1

“Gia nan, thiên hạ dị”

“Tui thương ông Diệm lắm!”

(Tôi chưa xin phép ông Thầy tôi là người nói câu nầy. Tạm thời xin để trống)

Có thể ông Diệm là người dễ thương nhất trong mấy anh em nhà họ Ngô.

Trước hết, xin nói vài dư luận nhỏ nhặt về ông.

Tới khi lên làm tổng thống rồi, ông vẫn còn giữ trong nhà những cuốn vở (tập) hồi ông mới đi học.

Về ăn mặc, ông khá đơn giản. Cụ Trần Được, người tôi có dẫn ra trong bài viết về ông Ngô Đình Khôi, kể: Nhiều khi từ Huế vào Điện Bàn (dinh tổng đốc đóng ở Điện Bàn, không đóng ở Hội An), ông qua nhà cụ Võ Úy chơi (cụ Võ Úy làm Tri Phủ Điện Bàn, phủ đường cũng ở ngay đây). Có lần ông Diệm bảo: “Có cơm nguội dọn cho chú ăn. Chú đói bụng”.

Cũng cụ Trần Được kể: Lần đầu tiên ông về kinh lý tỉnh Quảng Nam. Tỉnh trưởng đón ông, đưa đi thăm các nơi, đến trưa thì “mời tiệc”. Ông Diệm không ăn, đi ra sân, đứng dưới tàng cây, bảo ông Kỳ Quang Liêm, – Tùy Viên hay Bí Thư, không nghe cụ Được kể -, lấy ra cho ông một ổ bánh mì. Ông ăn bánh mì, không vào dinh tỉnh trưởng ăn tiệc. Ông nói với cụ Được: “Ai cho thằng ni mần tỉnh trưởng. Mắt trắng môi thâm. Tướng mấy thằng ni ác lắm, mần tỉnh trưởng, “chỉ chết dân”.

Ông sợ dân khổ! Ai bảo rằng ông Diệm không thương dân thì cũng không đúng đâu!

Ông Diệm dự tính thay ông tỉnh trưởng nầy, nhưng vì “ông tỉnh” là “đệ tử” của “cậu”, nên cứ ngồi hoài, mãi đến khi ông Thục về nhậm chức ở Huế, ông Thục mới thay ông tỉnh trưởng nầy bằng người của ông Thục.

Sau khi ông làm tổng thống, “cậu” tìm một bà già ở Huế, nổi tiếng làm bánh nậm (có nơi gọi là bánh lá) ngon, đưa vô Dinh Độc Lập, làm bánh nậm cho ông Diệm ăn sáng. Ông Diệm thích món nầy.

Tuy nhiên, ông vẫn có tác phong rất “quan cách”. Hồi tôi học lớp Nhì, phải bỏ Quảng Trị vào Huế để hằng tuần đi thăm nuôi ông anh tôi đang bị tù, ông Hồng Quang, Chủ Nhiệm Chủ Bút báo Ý Dân, tòa soạn ở 11 Trần Thúc Nhẫn, Huế (nhà ông Viên Lang – Trần Duy Lang). Ông anh tôi bị 2è Bureau bắt vì tội chống Tây, làm “địch vận” cho Việt Minh – “địch vận” là tiếng ông “quan một” (tiếng gọi hồi đó) Lê Nhữ Hùng (sau nầy ông lên lon đại tá) nói với mẹ tôi khi ông tới lục soát tòa soạn báo Ý Dân – , nhân đợt khủng bố, sau khi tên Kock, bắn chết ông Hà Văn Lang tại phủ Thủ Hiến Trung Việt. Có một chủ nhật, tôi cùng mấy đứa trẻ chạy xe đạp chơi, chạy vô sân nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Có mấy ông lớn tuổi, khăn đóng (xếp), áo đen đứng “hầu cụ” ở hàng hiên, ngôi nhà sau, nhà mấy ông cha ở. Ông chú họ tôi cũng đứng ở đó. Thấy tôi, ông đuổi về, “không được làm ồn”. Nhìn vào trong phòng, tôi thấy có ông già mập, đang ngồi trên ghế. Có lẽ người đó là ông Diệm, mới từ ngoại quốc về.

Tại sao ông không ở lại tại nhà ông, gần cầu Tiệm Rượu (cầu Phú Cam). Ông sợ cái gì? Việt Minh hay Thủ Hiến Phan Văn Giáo cho người ám sát? Về chính trị, ông Diệm có không ít đối thủ, kẻ thù.

Ông Diệm là một “ông quan” làm tổng thống. Ông có trí nhớ tốt và cung cách rất quan liêu.

Khoảng các năm 1956, 57, mỗi năm đến ngày 3 tháng 1, “Sinh Nhựt Ngô Tổng Thống” học trò đại diện các trường trung học các nơi như Quốc Học, Đồng Khánh, Phan Chu Trinh, Võ Tánh, Gia Long, Trưng Vương, Chu Văn An, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản… được về Dinh Độc lập để “Chúc Thọ Ngô Tổng Thống”. Một người bạn của tôi kể:

Tổng Thống cho ăn tiệc. Ông ngồi đầu cái bàn dài, học sinh ngồi hai bên. Tổng Thống Diệm kể: “Khi tui làm tri phủ Hải Lăng, cho đào sông Vĩnh Định để đem nước ngọt vào cho dân làm ruộng. Từ phủ Hải Lăng về sông Vĩnh Định, phải đi qua làng xxx, tới làng xxx (ông bạn tôi không nhớ tên làng). Tới đó, gặp hàng tre, rẽ bên phải, gặp cái miếu, rẽ bên trái, đi thêm một chặp nữa, là tới sông. Tui tới thăm hoài để sông đào cho mau rồi.” Người bạn tôi kể xong, cười: “Ông ta nói như coi chỉ tay trên tay ông.”

Tổng thống Diệm lại nói tiếp: “Chính phủ đang lo cho xong các dinh điền, khu trù mật. Dân làm biếng, mấy “thằng địa điểm trưởng dinh điền” không biết làm răng. Tui thì tui “lấy hèo phết vô sau đít dân.”

Kể xong, ông bạn tôi nhận xét: “Đúng là giọng nói ông quan, không phải cách nói của tổng thống một nước dân chủ.”

Ông đi dọc theo hai bên bàn hỏi thăm học trò: “Học trường mô?” Có hai chị em khai học trường Đồng Khánh, họ Lữ. Tổng Thống bảo: “Rứa là con ông Lữ Mộng Liên hỉ?” Ông Lữ Mộng Liên, người Minh Hương, tỉnh Quảng Trị, làm “thừa phái” khi ông Diệm làm tri phủ. Thừa phái giữ chức vụ coi sóc mọi việc trong phủ, thay quan tri phủ khi ông nầy “vi hành”.

Ông Diệm thích hoa, nhưng thứ ông thích nhứt là “Hoa Vạn Thọ”. Vạn thọ có nghĩa là “thọ vạn năm”, hay “Ngô Tổng Thống Muôn Năm” thì cũng vậy? Khoảng đầu thập niên 1940, không rõ mừng thọ ai mà triều đình có tổ chức “Tứ tuần Đại khánh”, bọn học trò phải biết câu “Vạn Thọ Vô Cương”. Anh cả tôi, lúc đó khoảng hơn 10 tuổi, không biết nghe ai mà cứ nói đùa câu: “Vạn thọ vô cương, trong xương ngoài nạc”. Cậu (thân phụ) tôi, vốn khó tính, nghe ông anh tôi nói đùa, cũng cười. Bây giờ các “nịnh thần” lại đua nhau trồng “Hoa Vạn Thọ” ở cơ quan, doanh trại để “Chào Mừng Ngô Tổng Thống”, lỡ ông tới thăm. Ông Diệm rất hay đi kinh lý.

Ông Diệm ghét những người “theo Tây”. Tây “cách chức” ông mà ông không ghét sao được! Có một lần, khoảng cuối thập niên 1930, một ông linh mục người Việt Nam đến thăm ông Diệm. Không biết “ông cha nhà thờ” nói cái gì mà ông Diệm giận lắm, mặt đỏ gay. Tiễn ông cha ra cổng, ông Diệm nói: “Cha tưởng “theo Tây” là không có tội với Chúa hay sao?”

Ông Diệm có tính cục bộ, tin tưởng, chọn và nâng đỡ người miền Trung, đặc biệt người Huế, người cùng quê Quảng Bình với “cụ”. Nhiều lần, thí sinh quê ở Huế thi vô Học Viện Quốc Gia Hành Chánh rất dễ đậu, hoặc nhiều người miền Trung được chọn vào học khóa sĩ quan. Ông “thầy giáo làng” Hồ Duy Tình ở làng Hội Yên, phủ Hải Lăng, được “cụ” tặng “Bảo Quốc Huân Chương Đệ Tam Đẳng” khi “cụ” mới về nước, công trạng ông Tình chỉ là cho vay “xanh xít đít đui”, hay ông sĩ quan LML lên tướng nhanh hơn ông HXL, mặc dù hai người học cùng khóa, bởi vì khu “cụ” làm Tri Phủ Hải Lăng, cụ có biết tới các gia đình nầy. Ông Trung Tá Bường (con ông Đội Đề, quê làng Thạch Hãn, phủ Hải Lăng), ông LCC (quê làng Câu Nhi, phủ Hải Lăng), đi tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng cũng vì lý do như thế. Vì là “người theo cụ, trung thành” mà ông Đại Úy PNT, một phát nhảy lên trung tá. Những người chung quanh ông Nhu, phần đông là người Bắc, có bằng cấp. Những người chung quanh “cụ Ngô” là người miền Trung, người Huế, “dòng dõi”, nghĩa là con các quan ngày trước, lớn tuổi hay đồng liêu với “cụ”. Ông Võ Văn Hải, ông Tôn Thất Thiết đều ở trường hợp như thế cả.

