1Thần quyền “đè” Thế quyền

Phần đông người Huế ghét ông Ngô Đình Thục! Nếu có ai không ghét thì cũng không ưa.

Trước hết là vì lý do tôn giáo!

Thời ông Ngô Đình Cẩn còn làm “Lãnh Chúa Miền Trung” thì còn “đỡ” một chút. Tới khi “Đức cha” về Huế, “cậu” bị “cướp quyền” thì tình trạng đạo Phật bị đàn áp càng ngày càng tồi tệ. Những chức vụ trong chính quyền như tỉnh trưởng, quận trưởng, trưởng ty Công An đều bị thay thế, bay chức đều đều, nếu không chịu “rửa tội” hay không phải là “tín đồ của đức cha”. Tín đồ mà phải là “tín đồ của đức cha” kia.

Một hôm, ông Trí Quang gặp ông Nguyễn Văn Hai, Giám Đốc Nha Đại Diện Giáo Dục, nhờ lên thưa với “cậu” rằng ở Phú Yên, Công An “hợp đồng” với mấy ông linh mục, bắt bỏ tù thầy chùa dữ lắm. Phật Tử ai nấy lo sợ. Nghe xong, “cậu” bảo: “Thôi anh Hai vô Saigon trình với tổng thống. Mấy ông nầy (Công An) là người của Đức cha, việc của Đức cha, tui không làm chi được mô!”

Ông Hai đi Saigon, mời thêm cụ Trần Bá Chức, Tổng Giám Đốc Nha Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục cùng đi theo (1).

Sau khi nghe ông Hai trình bày sự việc ở Phú Yên, Tổng Thống Ngô Đình Diệm nói: “Tại răng không bắt mấy ông cha ni bỏ tù mà lại bắt mấy ông thầy chùa?”  Nghe tổng thống nói vậy, ông Hai thấy cảm động lắm, hả dạ, thấy hi vọng, thấy ông Ngô Đình Diệm quả thật là chí công. Nhưng sự việc chỉ dừng ở đó. Tổng Thống có ra lệnh thả mấy ông thầy chùa hay không? Cũng có thể! Nhưng có ai cản trở lệnh ông Diệm không? Không biết được! Mấy ông thầy chùa vẫn cứ tiếp tục ngồi tù, không ông nào được tha cả. Ông Trí Quang đành ngồi thở dài.

Khi ông Thục về Huế, ông nắm hết quyền lực, “cậu Cẩn” đành “ngồi chơi xơi nước”, đi câu cá cho đỡ “buồn tình đời”. “Cậu” có một cái văn phòng đặt tại ngôi nhà ngó vô nhà thờ Phú Cam, bảng trắng đề chữ màu xanh (biển) rõ ràng “Văn Phòng Cố Vấn Chỉ Đạo”. Người ngồi trong đó, có thể là ông Đại Úy Minh. Người ta biết vậy chớ không rành vì chỉ có những ai muốn “thưa bẩm gì với cậu” mới vô ra văn phòng nầy mà thôi. Sau khi ông Thục về Huế năm 1960, không bao lâu thì tấm bảng “Văn Phòng Chỉ Đạo…” bị hạ xuống. Dĩ nhiên, người dân thường không rõ lý do tại sao, nhưng “tay chân nhà họ Ngô” thì biết rõ lắm:

Anh em nhà nầy trọng “quyền huynh thế phụ”, rất nể trọng “đức cha”. Sau khi ông Ngô Đình Khôi qua đời, “đức cha” là số 1 trong nhà. “Đức cha” nói gì, biểu gì, ai nấy đều nghe nghe răm rắp. Trước 1960, gần tết, “đức cha” về Huế ăn tết, đi chung máy bay với tổng thống, chung xe từ Phú Bài về Phú Cam với tổng thống. Ông Diệm ngồi chỗ sau lưng tài xế, chỗ bên phải dành cho “đức cha”. Ông Diệm làm tổng thống còn vậy, huống chi các ông họ Ngô kia.

