Chuyện ngày 30-4

Đoàn quân Tàu ô đi, chung lòng kíu quốc…”  

Bài hát này quen qúa phải không bạn? Dĩ nhiên rồi.  Khi còn ở bắc nhiều người đã bị nổi da gà mỗi lần nó nhắc đến câu man rợ“Cờ in máu chiến thắng vang hồn nước….”. Phần cá nhân, mãi đến sau này khi lớn lên, tôi mới biết đó là bài quốc ca của nhà nước Việt cộng do Hồ chí Minh làm chủ tịch. Và biết thêm, chính nó là một trong những nguyên nhân làm cho đồng bào ta ở miền bắc phải bỏ lại cửa nhà, tài sản ruộng đất mà kéo nhau vào nam năm 1954.  Lý do, bài hát tung hê như thế, nhưng không ai thấy hồn nước Nam ở nơi đâu. Trái lại, chỉ thấy có hồn Tàu lơ lửng thôi! Bạn đừng vội trách tôi chế biến nhá, nhưng hãy cùng tôi bước đi theo từng bước để xem cái “cờ máu in hình nước” ấy ở đâu, ra sao? Nó mang hồn Tầu hay hồn Việt cộng đây?

I.       Những chuyện trên đất bắc.

Dĩ  nhiên là có rất nhiều chuyện cần nhắc đến. Nhưng nơi đây, tôi chỉ ghi lại vài ba điều nhỏ mà ai cũng đã biết tỏ tường mà thôi.

1.     Với những người hoạt động vì đất nước.

Mãi mãi dòng lịch sử Việt Nam còn nhắc đến công cuộc kháng chiến chống bọn xâm lược Pháp của toàn dân Việt Nam. Và muôn đời nơi đây còn nhắc đến tên tuổi những vị anh hùng, tài danh của dân Tộc như Phan bội Châu đã bị Hồ chí Minh trong vai Lý Thụy và Lâm đức Thụ  lừa bán cho Pháp để lấy 100,000 fr. (Thành ngữ- điển tích- Danh nhân tự điển (NXB Văn Học)  Kế đến, những nhà hoạt động cho đất nước này trong giới tôn giáo cũng như văn nghệ, chính trị như Đức Hùynh phú Sổ, cha chính Vinh (nhà thờ Hà Nội) hay nhà văn Khái Hưng…  cũng đều bị quân Tàu ô Hồ chí Minh ám sát, thủ tiêu hay giết hại trong các nhà tù ở ngoài bắc hay trong nam. Và dĩ nhiên, còn rất nhiều những chiến sỹ của Việt Nam đã bị chung số phận. Tuy nhiên, trong trang giấy nhỏ hẹp này không có đủ số trang để viết về từng tội ác của chúng.

2.     Với người dân Việt Nam.

Trong chiến tranh, ai cũng biết ngưòi dân Việt Nam đã bị căng ra vì bom rơi, đạn xéo qua nhiều năm. Dĩ nhiên, con số bị chết do chiến tranh có thể lớn hơn, nhưng không bao giờ lại kinh hoàng hơn, khủng khiếp hơn, hoặc kinh dị cho bằng con số những người Việt Nam bị tập đoàn Hồ chí Minh chém lén, thủ tiêu trong thời chiến hay tặng dao, tặng búa trong mùa đấu tố 1953-1956.

Ai cũng biết, dòng lịch sử của Việt Nam còn ghi lại cuộc tàn sát, giết dân lành vô cùng độc ác, tàn bạo của Hồ chí Minh đã mở ra ngay từ khi cuộc chiến tranh Pháp Việt chưa kết thúc. Chỉ riêng trong cao điểm 1953-1956, tập đoàn cộng phỉ Hồ chí Minh đã sát hại trên số 172000 ngàn người Việt Nam. Và chuyện kinh tởm hơn là, sau khi giết người, cướp của, chúng reo hò rồi treo vào cổ người vừa bị giết một bản án là phú nông hay địa hào. Từ đây, những người liên hệ còn sống trong gia đình của người bị kết án trở thành những kẻ vô gia cư, tự kiếm ăn từ cái chuồng trâu này đến cái chuồng bò khác. (vợ của nhà thơ Hữu Loan là một thí dụ)

Nhìn và thực tế là trong ngành nông nghiệp Việt Nam thời đó, đa phần những phú nông, trung nông này chỉ có vài, ba mẫu ruộng, vài dàn trâu cày. Đời họ là một đời bán lưng cho trời, bán mặt cho đất để có bát cơm, manh áo cho gia đình. Tuy thế, những thành phần lao động này đã phải nhận lấy án tử. Họ phải chết vì những lý do sau: Thứ nhất, Hồ chí Minh muốn tước đoạt lấy phần tài sản của họ. Thứ hai, sau chiến tranh mã tấu có thừa, Y không ngần ngại tặng cho thành phần này mỗi người một nhát. Sau cùng, Y biết rõ là có chém, có giết là chém giết người Việt Nam thôi, những ngưòi này chẳng có một ai có liên hệ đến dòng Hồ Quang bên Tàu của Y. Nên chẳng cần phải suy tính!