Từ cá tính tin người đồng hương, đồng xứ, tay chưn, quen biết, ơn nghĩa, tự coi mình như là cha anh, – nếu không phải là “cha già dân tộc” -, cho nên trước khi chết, ông Diệm còn chủ quan, coi các tướng lãnh đồng mưu trong cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 như “con cháu” của mình, nói gì họ nghe nấy, những tưởng “họ” không dám động đến “cụ”, trong khi họ đã có âm mưu giết cả hai anh em ông. Cá tính đó, cũng do cái tính ưa nịnh của ông mà ra. Ngày xưa, vua chết vì nịnh thần, không mấy ông vua chết vì trung thần. Ông còn chủ quan về cái đạo lý Nho giáo mà thân phụ ông cũng như ông rất sùng bái: “Cái ngai vàng” là tượng trưng cho Đất nước, Dân tộc. Cái chức Tổng thống cũng vậy.  Người ta không thể không kính trọng cái “Chức Tổng Thống” của ông, dù người ta có ghét ông chăng nữa, không thể giết ông một cách mờ ám được.

Làm tổng thống chưa bao lâu, ông Diệm lo mở Viện Đại Học Huế, khai giảng niên khóa đầu tiên là năm 1957-58, để học sinh trường Khải Định, sau khi đậu tú tài, có thể tiếp tục học cao hơn. Trước kia, học sinh Khải Định, sau khi đậu tú tài toàn phần, nếu gia đình khá giả, một số ít vào Đại Học Hà Nội, ngành Cao Đẳng Sư Phạm, có học bỗng, hoặc vào Quân Y. Rất ít người học Y, Dược dân sự, v.v… vì phải tự túc. Phần đông xin đi dạy trung học đệ nhất cấp ở Đà Nẵng, Hội An, Quảng Trị, Nha Trang, Qui Nhơn, Đà Lạt… Nhờ có Đại Học Huế, một số tốt nghiệp sư phạm làm giáo sư Đệ  Nhất hay Đệ Nhị cấp, cử nhân luật, văn khoa, khoa học, v.v… Sau đó học cao hơn, du học ngoại quốc.

Viện Đại Học Huế là cái ơn của ông Diệm đối với người Huế.

Ông Diệm cũng cho tu sửa Đại Nội, các chùa, nhất là chùa Linh Mụ. Năm 1957, Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam phát hành lần đầu tiên giấy bạc 500 đồng, ông bảo phải in hình chùa Linh Mụ. Phải chụp đi chụp lại nhiều lần để ông chọn.

Ông dự định đắp lại đập Thuận An để ngăn nước mặn vào ruộng. Thời Tây Thực Dân, ngang cửa Thuận An, Tây cho xây một cái đập bằng đá, không cho nước mặn vô ruộng của dân. Khi có chiến tranh Việt-Pháp, lính Tây phá một đoạn giữa của đập nầy, để tàu nhà binh từ ngoài biển vô sông Hương dễ hơn, không thì phải vô cửa Tư Hiền, gần núi Túy Vân, xa hơn những 40 km, lại còn sợ Việt Minh phục kích trong đoạn “Đầm Phú Thứ”. Việc đắp đập tính mãi không xong. Chính quyền dân sự muốn đắp, bên phía quân đội không đồng ý. Bàn qua bàn lại mãi. Lúc ấy có dư luận nói rằng Việt Cộng huênh hoang “làm một cái” là xong liền. Bắt dân gánh đá ra đổ xuống đập là hoàn tất. Sau nầy, vô trại tù cải tạo, nghe Việt Cộng nói câu “Nghiêng đồng đổ nước ra sông”, hay “Nghiêng song đổ nước vô đồng” tôi thường nghĩ rằng Việt Cộng quá chủ quan và ngu xuẩn.

Ông Diệm lo chỉnh đốn và mở rộng Nhà Máy Vôi Long Thọ, sửa sang lại phi trường Phú Bài, sửa sang và xây dựng một số cây cầu trên Quốc Lộ 1, liên tỉnh lộ, tỉnh lộ, v.v…

Ông được cái tiếng là “chống Tây” nên dân Huế cũng như miền Trung hoan nghênh ông khi ông về nước “chấp chánh”. Lần đầu tiên ông về Huế, dân chúng Huế cũng như các quận chung quanh, tự động, – tôi nói là tự động – đi đón “Ngô Thủ Tướng” (mới làm thủ tướng), tập họp ở Phú Văn Lâu hoan hô ông, giống như năm 1948, đón “Quốc Trưởng Hồi Loan” vậy. Từ đầu cầu Trường Tiền, lên đến Phú Văn Lâu, dân chúng đi đông nghẹt. Ở Quảng Trị và Đà Nẵng, Hội An… dân chúng cũng đón ông đông đảo như vậy. Các phố Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu, (Gia Long cũ) nhiều nhà đặt hương án, có bình hương và “ảnh cụ” trước nhà để tỏ lòng ngưỡng mộ. Nhà in của Nha Thông Tin phải chạy suốt ngày đêm để in hình ông, phát không cho dân chúng.

Về sau, khi ông làm tổng thống được ít lâu, người ta “ngán” đi đón Ngô Tổng Thống. Xe ông Diệm, từ Phú Bài về, đi theo đường Duy Tân, tới đầu cầu Trường Tiền quẹo lên đường Lê Lợi để đưa ông về nhà ở Phú Cam. Ngay tại khúc quanh đầu cầu Trường Tiền nầy, quận Phú Vang giăng một cái “bang-đờ-rôn” dài và rộng, choán hết ngã tư: “Nhân Dân Quận Phú Vang Hoan Hô Ngô tổng thống”. Việc nịnh hót đó, làm cho người ngán, không ưa đi đón ông Diệm nữa. Không đi thì ông quận, ông xã cho người đến từng nhà bắt dân phải đi. Ai không đi thì “chịu hoàn toàn trách nhiệm”. Không đi, có thể sinh chuyện đấy. Chính quyền địa phương càng lập công, dân chúng càng phản ứng tiêu cực. Lần hồi “ân biến thành oán”. Ông Diệm làm tổng thống, đời kinh tế dân chúng không khá hơn mà lại còn tệ hơn. Đời sống tôn giáo của Phật Tử càng ngày càng ngột ngạt hơn, việc chèn ép, đàn áp càng ngày càng trắng trợn hơn, nhất là sau khi “ông Thục về Huế”.

Thay vì hoan hô như trước kia, sau đó, khi nghe tin ông Nguyễn Chánh Thi đảo chánh ở Saigon, người Huế vui mừng, bàn tán. Những tờ báo đăng tin đảo chánh, được người Huế tranh nhau mua, giá báo lên gấp ba, gấp bốn. Các ông chủ nhà sách bán báo, “hốt một ít tiền”, để sau đó vô ngồi khám Công An. Ông nào cũng phải “chạy thuốc” mới được tha về. Đúng là “Ăn khế trả vàng.”

Cái “hào quang Từ Quan, Chống Tây” của ông Diệm biến mất. Bây giờ lộ ra là một “nhà độc tài, gia đình trị”, một “Quốc Trưởng có đạo Thiên chúa” đàn áp tôn giáo.

Tháng 6 năm 1954, khi ông Ngô Đình Diệm mới về nước “chấp chánh”, người Huế rất hân hoan vui mừng đón chào “Ngô chí sĩ”. Một năm sau, theo Hiệp Định Genèvè 1954, người Pháp ra khỏi Việt Nam, chấm dứt một thời kỳ “một trăm năm nô lệ giặc Tây”, người Huế lại vui mừng hơn nữa. Những “dấu tích” của Thực Dân Pháp, phải xóa đi. Xóa bỏ các con đường mang tên Tây, thay vào đó là tên các anh hùng, liệt nữ Việt Nam. “Restaurant” thành “Nhà Hàng”, “Lien’s tailleur” thành “Nhà may Liên” ở đường phố chính Trần Hưng Đạo của Huế chẳng hạn.

Cái “hào quang” ông Diệm có được, chính là nhờ ở Hiệp Định Đình Chiến Genève 1954. Người Mỹ để quân Pháp “chết chìm” ở Điện Biên Phủ. Kết quả, Pháp kiệt quệ, chịu để Mỹ thay chân ở miền Nam Việt Nam. Đấy! Cái “vòng hoa vinh quang” ấy, không phải là Mỹ choàng lên cổ ông Diệm hay sao?! Vậy mà đến năm 1963, ông Diệm sai ông Nhu vào rừng “mật bàn” với Cộng Sản, muốn “đá” Mỹ ra khỏi miền Nam thì anh em Diệm Nhu “khỏi chết” thế nào được, bởi vì hành động của hai anh em nhà Ngô là phản bội nước Mỹ, phản bội cái “lò” đã đúc ra ông Diệm.

Một vài điều về việc ông Diệm “chống Tây, yêu nước”.