Đức cha coi thường “cậu Cẩn” ra mặt, một là vì “đức cha” ỷ mình là anh, hai là vì “đức cha” chê “cậu” dốt nát, chẳng học hành, bằng cấp gì cả.

Khoảng thập niên 1930, có thời gian “đức cha” làm hiệu trưởng trường Providence ở Huế, có cho ông Diệm, bấy giờ đã thôi thượng thư, đang thất nghiệp, dạy ít giờ ở đây, kiếm chút tiền tiêu vặt.

Có những người hồi ấy là học trò “đức cha”, nhờ vậy mà sau nầy làm lớn, như ông Lâm Lễ Trinh, làm bộ trưởng Bội Nội Vụ. Tiến sĩ Phan Văn Thính, con cụ bác sĩ Phan Văn Hy, cũng là học trò đức cha tại Providence, có thời làm việc tại Tòa Đại Sứ VNCH ở Anh, – khi ông Ngô Đình Luyện làm đại sứ tại đó -, có lần gặp đức cha ở Châu Âu, ông biểu ông Thính nên về Saigon mà “giúp tổng thống”. Ông Thính “dạ” nhưng không về. May cho ông!

Nếu “cậu” học hành đàng hoàng, lên tới bậc trung học, học ở đây với “đức cha”, ít ra thì cũng có được cái bằng tú tài Tây, có đâu mà phải khai trước “Tòa Án Cách Mạng” rằng “Tui văn dốt, vũ nhát”.

Không riêng gì ông Lâm Lễ Trinh, ông Phạm Ngọc Thảo, từ bưng mò ra, nhờ bóng “đức cha” mà sau nầy lên tới trung tá, đại tá, làm tỉnh trưởng Kiến Hòa, làm tình báo (?) cho Mỹ và cả cho Việt Cộng, v.v…

Dù ông Ngô Đình Thục làm giám mục ở Vĩnh Long, rất xa Huế, người ta cũng biết ông Thục rất giàu.

Làm chi mà giàu?

Không biết ở Vĩnh Long, ông Thục có bao nhiêu ruộng. Đó là ruộng “của nhà chung” hay của cá nhân ông ta. Tuy nhiên, ở Saigon, ông Thục là chủ nhân một cái bệnh viện (?) để “kinh doanh” hay “làm phúc”? Ông cũng là sở hữu chủ thương xá Tax là cơ sở của Tây để lại. Đất của ông Thục ở Bảy Hiền, xưa là rừng cao su của Tây, được bán cho dân xây nhà, xây phố…

Người ta bàn tán rằng khi mấy ông chủ Tây cuốn gói về Tây năm 1955, không chuyển tiền về theo được, phải nhờ ông Thục “chuyển ngân” giùm. Việc “làm giúp” đó đem lại cho ông Thục không ít tiền bạc và tài sản. Khi đó ông Huỳnh Văn Lang làm Giám Đốc Viện Hối Đoái. Trong hồi ký của ông Lang, không thấy nhắc lại việc chuyển tiền nầy. Không rõ lý do!

Việc “đức cha” cũng như bà Nhu khai thác gỗ ở Phước Long, Long Khánh cũng bị người ta bàn tán đến. Ở Phước Long có tên một con đường đặt tên Trần Lệ Xuân, đường chuyển vận gỗ. Gần trại tù cải tạo Z30 – A Xuân Lộc, có một khu rừng trồng cây giá tỵ của bà Nhu. Gỗ giá tỵ xuất khẩu “được tiền” lắm, để làm báng súng rất tốt.

Gỗ ở trong rừng. Việt Cộng cũng ở trong rừng. Ai vô rừng lấy gỗ mà không phải “đóng thuế cho Việt Cộng”, dù là “gỗ của đức cha” hay “gỗ bà Nhu”.