Tuy nhiên, phần lịch sử Việt Nam sẽ ngàn đời không khi nào quên ghi lại những nỗi kinh hoàng này. Đã thế, còn nổi lên trên nỗi kinh hoàng ấy là hình ảnh của bà Nguyễn thị Năm, một phú hộ đã bỏ ra hàng ngàn lượng vàng để ủng hộ cho kháng chiến chống pháp. Hơn thế, nơi ở của bà đã là một trạm trú ẩn, nơi dừng chân, rồi bao che và liên lạc an toàn với cơm ngon rượu qúy ngày ngày hai buổi đem lên cho những tên cán cộng đáng gọi là bất lương như những Đặng xuân Khu, Phạm văn Đồng, Hoàng Tùng, Võ nguyên Giáp,  Nguyễn duy Trinh, Nguyễn chí Thanh, Nguyễn lương Bằng, Lê đức Thọ…. Và có khi có mặt cả chính bản thân Hồ chí Minh cùng chung hưởng.  

Kết quả, chính bà đã nhận được cái mã tấu cũng như bản cáo trạng “ địa chủ ác ghê” của Hồ chí Minh viết như kỷ niệm để đời được đọc trong ngày sử án. Hơn thế, đích thân Hồ chí Minh và Đặng xuân Khu “kẻ đeo kính râm, kẻ bịt râu che mặt đến dựmột buổi” (Đèn Cù, Trần Đĩnh). Ngày nay bất cứ ai đọc lại bài viết này thì cũng đểu phải nôn mửa vì cái phản phúc, bất nghĩa, vô nhân nếu như không muốn nói là vô loài và độc ác của chính kẻ viết ra nó. Nhiều người cho rằng. Nếu bà biết được cái lòng lang dạ sói của chúng, bà báo cho mật thám phám Pháp một câu thì… ô hô Việt cộng! Tiếc, thật tiếc!

3.     Cuộc di cư.

Với những bản tin trên và sự thật về Việt Minh đã được phơi bày ở khắp nơi, nên ngay sau ngày đình chiến 20-7-1954 đã có gần một triệu ngưòi dân miền bắc, từ thành thị cho đến nông thôn, kể cả miều thượng du đã để lại toàn bộ nhà cửa, của cải và liều chết di cư vào nam. Có đoạn đường di cư nào ngắn và tốt đẹp đâu! Nhưng nếu không vươn ra khỏi nỗi lo âu, sợ hãi hoặc không chạy thoát, người ta tin chắc chắn rằng con số những người bị chúng thảm sát trong mùa đấu tố không phải là 172000 người, nhưng phải là một số lượng nhiều hơn thế nhiều. Và lẽ dĩ nhiên, ở làng tôi biết đâu lại có những kẻ học theo gương của Hồ chí Minh hay chỉ tay vào mặt bố mẹ theo “ ông đội, bà đội” mà hỏi “Thằng này, con này, mày có biết ông là ai không” ? (Chứng từ của một GM, GM Lê đắc Trọng, Hà Nội).  hoặc gỉa “Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi mà mi thì sẽ nhất định chống lại”. Bà mẹ cắn lưỡi không chết, ít lâu sau nhảy giếng tự tử. Nhờ thành tích giết mẹ đó, Chu Văn Biên được đảng trao chức Thứ trưởng Bộ nông nghiệp ( Đèn Cù Trần Đĩnh)

II.   Những di truyền tội ác do Việt cộng thực hiện tại miền nam Việt Nam..

1.     Tết Mậu Thân.

Chuyện Việt cộng đắp mô trên đường ở miền nam không phải chờ đến năm 1968 mới có, nhưng là trưóc đó, từ cuối năm 1962, chuyện đêm đêm Việt cộng đắp mô, mò vào làng thôn cướp của giết người đã xảy ra tại nhiều nơi. Nhưng khi quôc sách Ấp Chiến Lược ra đời, việc Việt cộng đêm đêm muốn đi cướp của giết người, kiếm ăn tự nhiên ra khó, và càng lúc càng co cụm vào trong cõi chết. Tuy nhiên, cuộc đảo chánh ờ miền nam vào ngày  01-11-1963 do một nhóm tướng, tá thực hiện đã đưa miền nam vào cõi chết. Trước mắt, chúng giết chết mộng ước xây dựng Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ và Công lý ở miền nam, sau còn là sự mở đường cho tập đoàn cộng phỉ từ bắc tràn vào nam.