Ông Bảo Dại “du học” bên Tây, về nước năm 1932, và có thể là đem cái “sở học” để lo việc nước. Ông Bảo Đại cho cụ Thân Thần Tôn Thất Hân nghỉ việc, cho 5 ông thượng thư già về hưu. Ở Huế, nhiều người biết bài thơ nầy:

                        Năm cụ khi không rớt cái ình

                        Đất bằng sóng dậy chốn thần kinh

                        BÀI không đeo nữa, xin dâng LẠI

                        ĐÀN nọ ai nghe khéo vẽ HÌNH

                        LIỆU thế không xong, BINH chẳng được

LIÊM đành giữ tiếng, LỄ đừng rinh

                        CÔNG danh như thế là hưu hỉ

                        ĐẠI sự xin nhường lũ hậu sinh.

Giải thích:

Các chữ in lớn là tên ông thượng thư và bộ họ nắm giữ:

1- Nguyễn Hữu BÀI, thượng thư Bộ LẠI, tước Quận Công.

2- Tôn Thất ĐÀN, thượng thư Bộ HÌNH.

3- Phạm LIỆU, thượng thư Bộ BINH,

4- Võ LIÊM, thượng thư Bộ LỄ

5- Vương Tứ ĐẠI, thượng thư Bộ CÔNG

Bài thơ nầy rất phổ biến ở Huế, trong dân chúng thời đó, mấy bà chị con ông dượng tôi cũng thuộc lòng, đến nỗi người ta không còn biết tên tác giả là ông Nguyễn Trọng Cẩn.

Một chút liên hệ: Thân phụ Bác Sĩ Phạm Biểu Tâm, nguyên là thượng thư, có phải là Thượng Thư Phạm Liệu?

Thân phụ ông Tôn Thất Thiện, Tôn Thất Đát (đồng nghiệp của tôi), cũng là thượng thư, có phải Thượng Thư Tôn Thất Đàn, (hay Tôn Thất Quảng)?

Con cụ Võ Liêm là Võ Chuẩn, Tổng Đốc. Cháu cụ Võ Liêm là Võ Mão, giám thị trường tôi dạy.

Tại sao có việc thay đổi nội các nầy?

Trước hết phải nói tới cụ Thân Thần Tôn Thất Hân.

Vua Khải Định băng hà năm 1925, ông Vĩnh Thụy (Bảo Đại) mới 12 tuổi, đang “du học” ở bên Tây, về đám ma vua cha. Xong, ông lại qua Pháp “du học” tiếp, giao việc triều chính lại cho cụ Thân Thần Tôn Thất Hân và mấy ông quan già. Ông thì “Thân Tây”, như Nguyễn Hữu Bài, phần đông thì cầu an, như Phạm Liệu, Tôn Thất Đàn, v.v…

Cụ Thân Thần Tôn Thất Hân cầu an không kém các ông quan già, việc chi cũng bảo để đó, chờ khi vua Bảo Đại về rồi hay. (1) Vì vậy, Khâm Sứ Tây cứ lấn lướt, vi phạm các hòa ước đã ký với Triều Đình Huế, khiến triều đình chỉ còn cái vỏ không, còn tệ hơn cả “con bù nhìn” nông dân để ngoài ruộng dưa đã lâu ngày.

Năm 1932, vua Bảo Đại, mười chín tuổi, xuất thân trường “Science Politique” bên Tây về, thừa hưởng “một gia tài” trống rỗng như vậy.

Với cái “sở học” gặt hái từ bên đó, với nhiệt huyết của tuổi thanh niên, ông vua trẻ phải “làm một cái” gì chớ! Trước hết, muốn làm gì, phải có “nhơn sự”, sau đó phải có “kế hoạch”.

Nhơn sự là thay đổi nội các, kế hoạch là thành lập “Ủy Ban Cải Cách”.

Ông Nguyễn Hữu Bài chịu thôi chức thượng thư, nhưng ông chưa chịu “buông” quyền lực. Không “buông” tức là cái “quyền lực” ấy phải từ ông trao lại cho “hậu duệ” của ông. Người ta nói ông Ngô Đình Khả và ông Nguyễn Hữu Bài là “một cặp bài trùng”, một thời cùng là “đồng liêu” trong triều, cùng làm quan, mà lại quan to, “đầu triều”, mặc dù ông Khả lớn hơn ông Bài 12 tuổi. Hai ông nầy là “sui gia”. Ông Ngô Đình Khôi, con trai trưởng ông Khả làm rể ông Bài. Vậy thì nếu trao cái ghế thượng thư Bộ Lại cho ông Ngô Đình Diệm, ông Nguyễn Hữu Bài an tâm lắm rồi.

Nhờ “thế lực” ông Bài mà ông Ngô Đình Diệm đang giữ một chức quan nhỏ, “Tuần Vũ Bình Thuận” (tỉnh trưởng tỉnh nhỏ) nhảy phóc một phát lên Thượng Thư Bộ Lại, “Quan Đầu Triều”.

Ông Diệm là anh ông Ngô Đình Luyện, ông nầy là con út ông Khả, bạn học với ông Bảo Đại khi hai người du học bên Tây, chơi với nhau khá thân. Có thể vì mối quan hệ ấy, có thể vì ông Diệm còn trẻ, lúc đó mới 32 tuổi, (ông Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901), nên ông Diệm, ngoại chức thượng thư, còn kiêm luôn chức “Tổng Thư Ký Ủy Ban Cải Cách”.

Ông Bảo Đại làm vậy là không xong rồi!

Ngay từ khi Vĩnh Thụy “du học” bên Tây, Khâm Sứ Charles làm người “cha đỡ đầu” cho “Thái Tử Vĩnh Thụy”, mục đích không phải để đào tạo Vĩnh Thụy trở thành “một nhà cách mạng”, một “người cải cách” mà là một “ông vua bù nhìn”, theo Tây học, nhưng biết ngoan ngoản vâng lời những gì Tây sai biểu.

“Hoảng hồn” trước hành động của vua Bảo Đại, Khâm Sứ Charles được lệnh sang Việt Nam ngay, làm 2 việc: Ngăn chận những gì ông Bảo Đại đang làm, sẽ làm… và trói tay ông ta lại.

Tất cả những gì vua Bảo Đại và “Ủy Ban Cải Cách” yêu cầu, đang làm, sẽ làm, Tây cho rằng không quan trọng bằng việc loại bỏ các nhân sự tiếp tay cho vua Bảo Đại là xong. Nhân sự bị nhắm vào, chỉ có một mình ông Ngô Đình Diệm. Các ông thượng thư kia, đều cầu an, ngoan ngoản, ham giữ cái ghế, Tây biểu gì nghe vậy nên được ngồi lại, để khỏi làm “náo động” Nam Triều.

Ông Diệm dù không “xin từ chức” cũng không được. “Từ Chức” chỉ là danh từ hoa mỹ để ông Diệm đỡ mất mặt. Người Tây lịch sự mà, mở một con đường cho ông Diệm rút lui. Vả, như ông Diệm không từ, Tây cũng đuổi về. Biết cái thế như vậy, ông Diệm dù có nộp đơn xin từ chức hay không, – hay đó chỉ là lời đồn đãi trong dân chúng -, thì ông Diệm cũng phải “về”.

Mấy ông thượng thư được cho ngồi lại, gồm có:

1)-  Thái Văn Toản, trước là Thượng Thư Bộ Công, kiêm  Bộ Lễ, Bộ Mỹ Thuật. Sau khi ông Ngô Đình Diệm mất chức Thượng Thư Bộ Lại, Tây cho ông ngồi vô cái ghế nầy. (Chúng tôi thường gọi đùa Bộ Lễ là “Bộ Pha Trà”)

2)- Bùi Bằng Đoàn, (thân phụ ông Bùi Tín), Thượng Thư Bộ Hình (tương đương Bộ Tư Pháp), lo bỏ tù những người yêu nước.

3)- Hồ Đắc Khải, Thượng Thư Bộ Hộ.

4)- Phạm Quỳnh, Thượng Thư Bộ Học (Giáo Dục), trước đó, ông là “Ngự Tiền Văn Phòng Đức Kim Thượng”.

Dẹp việc “cải cách” của Bảo Đại xong rồi, Tây bèn trói tay, trói chân ông bằng “Sắc bất ba đào dị nịch nhân”.

Là tìm cho ông Bảo Đại một bà vợ!!!!

Khi ông Bảo Đại về nước, đi thăm Hà Nội. Con gái Hà Thành nô nức đi xem mặt “Đức Kim Thượng”. Ông vua trẻ, mới 19 tuổi, mặt đẹp trai, phúc hậu, học bên Tây về. Không ít cô mơ làm “Chánh Phi”, “Thứ Phi” hay “Giai Phi” cũng được. Không mơ làm “Hoàng Hậu” vì triều Nguyễn, không có “ngôi Hoàng Hậu”. Nhiều người cứ tưởng ông Bảo Đại sẽ cưới một cô “Bắc kỳ nho nhỏ”. Ai ngờ ông cưới cô Nguyễn Hữu Thị Lan.

Cô Nguyễn Hữu Thị Lan, (NHTL), người Gò Công, cùng quê với Bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức, mới du học bên Tây về. Có người nói cô cùng về một chuyến tàu thủy với ông Bảo Đại. Hai người có gặp nhau trên tàu.