Trước 1955, trên sông Saigon, ké cận thành phố Biên Hòa -, có một cái bến vận chuyển gỗ súc của ông Đỗ Cao Lụa, thân phụ tướng Đỗ Cao Trí. Bến nầy rất nhộn nhịp, đến nỗi nó có một cái tên riêng: Bến Súc. Từ khi đức cha và bà Cố Vấn xông ra khai thác gỗ, “Bến Súc” trở thành “Bến Vắng”, tức là gỗ không về Bến Súc nữa. Ông cụ Đỗ Cao Lụa bị “đức cha” và bà Cố Vấn gạt ra ngoài, tranh mất nghề “nhứt phá sơn lâm” hay sao?

Năm 1961, ông Diệm dự trù thay đổi chính phủ, đưa ra “thăm dò” tên hai ông người Huế: Ông Luật Sư Lê Trọng Quát, dự trù cho làm Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng, ông Nguyễn Văn Hai, Giáo Sư Cử Nhân, Giám Đốc Nha Đại Diện Giáo Dục Trung Nguyên Trung Phần, sẽ nắm chức Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục, thế chân Giáo Sư Nguyễn Quang Trình. Cả hai ông đều bị dư luận bác bỏ. Ông Quát thì “bộ hết người hay sao mà để một “sinh viên sĩ quan ba gai” làm bộ trưởng quốc phòng.” Ông Quát bị động viên khóa 2 Thủ Đức, đánh thằng Tây là cán bộ của trường nên khi mãn khóa phải mang “lon” đội (trung sĩ) thay vì thiếu úy, được về làm việc tại văn phòng “Ông quan sáu”, còn gọi là “Lầu ông Sáu”, tướng Pháp làm tư lệnh quân xâm lược miền Trung. Còn ông Hai thì “Bộ Saigon không có ai đậu tiến sĩ hay sao mà để một anh cử nhân làm bộ trưởng giáo dục”.

Biết chuyện đó, “đức cha” gọi ông Hai tới bảo: “Tôi cho anh làm Bộ Trưởng Giáo Dục, nhưng anh phải “trở lại đạo”. Ông Hai từ chối khéo: “Dạ thưa Đức Cha, con làm giám đốc ngoài miền Trung nầy thì được, làm bộ trưởng, không biết trong nam tình hình ra sao! Xin “đức cha” để cho con xem lại, sẽ trình “đức cha” sau.           

Khoảng môt tháng sau, ông Thục đi Saigon về. Đón ông Thục tại chân cầu thang máy bay, một bên là Linh Mục Sảng Đình Nguyễn Văn Thích, một bên là Linh Mục Nguyễn Văn Thuận (sau nầy lên ch! ưc Hồng Y). Ông Thục nói: “Kỳ nầy tôi về, tôi trị cái thằng Hai. Tôi cho nó làm bộ trưởng mà nó dám chống tôi.”

Nghe chuyện, Linh Mục Nguyễn Văn Thuận hơi lo, về nhà thưa lại với mẹ, bà Ấm, tức bà Ngô Thị Hiệp. Bà Ấm vội vàng gọi điện thoại cho “cậu”. “Cậu” cũng sợ, bèn gọi ông Hai lên, bảo: “Đức cha mà mần, không ai cản được. Nghe anh đang có hồ sơ xin du học bên Tây, thôi vô Saigon mà lo cho mau mau đi.” Ông Hai liền đi Saigon và rời Huế đi Tây trước khi ông Thục ra tay.

