm viện. Và từ đây, đời Bảng mới thực sự là đời đáng sống. Kết qủa, chẳng có một ma dại nào ra chào đón hoan hô Bảng. Ngay đến các đồng chí của Bảng trong chi bộ Xuân Thủy, cũng không một người dòm ngó tới.

Bảng còn nhớ như in buổi sáng hôm rời viện. Khi gã lê thân trên đôi nạng gỗ vào đến văn phòng uỷ ban nhân dân Xuân Thủy. Những người có mặt đã bỡ ngỡ nhìn Bảng như nhìn một tên khất thực. Sau khi Bảng trình giấy tờ liên hệ chứng minh, người ủy viên thư ký miễn cưỡng chỉ cho Bảng cái ghế ngồi chờ. Đợi qua trưa, anh ta trở lại phát cho Bảng cuốn sổ phục viên với tiêu chuẩn mua lương thực theo hộ của Bảng là hết nhiệm vụ. Bảng thấy bất bình, gã lên tiếng:

– Anh biết tôi là ai không?

  Người ủy viên chống mắt nhìn Bảng:

– Là ai? Ông giời à?

  Nói xong anh ta bỏ đi. Bảng nóng mặt hét lớn:

– Anh kia, thủ trưởng của anh đâu?

  Một người khác hỏi chen vào:

– Chuyện gì thế, anh muốn làm loạn ở cơ quan à?

Nghe hỏi, Bảng đứng ngay như cán cuốc, đưa cuốn sổ vừa nhận ra trước mặt như muốn phân trần vài câu. Thấy Bảng chống nạng, anh ta bước đến cầm lấy cuốn sổ:

– À tưởng gì, chuyện này dễ thôi đồng chí ạ. Phiền đồng chí tuần sau đến phòng thương binh xác minh thêm lần nữa, rồi trở lại đây chúng tôi sẽ đăng ký hộ khẩu cho đồng chí sau.

– Còn cuốn sổ này?

– Đây mới chỉ là bước đầu kiểm tra thôi. Cuốn sổ này chưa dùng được, phiền đồng chí một tý nhá.

Bảng đỏ mặt, cầm lấy cuốn sổ rồi cắm mạnh đôi nạng gỗ xuống trên mặt đường. Cùng lúc đó, lòng căm thù, nỗi uất hận dâng lên nghẹn cổ. Gã không tiếc lời thóa mạ người đã dẫn gã đi làm cách mạng.

Kịp đến lúc chính sách đấu tố phú nông địa hào ra đời, đảng ủy địa phương nhớ lại cái tên Bảng. Qua phần đánh giá, chúng đến động viên Bảng bằng một lý lẽ vô cùng sắc bén. Xúi dục Bảng hãy vì đảng mà đổ hết mọi uất hận, căm thù lên đầu lên cổ những tên cường hào ác bá và con cháu của chúng. Bởi vì, chính chúng là kẻ đã gây ra cái khốn cùng của Bảng vào ngày hôm nay. Nghe nói thế, Bảng đứng bật dậy và cương quyết đi theo bác một lần nữa. Nhưng trong lần này, gã muốn cái tên Nguyễn văn Bảng phải thăng hoa chung với mùa đấu tố. Bác chiều Bảng, và đảng trịnh trọng trao cây mã tấu và chức đao phủ vào tay Bảng…

Chắc chắn không một người nào có thể hình dung ra được những hình ảnh chuẩn xác về mùa đấu tố. Chỉ may ra, những người trực tiếp đứng nhìn cảnh đấu tố, đứng nhìn cảnh Việt Minh giết người cướp của ở trên đất bắc dưới chiêu bài cải cách ruộng đất, vào thời kỳ 53- 56 mới khả dĩ thấy, và hiểu được phần nào cái dã nhân, cái vô đạo của Hồ chí  Minh và Đặng Xuân Khu trong trò chơi chết người này.

Riêng vùng Xuân Thủy, Con số những người bị đấu tố chết đến nay không ai biết được đích xác. Tuy nhiên, từ mấy ngày trước khi cuộc đấu tố nổ ra, làng nước đã xôn sao bàn tán về chuyện Nguyễn văn Bảng tự nhiên được đặc cách lên làm đội phó đội cải cách Xuân Thủy. Tin đồn, lời bàn tán, chuỵện to nhỏ chưa lắng xuống đã nghe bên Lục Thủy, Lục Giao, Hành Thiện đồng loạt khai dao mở hội và mời Bảng sang dự khán.