Việc đó không quan trọng bằng việc ông Charles sắp đặt cho ông Bảo Đại gặp Nguyễn Hữu Thị Lan ở Đà Lạt. Hôm đó là một buổi hội, có ăn nhậu, coi hát, nhảy đầm… Ông Bảo Đại ngồi ghế đầu, cô Nguyễn Hữu Thị Lan đến chào vua. Cô mặc một bộ đồ đen tuyền, không thấy nói áo dài Việt Nam hay mặc đầm. Rồi người ta đồn ông Bảo Đại bị “hớp hồn”, chịu cưới cô NHTL nầy làm vợ với những điều kiện cô ta đưa ra, theo “thế giới văn minh”, nghĩa là “một vợ một chồng”, không có “tam cung lục viện”, cô phải là “hoàng hậu” chớ không chánh phi, thứ phi…

Dĩ nhiên, ông Bảo Đại không thoát ra khỏi “vòng kim cô” của cha nuôi, cựu Khâm Sứ Charles. Cô NHTL về làm dâu bà Từ Cung, mang theo một triệu bạc Đông Dương “hồi môn”, để ông Bảo Đại xài chơi!

Ông Bảo Đại có “yêu” bà NHTL, hay “yêu” một triệu đồng hồi môn, hay “yêu” đỏ đen. Từ khi có vợ rồi, ông Bảo Đại chăm chú vào hai việc: Đi săn và đánh bài. Lý tưởng thời trai trẻ, những gì học ở trường “Science Politique”, ông nhờ ông cựu Khâm Sứ Charles, đem về Ba-Lê mà trả lại cho thầy.

Người Huế lại kháo nhau về câu đối của Nguyễn Giản Thanh. Mấy chục năm sau, khi tôi học trung học ở Huế, các thầy cô giáo dạy môn Việt Văn, còn nhắc lại hai câu nầy:

“Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách”

            Sắc bất ba đào dị nịch nhân” (2)

Câu chuyện người ta bàn đi bàn lại, đâu chỉ chừng đó.

“Truyền thống” đạo Thiên Chúa La Mã bên Châu Âu là đưa “thần quyền” vào “thế quyền”. Các ông vua bên ấy, từ mấy trăm năm trước, sau khi đăng quang, phải tới La Mã để ông Giáo Hoàng đội vương miện cho. Ông Hoàng nầy (Giáo Hoàng) đội mão cho ông Hoàng (Hoàng Đế) kia, ông Hoàng nầy to hơn ông Hoàng kia, xác nhận cái “thần quyền “đè” thế quyền” (3)

Các ông cố đạo, khi qua rao giảng đạo Chúa ở nước ta, cũng không quên cái “tinh thần” đó, muốn có một ông vua An-Nam là “con chiên của Chúa Giê-Su”, rõ nhất là việc làm của ông Bá-Đa- Lộc, khi bỏ công nuôi dạy ông Hoàng-Tử Cảnh.

Nếu ông Hoàng-Tử Cảnh không chết trẻ vì bệnh đậu mùa, thì khi Gia Long băng hà, ông Hoàng-Tử Cảnh lên nối ngôi cha. Vậy là nước An-Nam có một ông vua theo đạo Thiên Chúa La Mã “từ khuya” rồi. Giáo hội La Mã đạt được mưu đồ rồi!

Khi Gia Long sắp mất, ông không chọn cháu nội, con ông Hoàng-Tử Cảnh, còn nhỏ tuổi, nối ngôi. Không rõ có phải ông không muốn một người có đạo Thiên Chúa La Mã lên làm vua hay không, nhưng điều quan trọng nhất là sợ cái ngai vàng rung rinh. Ông Hoàng Đảm, lúc đó đã 40 tuổi. Trao lại ngai vàng cho ông, Gia Long yên tâm hơn. Mấy ông cố đạo thất vọng. “Thiên bất dung gian”

Cái âm mưu ấy lại mon men xuất hiện một lần nữa, trong biến cố “Tứ nguyệt tam vương.”

Trước khi vua Tự Đức băng hà, trao quyền lại cho ba phụ chánh là Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Ông Tường và ông Thuyết đứng chung một phe, chống lại ông Thành. Để giành hết quyền hành, ông Tường và ông Thuyết cho người giết ông Thành. Việc phế lập 4 tháng 3 vua (Tứ nguyệt tam vương) hoàn toàn trong tay ông Tường và ông Thuyết. Hai ông nầy “chủ chiến”. Triều đình cũng sợ, các ông Hoàng bà Chúa cũng sợ hai ông “Chủ chiến” nầy. Do đó, các ông Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc cũng như Hoàng Gia, qua trung gian ông cố đạo ở Kim Long, liên lạc với Khâm Sứ Pháp nhờ “Ngăn bớt quyền uy” hai ông Tường và Thuyết. Việc bất thành. Càng nghi ngờ, ông Tường với ông Thuyết càng mạnh tay việc phế lập.

Đến bấy giờ, khi cô NHTL lên làm hoàng hậu, con đường của giáo hội Thiên Chúa La Mã ở Việt Nam đã có ánh sáng cuối đường hầm (4). Nếu hoàng hậu sinh con trai, – bà sinh con trai thật, Thái Tử Bảo Long -, theo cam kết với ông Bảo Đại, cậu con trai nầy sẽ được “rửa tội” theo đạo của mẹ. Vậy nên khi ông Bảo Đại băng hà, Bảo Long lên nối ngôi, thế không phải là có một ông vua An Nam là “con chiên của Chúa” ngồi lên ngai vàng của dân tộc Việt Nam hay sao?!

Cô NHTL là dân “Nam Kỳ Thuộc Địa”, lãnh thổ Pháp, là “dân Tây”, là người theo đạo Thiên Chúa La Mã. Cô NHTL không phải là “dân nước An Nam”, lại là dòng dõi “Huyện Sĩ”. Ai nói “huyện Sĩ là người yêu nước Việt Nam?

Việc không được như thế. Bởi vì ông Bảo Đại thoái vị năm 1945, và trao cái ngai vàng ấy lại cho “Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời” là ông… Hồ Chí Minh. Sự thất vọng của Giáo Hội Thiên Chúa La Mã đồng thời cũng là đại họa của dân tộc Việt Nam. Bằng cách nào thì cũng chỉ có người Việt Nam phải gánh chịu đau khổ mà thôi!

Việc ông Ngô Đình Diệm từ chức Thượng Thư Bộ Lại là chuyện thiệt, bởi vì ông Diệm không “Nộp đơn từ chức” thì Tây cũng “bứng” ông đi. “Nộp đơn từ chức” cho đỡ mất mặt. Hơn thế nữa, ông Bảo Đại là người “Ươn hèn vô sự” như thế, ông Diệm có “ngồi” lại cũng chẳng ích gì. Thôi thì “Từ chức” để còn được cái tiếng là “Chống Tây”.

Khi ông Diệm làm tổng thống, người Huế lại “kháo” nhau là Giáo hội Thiên Chúa La Mã đã đạt được mong muốn của họ: Một ông “Quốc Trưởng Việt Nam” (vua hay tổng thống) là “con chiên của Chúa”. Việc ấy rõ ràng hơn khi Hồng Y Spellman từ bên Mỹ, hay Hồng Y Agagianian, từ La Mã qua “thăm” Việt Nam. Không cần biết lịch sử viết về những “thế lực đằng sau” giúp ông Diệm nắm quyền ở miền Nam như thế nào, chỉ cần thấy việc hai ông hồng y, một ông từ Mỹ, một ông từ La Mã đến Việt Nam khi ông Diệm mới làm tổng thống, thì người ta biết ngay ông Diệm từ “lò” nào mà ra. Nó giống như các cô ca sĩ, hễ mà có chữ Phương đứng trước, như Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hoài Tâm thì từ lò nhạc sĩ Nguyễn-Đức; còn chữ Trang đứng đầu như Trang Mỹ Dung, Trang Thanh Lan, là từ lò ông nhạc sĩ làm chủ “Chương trình Văn nghệ Tùm Lum” vậy.

Lò nào ca sĩ đó, huống chi ông Ngô Đình Diệm từ hai “lò” mà ra: “Lò Mỹ” và “Lò La Mã”. Gốc gác “lò” nào thì phải trung thành với “lò” nấy! Vậy nên “đức tổng giám mục” Ngô Đình Thục, thấy thế lực ông Diệm mạnh như thế, có “nôn nóng” muốn mau lên hồng y thì có chi lạ mà phải thắc mắc.

Việc ông Diệm bị giết, ông Thục lưu vong, mấy Ông Sư vui mừng vì  “Chính phủ thân Phật Giáo Phan Huy Quát” không làm cho hai “lò Mỹ” và “lò La Mã” nóng ruột sao được! Vậy thì tình thế phải xáo trộn, phải lật đổ ông Quát, đưa “Hội Đồng Quân Lực” lên nắm quyền. Mấy ông Thượng Tọa thấy đạo Phật sắp sửa gặp nguy cơ, chỗ “tọa” của các ông nóng lên, đành phải “đấu tranh” vậy (5).

Ai phản bội ai?

Ông Diệm phản bội người Huế hay người Huế phản bội ông Diệm?

Lòng tốt của người Huế đối với ông Diệm thì nhiều lắm. Họ ngưỡng mộ ông từ người cha “Đày vua không Khả”, tới việc ông vì “chống Tây” mà từ quan, việc ông làm “Đại Diện” cho Kỳ Ngoại hầu, việc người Nhật phải đem ông đi trốn Mật Thám Tây. Tình cảm đó biểu lộ bằng việc người Huế, cũng như người Thừa Thiên rầm rộ, vui mừng, hân hoan đi “đón Ngô Thủ tướng” khi ông Diệm mới về Huế lần đầu.

Ông Diệm cho người Huế cái gì?