Về Huế, “đức cha” lo xây dựng nhiều lắm: Dựng lại “nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế” ở đường Nguyễn Huệ. Thấy nhà thờ to quá, ông Hai đang ngồi ở bàn hiệu trưởng, trong văn phòng trường, ấm ức nói với các giáo sư (trong số có tôi): “Mai mốt Việt Cộng vô đây, nó lấy nhà thờ làm hội trường chớ ích chi!” Hôm lễ khánh thành, ông Thục làm chủ lễ, anh Hoàn Tường, bạn đồng nghiệp với tôi đi dự lễ về, “xem tướng”, nói: “Ông Thục có hai con mắt vừa dữ vừa ác.” Tôi chưa từng thấy ông Thục nên không rõ anh Hoàn Tường nói trúng hay trật!

Ông Thục cho sửa lại nhà thờ Phú Cam, sai lấy đá ở nhà thờ Phú Cam đem xuống xây ở lăng nhà họ Ngô. Các tín đồ của nhà thờ Phú Cam cũng than phiền vụ nầy. Về sau, gần ngày tàn của họ Ngô, sét đánh nứt một đường ở cái bia nào đó trong nghĩa trang nầy, người ta lại bàn tán xôn xao, cho đó là hậu quả việc làm của ông Thục, lấy đá ở “nhà Chúa” đem về “nhà Riêng”.

Tại “ngã ba Thánh giá” có con đường trải đá cục, chưa tráng nhựa, khá rộng, xe hơi chạy được, nối ngã ba nầy với “đường Bến Ngự”, là con đường Nguyễn Hoàng, từ phía cầu Bến Ngự chạy lên, ngang qua nhà thờ cụ Phan Bội Châu. Phía đông con đường đá nầy, phía gần Phú Cam có một cái nhà lầu rất lớn, xây từ hồi Tây còn cai trị nước ta, người ta thường gọi là “lầu Jira” (không chắc tôi viết đúng chữ Jira). Nhà lầu của một ông Tây nào đó, đã cuốn gói về Tây, tương tự như “lầu ông Hoàng” ở Phan Thiết vậy. Trong chiến tranh 46-54, không thấy ai ở tại ngôi nhà lầu nầy, chắc là sợ Việt Minh. Khi về “làm việc Chúa” ở Huế, ông Thục mua lại, sửa sang rất đẹp. Ty Công Chánh Huế vội vàng cho tráng nhựa con đường nầy, để “đức cha” đi lại “làm việc Chúa” khỏi bụi.

Sau khi nhà Ngô sụp đổ, dân chúng kéo nhau tới phá ngôi nhà lầu nầy: Cửa kiếng, gương soi, bồn tắm, bàn ghế bị đập hư bể hết. Những thứ hàng nầy, nhập cảng từ bên Ý về, đẹp và mắc giá lắm. Một hôm, anh Khởi, thợ sửa xe gắn máy, trước kia thường sửa xe cho tôi ở tiệm Thùy Hoa, trên đường Duy Tân, nay làm Cảnh Sát Dã Chiến, có nhiệm vụ canh gác ngôi nhà nầy, không cho dân chúng đến phá nữa, gặp tôi, anh bảo: “Tới coi một chút. Tu hành chi mà sướng dữ”. “Tu hành chi”, có nghĩa là anh ta muốn ám chỉ ông Thục. Tôi có đến coi, cũng nghĩ thầm: “Chữ “tu” thường đi với chữ “khổ”. Ở đây, chữ “tu” đi với chữ “sướng”. Tu như vầy thì ai ai cũng “nên tu”, sống ngoài đời chi cho cực, là câu nói người đời thường mai mỉa vậy. Những thứ trang trí ở ngôi lầu nầy, so với nhiều nơi khác, cũng không lạ mắt lắm đâu, nhưng so với Huế hồi đó thì quả thật không ai có được.

Khi ông Thục làm tổng giám mục địa phận Huế thì nhà thờ La Vang được nâng lên hàng“Vương cung Thánh đường”. Đã “cung” mà lại còn “đường”! Thánh đường được mở rộng, xây lại đẹp lắm. Kiểu cọ là do Kiến Trúc Sư Ngô Viết Thụ vẽ. Bỗng dưng, quân nhân, công chức mỗi người phải “cúng cho thánh đường” hai trăm, bằng cách trừ trong một tháng lương. Tui thiệt không vui. Lương tui đã nhỏ lại bị trừ hai trăm, trong khi tui không phải là “con cái của Chúa”, vui làm sao được!