Thật ra, Nguyễn văn Bảng không tự nhiên được đặc cách như làng nước bàn tán, nhưng gã được đưa vào chức vụ này là do qúa trình tranh đấu của bản thân, và do qúa trình giáo dục, kiến tạo và nuôi dưỡng lâu dài của đảng. Đảng đã đứng trên đỉnh cao để huấn luyện Bảng từ trong trứng nước, đã biến gã từ một kẻ nông phu áo vá trở thành một kẻ sát nhân lành nghề. Chính đảng đã nuôi Bảng trong hận thù để Bảng ra tay trong mùa đấu tố này.

Nên khi nhận cây mã tấu và chức vụ đội phó đội đấu tố Xuân Thủy, Bảng có ngay một danh sách dài những nạn nhân, trong đó có nhiều người trước đây từng gia ơn cho chính bản thân, rồi bố mẹ Bảng cũng như dân làng là ông phú Lộc, ông chánh Khuyên, ông lý Tạo… bà phó Ba, và ông Bính bố vợ của Bảng.

Sau khi có trong tay danh sách thành phần bị ghép vào tội cường hào ác bá ở Xuân Thủy, Bảng hội ý với chi bộ rồi chọn ngày, chọn địa điểm để khai mạc đại hội múa dao. Đúng 7 gìơ chiều ngày khai dao ở Xuân Thủy, khi trời vừa chạng vạng tối, Bảng cho đốt lên một số ngọn đuốc ở chung quanh khu đất trống đầu thôn đông, nơi được chọn làm pháp trường, rồi sai các cháu ngoan của bác lùa toàn dân sống trong vùng ra tham dự đại hội.

Gọi nó là đại hội múa dao bởi vì chỉ một lát sau, dưới ánh đuốc chập chờn, đội phó Nguyễn văn Bảng quần ống thấp ống cao, hai tay nâng cao cái mã tấu trên đầu, anh dũng dẫn đầu đoàn múa tiến vào pháp trường. Đi sát theo sau lưng Bảng là đội thiếu nhi quàng khăn đỏ. Đội này bao gồm cả trai lẫn gái, là con cái của những nhà cách mạng tuổi khoảng từ 10 đến 14 tuổi. Chúng vừa đi vừa hát vang bài Đấu Tố Ca của nhà thơ lừng lẫy Xuân Diệu. Nối gót theo sau là đội bảo vệ, rồi đến các đảng ủy viên trong chi bộ Xuân Thủy. Đi đoạn hậu của đoàn kiệu là các biểu diễn viên, được liệt kê vào danh sách phú nông địa hào trong vùng.

Đoàn biểu diễn viên đêm nay, không đi đứng theo thủ tục rườm rà với lễ nghi kiểu cách, bao gồm cái áo chùng thâm, quần dài trắng, tay cắp ô đen ngồi trên cáng vuốt râu! Thay vào đó là kiểu trang phục đơn giản. Một cái quần cụt, một manh áo ngắn và đi chân đất. Khi đi, ngoài những khuôn mặt hoặc hốc hác với vài ba chòm râu lưa thưa, hoặc bị biến sắc dị thường dưới ánh lửa.

Cánh tay của biểu diễn viên đều vắt ra phía sau lưng và được giữ lại nguyên vị trí đó bằng một đầu sợi giây nhợ. Đầu giây còn lại, được kết thành vòng hoa giống như cái thòng lọng đặt nằm gọn trong cổ người diễn viên đi kế. Đoàn biễu diễn hội múa dao đêm nay gồm có 5 người. Họ là những người lớn tuổi và vì khúc dây còn lại từ tay người đi trước đến cái cổ của người đi sau hơi ngắn, nên họ đã đồng loạt khom lưng cúi đầu cất bước trên đôi chân không thẳng.

Vào đến… hí trường, chi bộ và đội thiếu nhi khăn đỏ phụ diễn văn nghệ đi vào vị trí của mình. Riêng đoàn diễn viên được đội phó Nguyễn văn Bảng và hai cán bộ bảo vệ, cầm giây dẫn đi một vòng quanh sân để chào khán gỉa. Bởi vì đây là lần đầu tiên có hội múa dao đấu tố ở Xuân Thủy, bà con ta chưa quen xem trò diễn xuất mới của nhà nước nên họ quên mất phần vỗ tay cổ võ. Tệ hơn thế, lại có người ti tỉ như tiếng khóc cha, khóc chồng văng vẳng quanh đây.

Sau khi dẫn diễn viên đi chào khán giả, đội phó Bảng ra lệnh cho các tay lý trưởng, chánh tổng hoặc bá hộ trước kia qùy mọp giữa pháp trường. Kế đến, đội trưởng quàng khăn đỏ, theo lệnh của Bảng, bước ra đọc tên tuổi và tội lỗi của từng người cho dân làng nghe. Trong khí thế hừng hực của ngọn đuốc đấu tranh, và khí thế sôi nổi giết người để cướp của của Việt Minh cộng sản, mà đại diện ở Xuân Thủy là Bảng đã ra oai hò hét, thúc dục các gia đình cách mạng và những kẻ muốn theo bác lập công ra lời đấu tố những người đã ban ơn cho mình trước kia.