Viện Đại Học Huế.

Có người bảo ai làm tổng thống mà chẳng lo mở mang việc học: Việc mở Đại Học Huế hay mở rộng các trường trung học, mở thêm trường tiểu học… So với ông Thành Thái mở trường Quốc Học, lập ra Bộ Học để trông coi và mở mang việc giáo dục thì sao?

Nói thế cũng không sai, nhưng điều quan trọng là “tấm lòng” của người làm cái công việc ấy. Một người nào đó, làm một việc gì đó, vì nhiệm vụ, khác với người vừa vì nhiệm vụ vừa vì cái tâm của họ. Ông Diệm hay ông Thành Thái khác người ta là ở chỗ đó. Hai ông có tấm lòng với Huế. Vì vậy, mỗi nhà đều treo đèn kết hoa, để hân hoan đón “cụ Ngô”, như khi ông mới về cầm quyền, là vì ngưòi dân Huế biết tấm lòng của “cụ Ngô” đối với họ.

Nhưng cái tình nghĩa ấy kéo dài được bao lâu? Tại sao nó ngắn ngủi quá vậy? Ông chú họ tôi là người theo “cụ” đâu từ trước 1945, bạn chí thiết với cụ Võ Như Nguyện, nói rằng ông Diệm có câu nói khá hay: “Người ta ai ai cũng phải lo cái nồi cơm của mình”. Thế ông Diệm có lo nồi cơm cho người Huế hay không, hay ông “đập bể” nồi cơm của họ?

Ông Diệm cầm quyền chưa bao lâu thì xảy ra “Vụ gạo Ưng Bảo Toàn” (Xem “Chuyện Ba Bà”, cùng tác giả, có in trong sách nầy).

Việc ấy xong rồi thì “cậu Cẩn đặc quyền buôn gạo” ở miền Trung. Một “đám theo cụ Ngô để kiếm ăn” trong vụ “độc quyền gạo” nầy, tiếng tăm nhất là ông H.G.H. nhà ở đường Hàng Đoát, Huế. Đến mùa, nông dân địa phương sản xuất được ít gạo bán cho dân chúng thì cũng đỡ khổ cho dân. Mùa mưa gió, gạo phải chở từ trong Nam ra, “ông chủ tàu”, “liên minh” với “ông đại bài gạo” tất cả đều là tay sai của “cậu”, lên giá gạo như thế nào dân cũng phải chịu. Không chịu thì mua gạo đâu ra mà ăn?

Trước khi “cậu và tay sai của cậu độc quyền”, người làm đại bài không hạn chế, giá gạo có lên cũng không cao lắm. Không như khi “cậu” nắm độc quyền rồi.

Năm 1964, tình cờ tôi được nói chuyện với bà Huỳnh Văn Châu, bà cho biết bà được “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng” mời vô Saigon ra tòa làm chứng về việc “cậu độc quyền gạo”.

Trước khi “cậu” độc quyền gạo, bà Châu có đại bài gạo ở trên đường Chi Lăng (Gia Hội), gần rạp ciné Gia Hội. Bà bị đám đệ tử của “cậu” tịch thu môn bài, tịch thu kho gạo. Sau vụ án, bà Châu có được bồi thường không? Tôi không rõ!

 Đối với người dân Huế, người ta phê phán ông Diệm bằng mấy chữ “gia đình trị” là không sai.

 Cậu” thì lo việc đời, tức là bóc lột người dân Huế rát hơn, đối xử độc ác hơn, kềm kẹp chặt hơn, làm cho người dân Huế sợ hãi hơn, như vụ nhà thầu Nguyễn Đắc Phương “nhảy lầu tự tử, như vụ giáo sư Hồ Vinh “nhảy giếng tự tử”, Công An của “cậu” làm tiền dân chúng trắng trợn hơn, tàn nhẫn hơn… không thua gì “Công An Liên Bang” của Tây hồi xưa. Cũng không ít “người của cậu” xuất thân từ đó mà ra.

Việc đạo thì ông Thục đè nén hơn, đàn áp hơn, còn hơn mấy ông cha cố hồi còn Tây Thực Dân. Ai không chịu rửa tội thì khó yên thân…

Đạo đời hai mặt, một ông anh là Thục, một ông em là Cẩn đối xử với người Huế như thế thì không lý người ta chỉ oán ông Thục, oán ông Cẩn mà để yên cho ông Diệm được hay sao? Ông Diệm là tổng thống. Không có ông tổng thống, hai ông kia dựa vào đâu mà làm càn.

Chính người dân Huế, ủng hộ ông Diệm, nghe lời anh em ông Diệm mà “xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì”. Trong cuộc “Trưng Cầu Dân Ý” ngày 23 tháng 10 năm 1955, không cần gian lận, ông Diệm cũng được dân Huế bỏ phiếu cao, vì lúc đó, người Huế còn ngưỡng mộ, “hoan hô Ngô Thủ Tướng” mạnh mẽ lắm.

Bầu cho Diệm để rồi ông Diệm để cho “cậu” và ông Thục đối xử với người dân Huế như thế, ông Diệm “vô can” được hay sao? Ai làm nấy chịu. Ông Cẩn làm, ông Thục làm thì chỉ có hai ông ấy chịu lấy mà thôi hay sao? Ông Diệm phải liên đới trách nhiệm vô đây, chạy tội không được đâu!!!

Vậy thì, phải nói cho rõ ràng: Ông Diệm phản bội người Huế chớ người Huế không phản bội ông Diệm bao giờ!

Kể ra, người ta cũng bênh vực ông Diệm nhiều lắm. Việc “giết người lấy của” ở Huế, người ta qui trách cho “cậu”. Việc giết các ông Nguyễn Bảo Toàn, Nguyễn Phan Châu từng ủng hộ ông Diệm từ khi ông mới về cầm quyền, bênh vực ông Diệm trong vụ “ông Bảo Đại gọi ông Diệm qua Tây” như các ông Nhị Lang, Hồ Hán Sơn… hay vụ Ba Lòng, người ta qui tội cho ông Nhu, ông Cẩn hơn là ông Diệm. Người ta không tin ông Diệm giết tướng Trình Minh Thế. Người ta nghi ông Nhu, v.v…

Nhưng anh em họ Ngô “lúm úm” với nhau làm bậy, khiến người ta càng ngày càng oán ông Diệm, nhất là khi có vụ đàn áp ở Đài Phát Thanh Huế đêm 8 tháng 5 năm 1963. Đêm đó, tôi nghe một số người, sau khi bị đánh đuổi khỏi Đài Phát Thanh, chạy lên đứng trước Nha Công Chánh, trên đường Lê Lợi, hô to “Đả đảo Ngô Đình Diệm”.

Đó là lần đầu tiên người Huế công khai “đả đảo” ông tổng thống mà họ từng ngưỡng mộ, yêu kính.

Đá đảo một mình ông Diệm là sai. Đúng ra là phải đá đảo tập đoàn Tổng Thống” Ngô Đình Diệm. Trong chế độ của ông, không phải chỉ có một mình ông làm tổng thống mà thôi đâu.

Gần tới ngày bị đảo chánh, Tổng Thống Ngô Đình Diệm về Huế. Cụ Võ Như Nguyện đến thăm ông. Thật ra cụ Nguyện muốn bày tỏ thẳng thừng với “lãnh tụ cũ” của ông về nhiều điều sai lầm nghiêm trọng của chế độ. Khi cụ Nguyện đến nhà “cậu”, là ngôi nhà của ông Ngô Đình Khả để lại, nhà của mấy anh em nhà Ngô, lính canh không cho cụ Nguyện vào. Đã lâu lắm, cụ Nguyện không còn muốn lui tới, vô ra nhà nầy nữa nên lính canh không biết cụ Nguyện là ai! Cụ Nguyện giận lắm! Ông lay cánh cổng mà la to lên: “Tụi bây có biết tao là ai không mà không cho tao vô.” Nghe tiếng to, “cậu” chạy ra, thấy cụ Nguyện, bèn bảo lính mở cửa, mời cụ Nguyện vào nhà. Cụ Nguyện gặp cụ Ngô, hai người nói chuyện “thân tình” với nhau. Việc nầy, cụ Nguyện có kể lại trong thư gởi cho ông Hoàng Đồng Tiếu, trước kia là nhân viên cũ của cụ Nguyện ở Nha Công An. Tôi không rõ ông Tiếu có phải là người thuộc “đảng cụ Ngô” trước khi cụ Ngô chấp chánh hay không! (6)

Trong thư nầy, cụ Nguyện có ghi lại một câu nói phải lưu ý như sau (cụ Ngô nói): “Tôi đã nói với họ rồi, chỉ có một tổng thống thôi.” Họ tức là đám khuyển mã bu chung quanh nhà Ngô. “Chỉ có một tổng thống thôi”. Nói như thế, có nghĩa rằng ông Diệm xác nhận chế độ của ông có nhiều tổng thống. Tổng thống nào đó ra lệnh là đám khuyển mã thi hành. Các tổng thống đó là ai? Là Tổng Thống Ngô Đình Thục, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Ngô Đình Nhu, Tổng Thống Trần Thị Lệ Xuân, Tổng Thống Ngô Đình Cẩn. Như thế, người dân Việt Nam Cộng Hòa “một cổ mà mấy tròng”?