Thật vậy, câu chuyện ở miền nam từ đây như chuyện nhà không chủ với cảnh:

Nơi biên cương từng ngày bão nổi.

Chốn lầu son con rối hát hò.

Cơ may đục nước béo cò,

Hang sâu chuột chũi bày trò lửa binh.

Ai cũng biết, từ đây miền nam như nhà không chủ. Ấp Chiến Lược bị chúng hủy hoại, mở đường cho Việt cộng xuôi nam và lẩn tránh vào làng thôn ngày một nhiều hơn. Cuối cùng, cuộc chiến bùng nổ trên hầu hết các tỉnh thành ở miền nam vào tết Mậu Thân 1968. Kết qủa, tuy mọi tỉnh thành đến đồn vắng nơi rừng cao đều trở lại yên bình với ngọn cờ Vàng bay cao. Nhưng gía máu của quãng thời gian này không phải là nhỏ.

Riêng Huế, một thành phố nơi tuyến đầu, sau một tháng trời được đoàn quân Tàu ô đến giải phóng, và nhờ tài chỉ điểm hạ quyết tâm giết chết nguồn vui trong cuộc sống của đồng bào ta qua những tên tay sai Nguyễn Đóa, Nguyễn đắc Xuân, Nguyễn phủ ngọc Tường, Ngọc Phan, Nguyễn thị Đoan Trinh, Lê văn Hảo… hoặc gỉa, không thiếu tên tuổi của Thích  đôn Hậu, thích trí Quang…  đã có hơn 6000 người dân Huế, bao gồm từ trẻ thơ đến ông già bà cả đã được Hồ chí Minh cột chung lại với nhau bằng giây lòi tói và đẩy vào những mồ tập thể. Chính nhà văn quân đội của Việt cộng, đại tá Xuân Thiều trình bày: “Tôi thấy Tết Mậu Thân 68 ở Huế chết chóc nhiều quá, mất mát đau thương lớn quá. Bộ đội chết không còn người để chôn nhau. Dân chết cũng nhiều..”. Mới nghe có thế, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đứng bật dậy, đỏ mặt quát: “Ngu! Ngu! Đại Tá mà ngu!...” rồi ông đùng đùng bước nhanh ra cửa như chạy trốn.”!

Ai cũng biết, biến cố Mậu Thân xảy ra chưa đầy một tháng, theo báo chí Cộng Sản tiết lộ vào năm 1998 (kỷ niệm 30 năm Mậu Thân 1968-1998) thì đã có trên 100.000 lính Việt Cộng chết hoặc mất tích. Trong khi đó, theo thống kê của VNCH có 4.954 binh sĩ tử trận, 15.097 bị thương. Về phia Hoa kỳ có 147 chết và 857 bị thương. Cộng Sản đã làm cho 627.000 dân vô tội phải cảnh màn trời chiếu đất, phải bỏ vùng quê chạy về thành phố, có 14.300 dân bị chết và 24.000 người bị thương.

Xem ra, chiến công ấy của tập đoàn CS Hồ chí Minh là đời đời vinh quang với ngọn cờ đỏ Phúc Kiến. Phần người dân Việt là đời đời còn ghi lại nét đau thương.

2.     Chuyện mùa hè đỏ lửa. 1972

Thành Quảng Trị máu tươi hồng

Thân người như rạ chất chồng lên cao…

Đây là câu chuyện về một “Mùa Hè Đỏ Lửa” (tựa đề một cuốn sách của Phan Nhật Nam). Hoặc giả “Ta đi chẳng thây phố chẳng thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”!(Trần Dần). Kết qủa, sau hơn mấy tháng trời tạm chiếm cổ Thành Quảng Trị, cộng sản Hồ chí Minh đã bị đánh bật ra khỏi nơi đây. Tuy nhiên, sau cơn bão lữa với 51 ngày đêm (không tính thời gian VC chiếm cổ thành trước đó), nắm xương gởi vào lòng đất được kiểm nghiệm về phía Việt Nam cộng Hòa trong chiến dịch này là hơn 3400 Tử Sỹ của Thủy quân Lục Chiến, Nhảy Dù… Tất cả được an táng theo nghi lễ trong các nghĩa trang quân đội. Vê phía Việt cộng được ghi nhận là các sư đoàn 308, 305, 325 và các trung đoàn chiến xa 203 và 302 đã bị tổn thất nặng nề. Riêng trung đoàn 48 phòng thủ trong cổ thành coi như đã hoàn toàn được giải phóng, xóa sổ. Tất cả có trên 5542 quân bị chết để xác tại trận, số chết ở bên ngoài rồi được mang đi và bị thương không thể kiểm đếm được là bao nhiêu. Phận những người đã nằm xuống tại trận địa thì sau đó được chôn trong những ngôi mồ tập thể không tên không tuổi.