Việc “cấm treo cờ” và đàn áp ở đài Phát Thanh Huế hôm 8 tháng 5 năm 1963 mà kết tội cho “cậu Cẩn” thì oan cho “cậu” lắm. Bàn tay “cậu” không dính máu trong vụ nầy. Việc nầy chính là do ông Thục mà ra.

Sau đêm 8 tháng 5 năm 1963, ông Ngô Đình Thục không ít lần “tự thú” rằng chính ông là thủ phạm vụ đàn áp nầy. Ngay sau vụ đàn áp ít hôm, ông Thục họp dân chúng tại rạp ciné Morin, nói rằng “Việt Cộng ném lựu đạn tại đài Phát Thanh Huế”. Nói như thế, có phải “Đức cha” tự thú: “Lạy ông tui ở bụi nầy”?

Tôi tận mắt tôi chứng kiến sự việc xảy ra hôm đó ở đài phát thanh Huế và kể lại một cách trung thực trong bài viết “Một nhân chứng bất đắc dĩ” in trong “Viết Về Huế 1”, do Văn Mới xuất bản. (Cũng có đăng trên VanTuyen.net)

hoànglonghải

(1)- Như trên tôi có kể, tại sao ông Hai khi vào trình diện tổng thống phải mời cụ Trần Bá Chức đi kèm. Ấy là tại vì lời dặn của ông Võ Văn Hải, Bí Thư của ông Diệm. Ông Võ Văn Hải, trước kia thân phụ làm thượng thư, dòng dõi danh tiếng. Ông Hải từng theo cụ Ngô, chí sĩ, nên được ông Diệm tin tưởng, chọn làm bí thư. Ông Hải dặn ông Hai: “Khi vô trình Tổng Thống, anh đừng đi một mình. Khi anh ra rồi, có chuyện gì, “người ta” lại bảo rằng anh vô trình với tổng thống nầy nọ. Phiền lắm! Phải có người thứ hai làm chứng để “người ta” không nghi ngờ, không xuyên tạc việc anh vô gặp Tổng Thống.”

“Người ta” là ai?

Ấy là đám khuyển mã, là loài ong kiến, bám chân bà Nhu, “đức cha”, nhưng không bám ông Luyện. Ông Ngô Đình Luyện, ở ngoài vòng cương tỏa, sau khi ông “hoàn thành nhiệm vụ”. (Xem bài viết về ông Ngô Đình Luyện)

Khi ông Hai còn đi học ở Saigon, khoảng 1948, 49, thường tham gia biểu tình, rải truyền đơn. Ông bị bắt nhân vụ Trần Văn Ơn. Tây tha, nhưng giao lại cho bên giáo dục Việt Nam giải quyết. Khi ấy, cụ Trần Bá Chức làm giám đốc một cơ quan giáo dục ở Saigon, đứng ra “chủ tọa việc xử tội” đám sinh viên, học sinh dính dáng vô vụ Trần Văn Ơn. Cụ Chức kêu từng người lên rầy, rồi tha về, biểu đi học thì hãy lo học hành, chẳng phạt tạ gì cả. Ông Hai hiểu cụ Chức, thấy rõ đạo đức của cụ, cám ơn cụ nhiều lắm, nên sau nầy, ông vẫn thường nhờ cậy cụ Chức nhiều việc, kể cả việc vô ra dinh Độc Lập. Mời cụ Chức đi theo. Ông ta nghĩ, cụ Chức là người đạo đức, “người ta” không dám xuyên tạc.