Dù sao thì ông Diệm cũng là người dựng nên chế độ Đệ Nhứt Cộng Hòa. Dù chế độ đó không dân chủ, nhưng ông Diệm cũng là người có cái tâm xây dựng đất nước: Về văn-võ, có phải ông Diệm muốn bắt chước theo trường Đồng Văn và trường Chấn Võ của Nhựt thời Đông Du mà chỉnh đốn lại “Học Viện Quốc Gia Hành Chánh” và “Trường Võ Bị Quốc Gia”. Về kinh tế thì xây dựng được nhiều cơ sở như Cogido (nhà máy giấy), Sicovina (nhà máy dệt), Nhà Máy Xi-Măng Hà Tiên, v.v… Những người phục vụ cho chế độ mới, thấy rõ cái “lý tưởng Quốc Gia” hơn, (thấy rõ nhưng có theo hay không là một chuyện khác). Nhưng thời kỳ đó, không ít thanh niên xuất thân trường Võ Bị, trường Không Quân, trường Hải Quân, v.v… có lý tưởng hơn, chiến đấu một cách tích cực và anh dũng hơn, hy sinh cho đất nước nhiều hơn, hơn hẳn những người xuất thân từ Khố Xanh, Khố Đỏ, hay có quá trình làm Mật Thám Tây như “Cò Xuân”, “Cò Sắt”, v.v…  (7)

Lý tưởng hóa một đội quân, một tầng lớp thanh niên để họ có lý tưởng, biết hy sinh cho Dân Tộc và Đất Nước, đó chính là cái công lớn nhất của ông Ngô Đình Diệm!

Người ta nghĩ rằng ông Diệm có tài về “hành chánh” hơn “chính trị”. Ông không thể là người làm chính trị và càng không thể là người làm cách mạng. Ông chỉ là nhà hành chánh. Cỡ như ông Diệm mà làm thống đốc, thủ hiến thì ít ai bằng.

Ông Ngô Đình Diệm là người nhiều mâu thuẫn và phức tạp bởi vì ông bị giằng kéo giữa nhiều nền văn hóa khác nhau: Đông-Tây, Cũ-Mới, giằng kéo giữa Tổ Quốc và Tôn Giáo, giữa Gia Đình và Dân Tộc mà ông không tìm được đường ra. Chính vì sự thiếu dứt khoát của ông đã đưa ông vào cõi tử.

(1)- Thân Thần Tôn Thất Hân là thân phụ ông Tôn Thất Thiết, Chánh Sở Nội Dịch phủ Tổng Thống thời Đệ Nhất Cộng Hòa, nơi giữ những vật kỷ niệm do lãnh tụ các nước biếu tặng Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Việc nầy làm cho vài người suy nghĩ về cảnh sống của Đại úy Dù Tôn Thất… con ông Tôn Thất Thiết sau khi tù cải tạo về. Ông đại úy chỉ cần bán một chiếc đũa (ngọc) cũng đủ sống thoải mái vài tháng như không? Có “người quen”ở Virginia hỏi tôi: “Đũa nầy ở đâu ra?” Tôi chịu! Sao không hỏi thẳng ông Đại úy Dù. Cụ Tôn Thất Hân cũng là thân phụ cụ Tôn Thất Hối, Đại Sứ VNCH tại Lào thời Đệ Nhất CH, là nội tổ Bác Sĩ Tôn Thất Niệm hiện ở Cali, nhà báo Tôn Thất Kỳ, trước có làm cho đài BBC, và các cô em gái Đoan Nghiêm, Đoan Trang, học một lớp với tôi. Điều nầy không chắc đúng, xin hỏi lại. Cụ T.T. Hân cũng là nội tổ bà Tôn Nữ Thị Ninh, hiện là “Việt Cộng thứ thiệt” ở Hà Nội.

(2) Nguyễn Giản Thanh, người huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh, có khiếu thông minh từ nhỏ. Khi ông 16 tuổi, một hôm tan buổi học, trời mưa to, các học trò phải ngồi cả lại ở trường, ông thầy nhân đọc một câu, bảo các học trò cùng đối, để xem khẩu khí. Đọc rằng:

-Vũ vô kiềm toả năng lưu khách

Ông Thanh ứng khẩu đối ngay rằng:

-Sắc bất ba đào dị nịch nhân.

Nghĩa hai câu đối là: “Mưa không then khóa gì, mà lưu được khách ngồi lại. Sắc đẹp không có sóng gió gì, mà làm đắm được người”.

Thầy bảo ông rằng:

-Anh sau sẽ làm nên to, nhưng bị đắm vào vòng sắc dục, danh không được chu toàn.

Quả nhiên, sau ông đổ Trạng Nguyên rồi say đắm một người con gái ở kinh sư, bị ố danh bại giá.

Trong bọn học trò, có một người khác đối:

-Nguyệt hữu loan cung, bất xạ nhân.

Thầy đoán rằng:

-Sau làm nên nhỏ, nhưng đều được hoàn hảo.

Quả nhiên, sau ngưòi học trò nầy đỗ Cử nhân, làm quan đến tuần phủ.

            (trích Văn đàn Bảo giám – trang 234, quyển II)

(3) Khi Napoleon Đệ Nhất làm lễ đăng quang, ông không chịu qua La Mã để Giáo Hoàng đội vương miện cho ông như “tập tục” các vua châu Âu thời đó. Ông bảo: Nếu Giáo Hoàng muốn đội mũ cho ông thì phải qua Ba-Lê. Ông Giáo Hoàng đành chịu nhẫn qua Pháp. Trong buổi lễ, khi Giáo Hoàng đưa vương miện lên, tính đội vào đầu Napoléon, ông bèn chụp lấy cái mũ, tự đội lên đầu mình. Lịch sử nước Pháp bấy giờ vừa trải qua cuộc “Cách mạng 1789”. Đây là cuộc “Cách mạng Dân chủ Tư sản Dân quyền” lật đổ “Giai cấp Tăng lữ” được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi. 

(4) “Nhất Sĩ”, một trong tứ đại phú “Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”

Huyện Sĩ tên thật là Lê Phát Đạt (1841-1900), thuở nhỏ có tên là Sĩ, quê quán ở Tân An. Nhà nghèo, ông đi chăn vịt, sau làm bồi cho một ông cha cố người Tây. Ông cha cố thương tình cho đi học ở Pénang. Do trùng tên với thầy dạy nên tên Sĩ đổi ra tên Đạt.

Khi về nước, ông đi theo quân Pháp, làm thông ngôn, rất được Tây “ưu ái”. Khi lính Tây đánh tới, dân chúng bỏ chạy cả. Đến khi tạm yên, Tây gọi dân chúng về, nhận lại nhà cửa ruộng rẫy để sinh hoạt bình thường. Không ai dám về, sợ mang tiếng “theo Tây”, chống lại triều đình. Dân chúng cứ tưởng chạy giặc ít lâu, Tây sẽ rút đi, lại về làng cũ.

Vậy rồi ruộng bỏ hoang, không ai nhận. Ông Sĩ xin hết ruộng đó, Tây liền cho. Nhờ vậy nên ông Sĩ có nhiều ruộng, trở nên giàu có.

Cụ Vương Hồng Sển, trong “Sài Gòn năm xưa” viết: “Hồi Tây qua, nghe nói lại, những chủ cũ đều đồng hè bỏ đất, không nhìn nhận, vì nhận e nỗi quan và triều đình Huế khép tội theo Pháp. Vả lại, cũng ước ao một ngày kia Tây bại trận rút lui. Chừng đó ai về chỗ nấy, hốp tốp làm chi cho mang tội… Không dè bởi đất không ai nhìn, nên Pháp lập Hội đồng Thành phố, Ủy ban Điền thổ rồi đưa nhau đi khám xét từng vùng. Đến chỗ nào địa thế tốt, thì những ủy viên bản xứ nhận là của mình: “Ùy” (Oui) một tiếng! Đến chỗ nào nẻ địa thì lắc đầu, tiếp theo nói “Nông”, (Non) cũng một tiếng! Chung quy chỉ học hai tiếng “Ùy, Nông” mà có ông lập nghiệp truyền tử lưu tôn. Trận bão năm Giáp Thìn (1904), đất Gò Công bỏ hoang vô số kể, ai đủ can đảm chịu ra mặt đóng thuế thì làm chủ chính thức, mà có ai thèm đâu… Thế rồi, nài ép ông, ông bất đắc dĩ phải chạy bạc mua liều. Nào ngờ vận đỏ, ruộng trúng mùa liên tiếp mấy năm”.

Tương truyền ngôi nhà lầu đồ sộ của Huyện Sĩ tại Tân An, được cất trên thế đất hàm rồng nên gia đình ông trở nên giàu có, danh vọng bậc nhất thời đó. Nhiều tài liệu nói rằng khi đang xây nhà thờ Chợ Đũi (tức nhà thờ Huyện Sĩ), theo yêu cầu của giáo dân vùng Bảy Hiền, người ta đã cắt bớt một gian giữa của nhà thờ này để lấy tiền đó xây nhà thờ Chí Hòa; con trai của Huyện Sĩ là kỹ sư Lê Phát Thanh cũng bỏ tiền ra xây nhà thờ Hạnh Thông Tây. Tất cả những ngôi nhà thờ này đều xây trên đất của Huyện Sĩ.

Ngày nay, nếu đi bằng xe máy từ nhà thờ Huyện Sĩ đến nhà thờ Hạnh Thông Tây phải mất gần một tiếng, đủ thấy “lãnh thổ” của Huyện Sĩ mênh mông chừng nào.