 Qủa thật là cảnh “chẳng thấy phố cũng chẳng thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”!

3.     Đại lộ kinh hoàng.

Sau Huế là Đại Lộ Kinh Hoàng rồi đến Quảng Trị. Sau này là đưòng số 7, số 9, số 10 từ cao nguyên Trung Phần xuôi nam vào những ngày đầu tháng 3-1975. Đó là những đoạn đường kinh hoàng, đẫm lệ, thẫm máu, có lẽ không bao giờ mờ phai đi trong tâm trí của những người Việt Nam cùng thời. Và có sẽ cũng chẳng bao giờ không làm cho những người đến sau hết bàng hoàng, đớn đau khi nghe nhắc lại chuyện xưa. Tuy thế, đó chưa phải là đoạn kết. Tất cả đều thu gọn lại vào ngày 30-4-1975 tại Sài Gòn. Nơi đó, tuy không có những cuộc giao tranh đẫm máu. Nơi đó chưa có những cuộc thảm sát tưới máu của đồng bào Việt Nam do Việt cộng thực hiện. Nhưng nơi đó sẽ là nơi dòng nước mắt của người Việt Nam không bao giờ cạn. Bởi lẽ, từ đây người Việt Nam đã mất tất cả. Mất từ cuộc sống về tinh thần là Tự Do, Độc Lập và Công Lý. Rồi mất hơi thở từ ngọn cờ Vàng yêu thương, tình nghĩa của quê hương. Sau cùng, tất cả đều bị trấn lột toàn bộ phần thể chất, từ nhà cửa cho đến ruộng vườn, áo cơm. Xem ra, chuyện mất mát này còn tàn bạo thê lương hơn cả sự chết.

–         Tại sao thế?

Tất cả được trả lời bằng một tiếng kêu thất thanh:

–         Ta đã mất nước. Giặc đã vào nhà!

Cùng với tiếng kêu gào thất thanh ấy là tiếng kèn loa của quân bắc cộng: “ Nhà của chúng ta ở, vợ của chúng ta sài, con của chúng ta bắt làm nô lệ, phần chúng ta đưa đi cải tạo..” (Nguyễn Hộ). Sau này là Đỗ Mười cũng lập lại tương tự: “Giải phóng miền Nam, chúng ta có quyền tịch thu tài sản, trưng dụng nhà cửa, hãng xưởng, ruộng đất chúng nó. Xe chúng nó ta đi, vợ chúng nó ta lấy, con chúng nó ta bắt làm nô lệ. Còn chúng nó thì ta đày đi lao động khổ sai vùng kinh tế mới vào nơi rừng sâu nước độc. Chúng nó sẽ chết lần mòn…(Đỗ Mười)Hỏi xem, người miền nam còn lại gì sau những mệnh lệnh chỉ huy man rợ ấy?

III.                       Thành qủa của đoàn quân VC sau ngày Sài Gòn bị giải phóng.

Vào chiều ngày 30-4- 1975, tôi vẫn đứng trên sân thượng của một căn nhà gần cầu Thị Nghè để nhìn trời đất và nhìn cuộc đổi đời đang diễn ra. Hôm ấy hình như nắng mau tàn, trời về chiều lại có nhiều mây đen nên chóng tối. Tiếng súng trận như đã lặng. Trên cao, trời thanh vắng. Các nhà kế bên hay đối diện đều đóng cửa với những cánh khép hờ. Và sau cái cánh hé mở kia hoặc sau rèm của sổ là bóng người lấp ló với những ánh mắt âu lo nhìn ra đường. Trong khi đó, tuyến đường huyết mạch chạy thẳng vào đường Thống Nhất không lúc nào ngớt tiếng gầm thét của các loại xe molôtova hay T54.