Kết qủa, nhờ công lao tận lực hò hét của Bảng, nhờ lòng sôi nổi đòi giết người trả ân của những gia đình cách mạng Việt cộng, ủy ban đấu tố Xuân Thủy đêm nay đã thuận ghép tượng trưng ba tay thuộc hàng lý trưởng, chánh tổng và bá hộ trước kia vào tội chết chém. Lệnh vừa ban ra, đầu của những tay được gọi là cường hào ác bá, có nợ máu với… bác rơi phịch xuống đất và máu bắn vọt lên giời. Riêng cây mã tấu của đội đấu vẫn không một vết đỏ. Như thế, dưới ánh lửa chập chờn man dại, pha lẫn với màu máu đỏ trong đêm tối, bác và chính sách đấu tố mặt đỏ như vang, những kẻ khác mặt vàng như nghệ.

Chém xong, nhân dân giải tán. Trên đường về không ai dám nói với ai một câu nào. Riêng thân nhân của người chết, hôm sau  được ủy ban cải cách cho phép đã âm thầm mang theo manh chiếu, đến nhặt lấy đầu người vừa bị chém, ghép liền với thân và đưa họ về bên kia thế giới. Có người đã giữ lấy sợi giây cột tay của nạn nhân làm kỷ niệm. Nhưng có người thay vì giữ lấy vật kỷ niệm ấy làm vốn, họ lại dùng chính sợi giây ấy để buộc vào cổ mình sau khi đưa nạn nhân về miền đất lạnh.

Đợt ba, ông Bính, bà phó Ba nằm chung trong một danh sách. Trước gìơ khai đao, bà phó Ba nhanh miệng kêu oan với ủy ban:

– Rằng bà nhà nghèo, bà bị ép buộc làm lẽ mọn cho người ta. Nhờ đó, bà có miếng đất, có ruộng vườn và cả đời bà chả bóc lột ai.

Nghe thế, Bảng bật cười, riêng ủy ban thấy bà nói có tình có lý nên thuận cho phép bà được sống. Tuy nhiên, tội chết có thể tha, tội sống không được dung! Nhà nước truyền lệnh cho bà phó phải giao nộp toàn bộ tài sản lại cho nhân dân. Bà phó Ba mừng đến run chân tay, vội đứng lên tế đội phó Bảng như tế sao và xin dâng hết mọi thứ cho bác.

Đến phiên ông Bính, thay vì kêu oan với ủy ban như bà phó, ông lại giận dỗi nhìn mặt đội phó Bảng mắng gọn:

– Nhà tao không có loài vô phúc như mày.

Thế là có đoạn kết. Cuộc đấu rất nhanh. “xoạt”, tiếng kêu nghe rất ngọt, rất nhẹ nhàng. Đầu ông Bính lăn quay trên mặt đất, Nụ lao ra chỉ mặt Bảng chửi như tát nước. Mặc, Bảng không một nao núng. Lý do, Bảng là đội phó, Bảng chỉ là người thay mặt  đảng để thi hành lệnh! Đã thế, Bảng không chém ông Bính, nhưng là kẻ khác. Bảng nghĩ đúng, nhưng dân làng trông thấy Bảng lại ngỡ là gặp ác qủy, họ muốn lánh cho xa. Trước oan tình này, Bảng bình chân cho là nhân dân nghĩ nhầm. Nhầm vì Bảng chỉ là  đồng chí tốt của bác. Bảng không phải là ác quỷ.

Nói thì như thế, nhưng thật ra, không thể đem Bảng so xánh với bác được. Bởi lẽ, kể từ khi Nụ bỏ đi, có nhiều đêm sau cuộc say men đấu tố chém giết trở về, Bảng đã không tìm được một giấc ngủ yên. Khi vừa chợp mắt là Bảng kinh hoảng gào thét lên vì mơ thấy nhiều hồn oan hiện về đòi trả lại mạng.