Không chỉ có thế, các con của Huyện Sĩ như bà Lê Thị Bính (mẹ của Nam Phương hoàng hậu), Lê Phát Thanh, Lê Phát Vĩnh, Lê Phát Tân… đều là những đại điền chủ có rất nhiều đất đai ở Tân An, Đức Hòa, Đức Huệ và Đồng Tháp Mười… Riêng trưởng nam của Huyện Sĩ là Lê Phát An được vua Bảo Đại phong tước “An Định Vương”, là người duy nhất trong lịch sử Nam Kỳ thuộc hàng dân dã (chăn vịt), không là “hoàng thân, quốc thích” được lên ngôi vị cao quý nhất của triều đình. Năm 1934, nhân dịp gả cô cháu gái về Huế làm Hoàng hậu, Lê Phát An đã tặng cho Nguyễn Hữu Thị Lan 1 triệu đồng tiền mặt làm của hồi môn (1 triệu đồng lúc bấy giờ, giá vàng khoảng 50 đồng/ lượng. Món quà này tương đương 20.000 lượng vàng. Gia đình Nguyễn Hữu Hào (thân phụ bà Nam Phương, rể của Huyện Sĩ) giàu hơn Bảo Đại. Trong đời làm vua, ông Bảo Đại xài tiền của vợ nhiều hơn tiền bạc của triều đình. Vua Bảo Đại và bà Nam Phương sống chung với nhau ở Huế 12 năm, tính ra mỗi năm ông Bảo Đại xài 1.750 lượng vàng!!!!

 Huyện Sĩ mất năm 1900, hai mươi năm sau vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài cũng tạ thế. Người ta đưa xác hai ông bà vào chôn ở gian sau nhà thờ Huyện Sĩ, là một nhà mồ…

Năm 1971, tôi (tg) đi Đồng Sơn, trên kinh Chợ Gạo, tỉnh Gò Công. Trước khi tới đây, phải đi ngang hai ngôi nhà lầu xây kế nhau. Nhà kiểu Tây, rất đẹp, nằm chơ vơ giữa đồng ruộng bát ngát. Hai ngôi nhà lầu nầy bị hư hại, vách tường lỗ chỗ vết đạn vì trong mấy năm chiến tranh, gia chủ bỏ chạy lên Saigon rồi qua Tây, hai ngôi nhà trở thành đồn bót của Tây, sau bỏ hoang. Gia chủ là ai? Nghe nói hai bà con gái út, con chủ nhà nổi tiếng đẹp là Tám Đào và Chín Yến (?) cũng đã đi Tây rồi. Nhà nầy thuộc dòng họ Nguyễn Hữu… bên nội bà Nam Phương. Thấy cảnh hoang phế nầy, tôi nhớ tới câu tục ngữ mẹ tôi thường nói: “Chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời.”

(5) Sau khi chính phủ Phan Huy Quát đổ, quyền hành trao lại cho “Hội Đồng Quân Lực” thì các tăng sĩ Phật giáo lấy làm lo. Một là người Mỹ còn “cần ở lại miền Nam”. Có nghĩa là câu nói của Giám Mục Phạm Ngọc Chi tại nhà thờ Phú Cam, khi làm lễ vô đảng Cần Lao cho một số giáo dân ám ảnh các tăng sĩ nầy hay chăng: “Khi nào người da trắng còn ở lại đất nước nầy, họ còn cần đến chúng ta.” Chúng ta là tín đồ đạo Thiên Chúa La Mã đấy! Vậy thì, như lịch sử cho thấy, còn người da trắng ở đây, dù Tây hay Mỹ, đạo Phật vẫn còn bị chèn ép, đàn áp dài dài. Quyền lực nằm trong tay các ông tướng. Thử hỏi có ông tướng nào đang cầm quân mà được Mỹ buông lỏng, thoát ra khỏi sự “cương tỏa” của Mỹ. Vậy thì số phận đạo Phật sẽ ra sao? Vì vậy, trước khi có cuộc đấu tranh của Phật Tử  Miền Trung, Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhứt đã đưa ra yêu cầu Quân Đội phải tổ chức bầu cử, trao quyền lại cho dân sự. Cuộc đấu tranh của Phật Tử Miền Trung, do ông Trí Quang lãnh đạo, cũng không ra ngoài mục đích đó. Chính vì có cuộc đấu tranh nầy mà có các cuộc bầu cử bầu Tổng thống, Thượng, Hạ viện năm 1967. Tiếc rằng, tuy “Hội Đồng Quân Lực” đã trao quyền lại cho Chính Phủ Dân Sự, nhưng nền Đệ Nhị Cộng Hòa vẫn còn bị người M ỹ thao túng, miền Nam chưa có dân chủ, tự do thật sự, hoàn toàn. Đó là điều mà ông Trí Quang nói rằng: “Tính họa hổ mà thành ra họa cẩu.”

Dù sao, miền Nam VN lúc đó cũng đã có một chế độ Cộng Hòa. So ra cái “Cộng Hòa của ông Thiệu” tốt hơn cái “Cộng Hòa của ông Diệm” nhiều: có đối lập, có thiên hữu – thiên tả, có đảng phái thân chính, có đảng phái đối lập, có “dân biểu gia nô” và cũng có “dân biểu đối lập”, có “ký giả đi ăn mày”, có “chống tham nhũng” của linh mục Trần Hữu Thanh, có “bôi đen chế độ”. Những cái sau đã giúp Việt Cộng sớm treo cờ ở Dinh Độc Lập.

(6) Người ta còn nói hôm đó giận quá, cụ Nguyện đã tát tai ông Đại Úy Minh. Ông Minh không dám nói gì, còn “cậu” thì bảo: “Hắn tát tai “tau” đó, không phải “mi” “mô”!

(7) “Làm những gì ta nói, đừng làm những gì ta làm” (tục ngữ Tây). Thầy dạy học trò “thất phu hữu trách” nhưng thầy thì “trốn quân dịch”

Công tội khá nhập nhằng. Có phải đó là cái “cẩu” mà ông Trí Quang muốn nói? 

Phụ lục 1

Thượng thư Thái Văn Toản triều Bảo Đại, quê làng Quy Thiên, (tên cũ là Trí Lễ), phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Xuất thân trong một gia đình Nho học, con ông Thái Văn Bút làm quan đời vua Thành Thái, Duy Tân, mẹ là Tôn Nữ Như Ty, ái nữ của ông hoàng Tùng Thiện Vương.

Thuở nhỏ, ông học ở Huế, tốt nghiệp Trường Thông Ngôn Huế, năm 1902 làm thông ngôn tại Phủ Thống Sứ Bắc Kỳ, sau về làm việc tại Khâm Sứ Huế. Năm 1905, ông là người sáng lập kiêm Hội Trưởng Hội Quảng Tri (trụ sở ở đường Hàng Bè, Huế). Đây là một hội hoạt động văn hóa, giáo dục, nghệ thuật.

Năm 1918, ông được thăng “Hồng Lô Tự Khanh”, sung “Ngự Tiền Thông Sự” triều Khải Định, rồi thăng “Quang Lộc Tự Khanh”, “Thái Thường Tự Khanh”.

Năm 1926, ông làm Tổng Đốc Thanh Hóa. Năm 1929 thăng Thượng Thư Bộ Hộ, sung “Cơ Mật Viện Đại Thần”. Năm 1931 thăng “Hiệp Tá Đại Học Sĩ”.

Khi Bảo Đại về nước cải cách nội các (1933), ông làm Thượng Bộ Công kiêm Bộ Lễ và Bộ Mỹ Thuật, sung “Cơ Mật Viện Đại Thần”.

Sau “Hiệp Định Sơ Bộ” ký ngày 6 tháng 3 năm 1946, sợ ông quan hệ với Pháp, Việt Minh “đưa khéo” ra Nghệ An, với danh nghĩa “tham gia kháng chiến”, làm Cố Vấn Mặt Trận Liên Việt Liên Khu IV. Năm 1952, ông mất tại xã Bạch Ngọc, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Sau khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ tháng 12 năm 1946, gia đình ông vẫn định cư ở Huế.

Được tin ông mất, chùa Phật Giáo Tỉnh Hội Quảng Trị làm lễ cầu siêu cho ông, vì ông từng làm Hội Trưởng Hội Phật Học, và là người đứng ra xây chùa Phật Học tỉnh Quảng Trị. Chùa nầy bị Việt Minh “tiêu thổ kháng chiến” đập phá hoàn toàn. Năm 1948, Phật Tử Quảng Trị xây lại chùa mới trên địa điểm chùa cũ.

Ông là tác giả một số thơ, bài viết đăng trên các báo ở Huế, Hà Nội, không được nổi tiếng lắm.

Làng “Qui Thiện” của ông nguyên là làng Trí Lễ, bên kia sông Vĩnh Định của làng Trí Bưu. Khi vua Hàm Nghi xuất bôn, xuống “Chiếu Cần Vương”, dân làng Trí Lễ đứng lên, cầm gươm giáo, gậy gộc đánh Tây, phò vua. Khi “Phong Trào Cần Vương” tan rã, dân làng lại theo “Phong Trào Văn Thân”, “Bình Tây Sát Tả”. “Bình Tây” là chống Tây, “Sát Tả” là giết những người có đạo theo Tây. Về sau, cả hai phong trào nầy bị Tây đàn áp, dân làng Trí Lễ không ít người bị bắt, tù đày, bị giết. Một số người, như họ Thái, sợ Tây, chạy trốn lên Cam Lộ. Những ai không chạy trốn thì phải xin “rửa tội” để được các cha cố che chở cho. Vì vậy, hơn nửa số dân làng theo đạo Thiên Chúa La Mã. Tên làng được đổi thành “Qui Thiện”, là “trở về với điều thiện” mà không làm việc ác, như lời các cha cố dạy, không còn tham gia hay ủng hộ “Phong Trào Cần Vương”, “Văn Thân” nữa.