Nhìn kỹ hơn, cùng lúc với những hàng bánh xe chuyển động kia là hàng lớp cán binh Việt cộng, với những bộ quần áo xanh màu cứt ngựa mới được mặc lần đầu, với khẩu AK trên tay đang đi theo hàng dọc để đi vào phố của Người một cách nghiêm chỉnh. Chênh chếch về phía tay trái của tôi là cầu Thị Nghè. Ở đó còn một chiếc M48 của thiết giáp nằm trên dốc cầu từ nhiều ngày trước. Bất ngờ, vào khoảng trước 10 giờ sáng nay ngày 30-4-1975, nó nhận một thảm họa lớn. Khi chiếc T54 đầu tiên của Việt cộng ập đến, nó khựng lại, hạ nòng trực diện và tống cho chiếc M48 chặn bên cầu một qủa pháo. Tháp chiếc M48 không người tung lên theo tiếng nổ lớn, rồi nằm im với khói tỏa lên. Phần chiếc T 54 thích chí, chạy vượt qua cầu rẽ về hướng sờ thú.

Rõ ràng tiếng nổ lớn ấy làm cho dân chúng gần đó thêm hoảng hốt. Phần những người lính trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa hiện diện trong khu vực, có lẽ cũng từ thời điểm đó đã tự quăng mũ, cởi bỏ giày sô trận, áo giáp binh, vất bỏ súng đạn dọc trên đường. Họ thất thểu bước đi về phố với mình trần. Khi thấy họ đi ngang, một số người từ trong nhà vội đem ra những ôm quần áo. Tất cả đều vội vàng trong âu lo, xót xa, thương mến:

–         Mặc vào đi, thay nhanh lên, vào trong nhà này rồi sau hãy tính.

Những người lính của miền nam như chẳng còn quan tâm gì đến sống chết khi ngọn cờ của họ không còn tung bay. Họ đang bước những bước chân hoang, vô định. Người cầm lấy cái áo, kẻ cầm lấy cái quần, khoác lên vai trần và tiếp tục đi về phía trước.

Trước đó không lâu, chủ nhân của căn nhà tôi đang đứng trên sân thượng đây là một sỹ quan còn nguyên quân phục mang hàm cấp tá cũng vừa về đến. Chưa nghe tiếng chào hỏi. Tất cả 4 ngưòi là vợ con của ông đều òa lên khóc. Ông quát:

–         Còn ở đây khóc lóc làm gì?

Câu hỏi của ông vào cõi vắng. Đứa con lớn của ông bảo:

–         Chú N. đang ở trên sân thượng. 

Ông thét lên:

–         Gọi chú xuống đây. Nhanh lên. Tất cả gọn nhẹ để ra bến tàu.

Khi gặp ông, chẳng kịp bắt tay chào nhau. Tôi bảo:

–         Chiều hôm qua em có ra Tân Cảng, tiễn vai người quen rồi về.  Họ đã đi, anh ra đó làm gì?

Nghe thế, ông thét lên vì bực mình:

–         Tại sao không đưa chị và các em các cháu ra đi. Còn ở lại đây làm cái gì?

Chừng như nhận ra sự vô lý, ông nhỏ nhẹ hơn:

–         Thôi, đi đi. Tôi vừa có hẹn với người bạn. Cùng lắm ta sẽ ra Vũng Tàu.

Sau khi gia đình anh đi, tôi trở thành chủ nhà trong một tuần lễ để chờ tin. Sau đó, khóa cửa, trở về Xuân Lộc với gia đình. Vài tuần sau tôi trở lại Sài Gòn, nhưng đã không còn dịp để bước vào căn nhà đó nữa. Lý do đơn giản, bọn phường khóm ở đó thấy nhà đóng cửa, chúng đã phá khóa và vào chiếm ngự để làm nơi ăn chỗ ở cho cái loa phường. Tôi đứng bên kia đường, nhìn căn nhà, nơi tôi đã lưu trú nhiều năm khi theo học ở Sài Gòn trong nghẹn đắng, rồi lặng lẽ ra đi, không một lần quay lại đó nữa. Đúng là cảnh phải bỏ của chạy lấy người!

1.     Chuyện điện đài đá đổng đạp.

Trên đây, chỉ là một nét chấm phẩy của cá nhân thôi, bởi lẽ, khi tôi trở lại Sài Gòn, thành phố đã ra khác rồi. Dọc theo đường Trương minh Giảng, ngã ba Hàng Xanh, đoạn cuối của đường Công Lý và nhiều nơi khác, chợ trời tự nhiên mọc lên. Người bán, người mua đi lại tấp nập. Tất cả mọi mặt hàng về điện hay sinh hoạt bình thường ở miền nam nay bỗng được khoác vào bằng những cái tên vui mới lạ: Điện đài đá đổng đạp! Kế đến là đến quần áo, nồi niêu xong chảo, bàn ghế, tủ chè hay tủ đựng quần áo bày la liệt trên nhiều quãng phố. Chủ nhân đều thuộc phe ta, phe thua trận. Phía khách hàng, tuyệt đại đa số là cán binh mọi cấp bậc gồm cả nam và nữ. Bên cạnh đó là một số thân nhân của những kẻ hồi kết, phe thắng trận!