Phụ lục

(về ông Ngô Đình Thục)

GIÁM MỤC NGÔ ĐÌNH THỤC

GỞI ĐÔ ĐỐC JEAN DECOUX,

TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG

BẢN DỊCH:

Tòa Truyền Giáo Vĩnh Long ngày 21/ 8/ 1944

Thưa Đô Đốc,

Một linh mục từ bổn Tòa được phái đi Sài Gòn để lo việc cho chủng viện vừa cho tôi biết rằng hai người em của tôi đang bị truy tố tại Huế. Vì đã lâu không nhận được tin tức gì từ Huế, tôi không biết là điều tôi vừa được báo cáo có đúng sự thực hay không.

Tuy nhiên, nghĩ đến nỗi đau đớn và sự bất nhẫn rất đúng mà chắc là Đô Đốc đã cảm thấy – nếu sự truy tố các em tôi là có thật, tôi vội viết thư này để bày tỏ với Đô Đốc nỗi đau đớn lớn lao của tôi về việc này.

Nếu hoạt động của hai em tôi được chứng tỏ là có hại cho quyền lợi nước Pháp thì – với tư cách của một Giám mục, của một người An-nam, và với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ-an và Hà-tịnh – tôi, tự đáy lòng, không chấp nhận (hoạt động của các em tôi).

Thưa Đô Đốc, tôi tuyên bố như vậy không phải với mục đích bảo toàn địa vị cá nhân của tôi: bởi vì nếu xét rằng cá nhân hèn mọn của tôi có thể phương hại đến quyền lợi của đạo (Thiên Chúa), tôi sẽ vui vẻ rời khỏi Tòa Giám mục nầy ngay.

Lời tuyên bố của tôi chỉ có mục đích là tỏ cho Đô Đốc thấy rằng lòng tin tưởng trìu mến của Đô Đốc (đối với tôi) đã không bị đặt vào một kẻ bất xứng hay vô ơn.

Thưa Đô Đốc, tôi chưa bao giờ tiếc là đã xa Huế như thế nầy. Giá có mặt ở đấy thì tôi đã có thể khuyên răn các em tôi tốt hơn, và khi chuyện xẩy đến tôi đã có thể chống lại các chủ đích của các em tôi, nếu quả thật các em tôi có nghĩ đến những dự định có thể gây hại cho quyền lợi nước Pháp.

Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, cho đến khi được chứng minh ngược lại, tôi xin thú thực là không tin rằng các em tôi đã phản lại truyền thống của gia đình chúng tôi đến như thế, một gia đình đã tự mình gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều chống lại Pháp và chỉ quyết định thiên về Pháp khi thấy có lợi.

Ngay chính các em tôi đã từng liên tục đưa mạng sống ra vì nước Pháp, trong cuộc nổi loạn của Cộng Sản. Diệm, người em kế tôi, suýt đã phải ngã gục dưới những phát súng của một Hoa kiều Chợ Lớn được phái đến Phan-rang với mục đích hại Diệm, Phan-rang là nơi mà Diệm đã mãnh liệt chống giữ lối xâm nhập vào An-nam của các cán bộ Cộng Sản từ Nam Kỳ phái đến.

Lẽ tất nhiên, sự tận tụy của các em tôi trong quá khứ không phải là điều nêu ra để làm cớ mà biện hộ cho hoạt động bất cẩn của họ ngày hôm nay, nếu sự bất cẩn nầy được chứng tỏ là điều đã gây nên tội. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là tôi đã làm chuyện vô ích khi kêu gọi đến sự khoan hồng đầy xót thương của Đô Đốc hầu xét với hảo ý trường hợp các em tôi. Đô Đốc không phải là người chỉ xét đến hiện tại mà lại bỏ quên đi quá khứ. Tôi nêu ra điều nầy khi xét thấy rằng thân phụ tôi là Ngô Đình Khả đã từng được vinh dự phục vụ nước Pháp dù sinh mạng bị hiểm nguy, và khi xét đến quá trình lâu dài của các em tôi, một quá trình được hình thành bằng lòng tận tụy vô bờ của các em tôi đối với nước Pháp, mà không sợ phải hy sinh mạng sống của mình cho nước Pháp.