Thượng Thư Bùi Bằng Đoàn

sinh ngày 17 tháng 8 năm 1889 tại Hà Tây, đỗ Cử Nhân triều vua Thành Thái, khai thêm 3 tuổi để xin vào học trường Hậu Bổ, ra làm quan. Năm 1933, ông được Bảo Đại chọn giữ chức Thượng Thư Bộ Hình.

Trong cuốn “Tự Phán” của cụ Phan Bội Châu, – cuốn hồi ký cụ Phan viết về cuộc đời cụ và tự phê phán xấu tốt, hay dở -. Cụ có thuật lại việc cụ bị bắt ở Thượng Hải năm 1925, đem về Hà Nội rồi bị đưa ra “Hội Đồng Đề Hình” để xét lại cái án của cụ. – trước đó cụ đã bị Tây xử tử hình vắng mặt -. Khi ra tòa, quan Tây ngồi ghế chánh án, ông Bùi Bằng Đoàn làm thông ngôn.

Quan Tây hỏi:

– “Comment vous appelez-vous?”

Ông Bùi Bằng Đoàn dịch là:

– “Mày tên gì?”

Ông Bùi Bằng Đoàn dịch chữ “vous” là “mày”. Gọi cụ Phan bằng “mày”, nghe có được không?

            Có người cho là không được; trong đó có tôi!

                                    (Trích “Mày Tên Gì?” cùng tác giả)

Thượng Thư  Hồ Đắc Khải

là con cả của Thượng Thư Hồ Đắc Trung, – người “lập án”xử tội vua Duy Tân, quê ở làng An Truyền (tục gọi là làng Chuồn, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên). Năm 1915, ông đỗ Cử Nhân. Năm 1916, ông tốt nghiệp Trường Hậu Bổ và ra làm quan, từ tri huyện, thăng dần đến Tổng Đốc Bình Phú. Năm 1933, vua Bảo Đại lập nội các mới. Hồ Đắc Khải được trao chức Thượng Thư bộ Hộ. Ông là anh rể Bác Sĩ Tôn Thất Tùng và cậu của nhà Bác Học Bửu Hội.

Phụ lục 2

Thư cụ Võ Như Nguyện

gởi cho ông Hoàng Đồng Tiếu

Pau 24-7-1977

“… Như Bác đã biết, tôi đã viết tập “Thế Nước Lòng Dân” năm 1956-57 mà anh em đã đệ trình Cụ Ngô và anh em đã ca ngợi tôi can đảm và nói thẳng công và tội của Cần Lao, của Phong Trào, của Tập Đoàn Công Dân v.v… Rồi năm 1957, như anh đã đọc tập thứ hai “Điều trần về các tổ chức có thể nguy hại đến chính thể Cộng Hòa Việt Nam”, tập này chỉ đánh máy có 6 bản gởi cho 5 anh em nhà họ Ngô. Tập này ký tên 30 người có cha Khai, Hay, Thọ, cả ông Lễ v.v… Tập này không phổ biến vì nói đến những tệ đoan lớn của ông Cẩn và Tập Đoàn Công Dân và các vị Linh mục, bà Nhu v.v… Không công khai như tôi đã trình Bác lúc đó vì có hại là để cho Cộng Sản khai thác…

 “… Năm 1963, như Bác rõ hơn ai hết, tôi ra lời tuyên ngôn tại Huế và bị ông Cẩn ra lệnh bỏ tù. Tôi có theo Phật giáo đâu, mặc dù trong khi Tập đoàn Công Dân của ông Cẩn mạnh, tôi từ chức ngang xương Tỉnh trưởng Bình Định và đem cả gia đình, họ hàng quy y liền để cho ông Cẩn thấy. Tôi đã từng phá cửa ngỏ nhà ông Cẩn để vào nhà, đã từng đánh đập gia nô ông Cẩn trước mặt ông Cẩn và bảo rằng vào nhà này thêm nhục nhã vì vào đây không phải để mà đóng góp thật sự việc nước. Ông Cẩn lập hồ sơ Bác và tôi là gián điệp Pháp, cả Duyến nữa, bắt thằng Quế khai là bọn mình và thằng Thá gì đó (thằng nhà giàu ở đường Trần Hưng Đạo) đã liên lạc với tụi Tây… Ông Cẩn đã bắt giam Bác, cho người đến ám hại tôi… Bác Tiếu ơi, Bác rõ chuyện ấy hơn ai hết…

“Tháng 9 hay 10 năm 1963, ông Cụ Ngô về Huế cho gọi tôi lúc 4 giờ chiều. Hai Cụ cháu ngồi tâm sự với nhau cho đến 10 giờ tối. Hôm ấy tùy viên là Đại úy Lê Châu Lộc đứng hầu sau lưng Cụ. (Hiện bây giờ Lê Châu Lộc ở Mỹ). Lê Châu Lộc đã nghe được câu chuyện giữa hai Cụ cháu tôi. Lê Châu Lộc lúc tiễn tôi ra cửa, hơn 10 giờ tối rồi có nói với tôi lần thứ nhất mà Lộc được nghe câu chuyện giá trị như vậy.

Hôm đó ông Cụ kể lại chuyện xưa, nhắc lại mấy tập tôi đệ trình Cụ, đề cập đến quyển “Con Đường Giải Thoát” của tôi, Phật giáo, Công giáo, chuyện trong gia đình và chuyện người Mỹ… Tóm tắt Cụ nói: chú Cẩn và thím Nhu có nhiều lỗi lầm, các vị Linh mục và cả Đức cha nữa cũng lầm lỡ, nhưng Nguyện là nho học, Nguyện có biết câu “Gia nan thiện hạ dị” không? “Chuyện nhà là vậy, khó giải quyết mau, để lần lần sửa chữa, nếu gấp, mau sẽ lâm vào cảnh “Bì oa trữ nhục” của Nguyễn Nhạc, Huệ, Lữ, tôi biết cả và cũng vì bọn làm việc chung quanh cái gì cũng chạy đến thưa trình với chú Cẩn, chú thím Nhu, Đức Cha. Tôi đã từng la rầy họ chỉ có một Tổng thống thôi như Nguyện đã biết. Cụ lại nói rằng hiện đang bị khó dễ với Mỹ vì Mỹ muốn đem quân đội sang. Nếu quân Mỹ sang thì mình mất chính nghĩa, tạo đường tuyên truyền thuận lợi cho Cộng Sản. Mỹ đưa cố vấn là đã quá rồi. Tôi sẽ không chấp nhận, dân ta có đủ quân lính để đánh Cộng Sản. Mỹ chỉ giúp khí giới, phương tiện là thắng. Ngoài Bắc, Nga-Tàu nó giúp Cộng Sản mà nó có đưa quân qua đâu? Mỹ cũng muốn giao cho họ hải cảng và phi cảng, tôi có trả lời giao và không giao cũng như nhau, trong vấn đề chống Cộng thì dùng chung. Họ không bằng lòng, chắc là sẽ xảy ra nhiều chuyện không hay. Vả lại tôi và chú Nhu có ý dù hai miền Quốc-Cộng tranh chấp nhưng đều máu mủ ruột thịt, phải có biện pháp anh em giải quyết lấy chiến tranh, đỡ tốn hao sinh mạng, tài sản rồi bên nào kéo dài chung quy sẽ bị lệ thuộc vào một cường quốc và đất nước chia rẽ vì các cường quốc có ý định chia rẽ cả”.

Võ Như Nguyện

(Trích lại ở hồi ký “Việt Nam máu lửa quê hương tôi” của Hoành Linh Ðỗ Mậu trang 726, 727, ấn bản năm 1986)

Tg tự gạch ở dưới – tg

Phụ lục 3

phần ghi chú (5)

Bản ghi nhận tình báo CIA (trích):

VĂN PHÒNG GIÁM ĐỐC TÌNH BÁO

(Directorate of Intelligence)

Hồ Sơ Mật, viết ngày 20 tháng 4 năm 1966

Hồ sơ số No. 0806/66 Bản thứ 213 Giải Mật Ngày 15 tháng 1 năm 2004

Tên hồ sơ: CIA-RDP80B01676R000100050011-6.pdf

Tháng 3 năm 1966, Phật Tử biểu tình tại Đà Nẵng và Huế, tổng đình công, chiếm đài Phát thanh ở Huế và Đà Nẵng.

– Ngày 17-3-1966, tại Sài Gòn đại sứ Hoa Kỳ tại VNCH, Cabot Lodge gặp Thầy Thích Trí Quang, trong khi các tướng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ gặp Thầy Thích Tâm Châu.

– Ngày 19-3-1966, Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tuyên bố không chống đối chính phủ mà chỉ đòi hỏi bầu cử và thành lập chính phủ dân sự. Biểu tình tiếp diễn.

– Ngày 5-4-1966, tướng Nguyễn Cao Kỳ đem theo hàng ngàn binh sĩ ra Đà Nẵng bằng cầu không vận Mỹ, nhưng bị binh lính địa phương ngăn chặn, không cho ra khỏi sân bay.

hoànglonghải - Nhà Họ NGÔ