Chính từ những điểm không hẹn trước này mà người miền nam tá hỏa khi nghe biết đến những “cụm từ” tượng hình mới trong cuộc sống như điện đài đá đổng đạp. Bạn biết điện, đài là gì không? Đó là những mặt hàng muốn sử dụng phải có điện, có pin như Radio, tủ lạnh, máy hát… Kế đến là đá, đổng, đạp chắc bạn chưa quên là những thứ gì. Ngoài ra còn máy chém nữa. Riêng đồng hồ đeo tay còn được phân biệt là có một hay hai cửa sổ.

Khi đi mua hàng, họ thường hỏi và nói thuộc lòng như nhau, nhưng phía người bán gặp nhiều khó khăn. Chỉ đến khi họ đích thị chỉ tay vào đồ vật họ muốn mua thì dân miền nam mới biết nó là cái gì. Đã thế, lúc khởi đầu lại còn gặp trường hợp khó khăn, người mua hàng chỉ có tiền “ cụ Hồ” là thứ miền nam không sài. Lý do, nhìn thấy mặt Y, dân đã thất kinh! Cũng trong khoảng thời gian này, chắc bạn còn nhớ một câu chuyện về một cán bộ ở ngoài bắc, đi theo đoàn quân vào nam. Đoạn kết, cô ngồi bệt xuống vỉa hè thàmh phố Sài Gòn mà kêu thét lên ‘ôi thời của kẻ man rợ thắng người văn Minh” chứ? (Dương thu Hương).

Tuy nhiên, có cái hay ở đây là bất cứ một cán binh việt cộng nào, binh cũng như quan hay cán bộ, nếu như chưa có cái đổng, đạp, trên tay thì coi như chưa được tái sinh vào trong kiếp người. Theo đó, điện, đài đá đổng đạp bỗng trở thành một thứ thước đo văn minh, cũng như tài sản trong sự nghiệp của đoàn quân sinh bắc nhưng chưa tử nam trong thời gọi là giải phóng miền nam!

2.     Chuyện vào vơ vét về.

Chuyện trước mắt là thế, trong khi đó, hàng ngũ trong TU hay BCT và bọn lãnh đạo trong ủy ban quân quản thì có cái nhìn sắc bén hơn. Sau khi khiêng đi 17 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa thì cho bọn tay chân lưu manh từ trung ương đến đia phương tung tin ra bên ngoài là Nguyễn văn Thiệu đã chở sang Đài Loan. Tội nghiệp cho ông,  trước khi bỏ chạy, đã trăn trối cho người Việt Nam nhớ rằng: “ đừng tin những gì thằng Việt cộng nó nói, mà hãy nhìn kỹ những gì chúng  làm” vậy mà vẫn còn mắc hoàn am cho đến mãi sau này mới có cơ hội tháo gỡ! Gọi là tháo gỡ thôi. Bởi vì cho đến hôm nay, tập đoàn Việt cộng cũng chưa bao giờ dám công bố số tiền ấy do chúng lấy và chuyển đi đâu. Do đó, trong dân chúng chỉ có lời đồn. Ông Thiệu mang đi, nhà nước cướp lại. Trong khi đó, từ thượng tầng cho đến hạ cám ở ngoài kia, tất cả đều như nhau trong việc thực hành một bài ca: Vào vơ vét về. Phần những kẻ trong cấp quyền lãnh đạo nhớn thì không quên vồ lấy một cái Villa ở trên những con đường như Phan đình Phùng, Trần qúy Cáp, Tú Xương, Duy Tân… làm của gia bảo. Tôi cũng có một người… quen nằm trong số đó.