Một trong những lần kinh hoàng nhất là lần Bảng nom thấy bộ quần áo của gã vất ở góc nhà từ từ đứng dậy. Nó quơ tay múa chân, di động tiến về phía giường Bảng đang nằm. Khi cánh tay áo vừa chụp xuống, Bảng hoảng thần hồn, hất tung nó ra rồi cắm đầu đạp tung cánh cửa chạy ra ngoài. Bảng hốt hoảng chạy ngang qua cái ao cạn lúc nào cũng không hay. Khi sang đến bờ bên kia Bảng vẫn chưa hoàn hồn, gã lại cắm đầu chạy tiếp. Chạy đến cuồng chân, Bảng ngồi xuống đường bó chặt đôi chân vào nhau thở dốc. Khi ấy, bụng thì lo, nhưng mồm Bảng lại lẩm bẩm:

– Khéo mình nhầm. Đã có bác đảng ở đây, ma qủy làm sao có thể hiện hình được?

Nhờ lý luận sắc bén ấy, cơn khủng hoảng lắng xuống, Bảng lại quay trở về. Về đến nhà, Bảng thận trọng nghe ngóng trước khi bước qua khung cửa. Sau đó, rón rén từng bước đi về phía góc nhà. Bảng tìm rồi nắm chặt lấy cái mã tấu. Khi có linh hồn của đảng trong tay, Bảng tự tin hơn. Gã quơ tay tìm cái đèn bật trên chõng. Gã nín thở bật lửa. Lạ! Cái đèn bật của Bảng thường rất nhạy, nhưng không hiểu lý do gì đêm ấy gã bật đến bốn năm lần ánh lửa chỉ lóe lên rồi tắt. Bảng toát mồ hôi, gã co chân toan bỏ chạy lần nữa. Cũng may, cùng lúc ngọn lửa bắt cháy trên cái tim đèn. Bảng vội châm lửa vào cái đóm tre và cái đèn dầu. Sau đó, một tay cầm dao, một tay cầm đèn đi một vòng quanh nhà để kiểm tra.

Khi đi đến cái buồng ngủ của Nụ, gã vén rèm cửa nhìn vào. Căn buồng trống trơn với gối chăn lạnh. Gã đứng nhìn một lát rồi trở ra. Soi hết phòng trong, Bảng quay ra nhà ngoài. Tuy không bắt được ma, Bảng vẫn không hiểu nổi lý do tại sao bộ quần áo của gã nằm mỗi nơi một cái. Gã vội nhảy lên giường trong lúc tay không rời nắm dao. Rồi không chờ ai dục, Bảng lâm râm lời khấn hứa với thần linh. Gã thề sẽ từ bỏ con đường gây ra nghiệp chướng thay vì lời hứa tuyệt đối trung thành với bác và với cái mã tấu.

Không may cho Bảng. Khi nắng vừa vươn lên đầu ngọn cây, đồng chí Bảng lại nghe thấy lời kêu gọi đi tìm vinh quang với bác. Bảng lại đứng lên, quên hết âu lo đêm trước. Mặc lại bộ quần áo cũ, chân xỏ vào đôi dép râu, đầu đội cái nón cối, tay cầm chắc cái mã tấu của đảng ra đi. Ra đi hành nghề giết mướn cho đến hết đời…

Hết đời! Bảng giật mình răng cắn phải lưỡi. Gã khựng lại một chút, lùa hết miếng cơm trong bát vào miệng. Trước khi đứng dậy, Bảng gắp thêm cọng rau muống, chấm chút tương cho vào miệng nhai nhóp nhép. Nhìn ra ngoài, biết đã muộn, gã tranh thủ xuống bếp lấy ấm nước. Lúc đi ngang cái sân trống, Bảng thấy Nụ đang lúi húi giặt  quân áo bên cầu ao, nhưng không lên tiếng hỏi hoặc dục Nụ vào ăn cơm. Lát sau, Bảng cầm cái đèn bật và cái xáp thuốc cho vào trong túi áo. Gã đứng lên đi ra cửa, nói vọng lại phía sau lưng:

– Tôi đi đàng này có chút việc khẩn trương đây, chắc là về tối đấy…

  • Chương 1

    Sau hơi thuốc lào dãn phổi, Bảng đứng dậy, nhịp nhàng vỗ đôi tay vào nhau:  - Báo cáo làng nước đã hết gìơ nghỉ.…

  • Chương 2

    Sau khi khóa cánh cửa ra vào bằng một ống khóa to bản, Bảng kẹp cái mũ cối vào bên hông, bước vội ra đường.…

  • Chương 3

    Ra đến đầu ngõ, Bảng thấy một bóng người chạy xầm xập lại trước mặt. Gã quát hỏi: - Ai đó? - Tôi đây! Thưa…

  • Chương 4

    Thời khóa biểu của ông Lục vào những ngày không đưa con Mễ đi cày rất giống nhau. Buổi sáng, sau khi lót dạ một…

>>> Tìm Theo Thể Loại Mà Quý Vị Đang Quan Tâm <<< [Không Quảng Cáo]