3.     Chuyện đánh miền nam qua vụ đổi tiền và tư sản mại bản.

Nhìn chung, chuyện điện đài đá đổng đạp chỉ là những chuyện hàng chợ cho vui cửa vui nhà. Tuy nhiên, chuyện chúng muốn cướp đoạt toàn bộ tài sản của ngưòi dân miền nam chính là những lần đổi tiền.

a.    Đổi tiền ngày 22.9.1975

Từ nhiều ngày trước, có nhiều người như đã biết được một biến cố về tiền tệ sắp sảy ra, nhất là trong các giới còn lưu lại trong ngân hàng và trong đoàn công tác của sinh viên. Từ đó, người ta ăn uống không kể gì tới tiền, bia rượu, hàng hóa gía nào cũng mua. Rồi chuyện cũng tới. Lúc 2 giờ ngày 22.09.1975, đài VC loan tin về quy định đổi tiền. Tệ hơn, nó chỉ bắt đầu vào lúc 11 cho đến 23 giờ cùng ngày. Theo đó, nó chỉ có vỏn vẹn 12 giờ để hoàn thành việc thu và đổi tiền. Việc đổi tính theo thể thức và hối xuất như sau:

  • 500 đồng Việt Nam Cộng Hòa = 1 đồng Cộng hòa Miền Nam (giải phóng).

  • Mỗi gia đình chỉ được đổi 100.000 đồng cũ ra thành 200 đồng mới để tiêu dùng. Phần còn lại, Nhà nước giữ … dùm!

b.     Đổi tiền ngày 03/5/1978

Sau khi giở trò thống nhất đất nước năm 1976, Việt cộng quyết định cho xã hội chủ nghĩa tiến lên. Kỳ đổi tiền 1978 được quyết định bởi sắc lệnh số 88 CP ngày 25.04.1978 và khai triển ngày 03.05.1978. Theo đó tiền tệ hiện lưu hành tại hai miền Nam Bắc hết giá trị giao hoán và những ai đang sở hữu tiền cũ này phải đem đổi lấy tiền mới với quy định: Ở miền Bắc, một đồng mới trị giá bằng một đồng cũ, loại tiền được phát hành từ năm 1958. Riêng ở trong Nam, một đồng mới đổi được 0,80 xu tiền phát hành năm 1975.

Quy định: Dân sống ở thành phố và phụ cận được đổi tối đa 100 đồng cho mỗi hộ 1 người; 200 đồng cho mỗi hộ 2 người. Hộ trên 2 người thì từ người thứ 3 trở đi được đổi 50 đồng/người. Mức tối đa cho một hộ ở thành phố bất kể số người là 500 đồng.

Dân các vùng quê được đổi theo hạn ngạch 100 đồng cho mỗi hộ 2 người (50 đồng mỗi người). Hộ trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 30 đồng/người. Tối đa cho mỗi hộ ở vùng quê, bất kể số người, là 300 đồng.

Số tiền đang có trên mức tối đa phải khai nộp và ký thác vào ngân hàng. Khi cần dùng có lý do chính đáng thì tiền đó có thể làm đơn xin rút. Một điều quy định bắt buộc nữa là người gởi tiền phải chứng minh số tiền này là tiền kiếm được bằng sức lao động của mình. Dĩ nhiên không thể là tiền ăn cướp như của các lãnh đạo nhà nước!

c.      Đổi tiền ngày 14.9.1985

Ngày 12-9-1985, báo Tuổi Trẻ vênh váo trên trang nhất: ‘Bẻ gãy thủ đoạn tung tin đổi tiền của gian thương’. Chuyện chưa khỏi 24 giờ, sáng 14.09.1985, hệ thống loa phóng thanh đường phố loan tin đổi tiền. Xem ra việc làm của kẻ cướp thường khác với hành động của nhân sinh. Khác như chính Phan Văn Khải, sau đó cũng biện giải là: “Đổi tiền là vì lợi ích của nhân dân lao động” Kế đó, Việt cộng tuyên bố đổi tiền với gía biểu 1 đồng mới ăn 10 đồng cũ. Đồng thời quy định về số lượng như sau:

–         Mỗi gia đình chỉ được đổi 20.000 đồng cũ lấy 2.000 đồng mới

–         Hộ độc thân chỉ được đổi 15.000 đồng cũ lấy 1.500 đồng mới

–         Hộ kinh doanh công thương nghiệp thì được đổi 50.000 đồng cũ lấy 5.000 đồng mới.

Nếu có tiền nhiều hơn mức ấn định thì người đổi vẫn phải nộp số tiền thặng dư và chỉ được nhận lại giấy biên nhận. Khoản tiền quá lượng nhà nước sẽ giữ lại  và sẽ được xét khi có đơn xin. Có nhiều trường hợp người ký thác sau 20 năm đến lãnh ra thì được biết không còn tiền nữa vì lạm phát, gía cả ăn mòn. Tiền cũ coi như mất gần hết. Theo Cao Sĩ Kiêm, giám đốc ngân hàng nhà nước Việt cộng thì cho tới nay (2015) nhà nước vẫn không có phương thức nào bù đắp cho những người gửi tiền khi tuân thủ theo chỉ định lúc bấy giờ nhưng bị thiệt hại.

Đến đây coi như tạm chấm dứt cuộc cướp cạn lần thứ ba của Việt cộng dành cho người dân Việt Nam. Hiện nay, tin về cuộc cướp lần thừ bốn sẽ sớm xảy ra. Hỏi xem, khi nào đây? Nếu không có, hẳn nhiên là bà con ta đang chờ ngày rửa tiền Hồ đi chăng?

4.     Chuyện Xuống Hố Cả Nước hay Xuống Hàng Chó Ngựa hôm nay.

Bạn cho rằng hai cái tựa này giống nhau và khôi hài ư? Không, nó hoàn toàn không như bạn đọc thoáng qua. Trái lại, nó là hai định đề riêng biệt, có chủ đích để dành riêng cho hai cấp người ở Việt Nam hôm nay đấy.

–         Xuống hố cả nước là dành cho người dân.

–         Xuống hàng chó ngựa là dành riêng cho thành phần cán bộ nhớn nhỏ của nhà nước Việt cộng.

Lý do: Sau cuộc đổi đời 30-4-1975, dân ta bị tụt cấp và bị chúng đẩy “ Xuống Hố Cả Nước” rồi. Trong khi đó, toàn thể cán bộ đảng viên Việt cộng nhớn nhỏ thì hồ hởi gia nhập hàng ngũ “ Xuống Hàng Chó Ngựa”!

Thật vậy, nương theo Lịch Sử của Tổ Quốc Việt Nam. Từ xưa cho đến 1945, bạn có thấy cha ông ta nương nhờ và tôn thờ bọn Tàu phương bắc bao giờ không? Không, hoàn toàn không. Hơn thế, đã có lời truyền lệnh rõ ràng “Nam quốc Sơn Hà Nam đế cư”! Theo ý chí này, chúng ta và phương bắc sẽ mỗi ngưòi trấn một phương. Không bao giờ có lệ, ta đi hầu phương bắc, dù có việc ngoại giao. Tuyệt đối, không bao giờ có cảnh láo lếu như viên phó thủ tướng của nhà nưóc Việt cộng dưới trướng Hồ chí Minh viết sách cho dân học là: “bên kia biên giới là nhà, bên này biên giới cũng là quê hương”. Như thế, ta phải hiểu rằng, chính chúng đã xác nhận Việt Nam là nô thần, là thuộc địa, nằm ở trong nhà của Trung quốc. Từ đó, việc “ Xuống Hàng Chó Ngựa/ XHCN” chỉ dành riêng cho hàng quan cán Việt cộng mà thôi. Nó tuyệt đối không dùng để ám chỉ người dân ta. Có chăng, khi chúng đi làm chó ngựa cho Bắc phương thì dân ta phải chịu lây cảnh “Xuống Hố cả Nút” mà thôi!

IV.                    Việt Nam ngày mai.

Trên đây là những nghiệp chướng để đời mà Việt cộng đã tạo ra ở trên quê hương ta kể từ ngày 02-9-1945. Rồi cũng từ đó một câu hỏi như nỗi tang thương luôn được đặt ra với chúng ta là: Việt Nam còn có ngày mai không? Bạn bảo tôi, trước 30-4-1975 chúng ta còn hy vọng có ngày mai nhưng từ đó là không! Tại sao thế?

Bởi vì, Ngày Mai thì bao giờ cũng vẫn có ở trên mảnh đất này. Mặt trời vẫn lên ở phương đông và lặn ở phương đoài. Nhưng người dân Việt Nam sẽ không có tương lai cho mình và cho con cháu mình. Bởi lẽ, Ngày mai của Độc Lập của Tự Do và của Công Lý không còn thì ngày mai ấy có cũng như không! Đó là Ngày Mai trong nô lệ, trong cõi chết. Bạn có yêu đời trong nô lệ hay trong cõi chết không?  Nếu không, chúng ta phải làm gì? Bạn có thể chọn một trong hai:

      1. Hãy cúi mặt xuống mà ăn, mà hưởng. Hay,

2.     Hãy cùng nắm lấy tay nhau, đứng dậy mà đi. Ánh Vàng quê hương vẫn rực sáng ở trên cao.

Sự chọn lựa của bạn chính là tương lại của Việt Nam ngày mai.

Bảo Giang

Mùa Quốc Hận thứ 43.

Đã xem 8381 lần

Tin tức, thời sự chọn lọc bởi Nguyễn Tuấn.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.