Thưa Đô Đốc, một lần nữa bày tỏ với Đô Đốc tất cả niềm đau đớn của tôi trong vụ nầy, tôi xin Đô Đốc vui lòng nhận nơi đây lời kính chào trân trọng nhất của tôi.

NGÔ ĐÌNH THỤC

Ghi chú của Hoàng Long Hải: Ông Thục ghép ông Ngô Đình Khả “chung một bè” với Nguyễn Thân. Cả hai ông đều có công “đánh dẹp” Phan Đình Phùng. Nếu việc cụ Phan Đình Phùng nổi dậy “chống Tây là có tội”, thì ông Thân và ông Khả là “hai người có công.” Nếu cụ Phan Đình Phùng là người “yêu nước” thì ông Thân và ông Khả là “hai tên bán nước”

NGUYÊN VĂN:

Vicariat Apostolique de Vinh Long (Cochinchine)

Vinh Long, le 21 Aout 1944

Amiral,

Je viens d’apprendre par un prêtre de ma Mission, envoyé à Saigon pour les affaires du séminaire, que deux de mes frères ont été l’objet de poursuites judiciaires à Hué. N’ayant recu de Hué depuis longtemps aucune nouvelle, je ne sais si ce qu’on m’a rapporté corespondait à la vérité.

Mais, en pensant a la peine immense et à la juste indignation que vous avez du éprouvées, si ce qu’on leur imposait était fondé, je m’empresse de vous écrire, pour vous exprimer, Amiral, ma grande douleur en l’occurence.

S’il était prouvé que leur activité a pu nuire aux intérêts de la France, je la désapprouve du fond du coeur, comme évêque, comme annamite, et comme membre d’une famille dont le père a servi la France dès sa première venue en Annam et a exposé maintes fois sa vie pour elle dans les expéditions memées, comme lieutenant de Nguyễn Thân, contre les rebelles commandés par Phan Đình Phùng à Nghệ An et Hà Tịnh.

Cette déclaration n’a pas pour but, Amiral, de sauvegarder ma situation personnelle: car ce sera avec joie que je quitterai mon évêché si tôt qu’il sera constaté que mon humble personne pourrait porter préjudice aux intérêts de la Religion.

Elle n’a pour objet que de vous montrer que vous n’avez pas accordé votre bienveillante confiance à un indigne ou à un ingrat.   Amiral, je n’ai jamais tant regretté mon éloignement de Hué. Là j’aurais pu mieux conseiller mes frères et, à, l’occasion, m’opposer à leur desseins, si vraiment ils en ont concu de nuisibles aux intérêts de la France.

Je puis hélas me tromper, mais je vous confesse, Amiral, que je ne puis croire, jusqu’à preuve du contraire, qu’ils se sont montrés si rebelles aux traditions de notre famille, qui s’était attachée à la France dès le début, tandis que les aieux et les pères des mandarins actuels, presque tous, combattaient contre elle, et ne s’étaient décidés pour elle que lorsqu’il n’avait plus que profit à le faire.

Mes frères eux-mêmes ont exposé leur vie continuellement pour la France lors de la révolte communiste. Mon cadet Diệm a failli tomber sous les coups de révolver d’un chinois de Cholon envoyé à cet effet à Phan Rang où Diệm défendait énergiquement l’entrée de l’Annam aux émissaires communistes envoyés de la Cochinchine.

Certes, leur dévouement dans le passé n’est pas l’excuse de leur imprudences actuelles; s’il est prouvé qu’elle est coupable. Mais je crois ne pas faire en vain appel à votre miséricordieuse clémence en leur faveur, qui juge du présent sans pourtant oublier le passé. Celà en considération des services que mon père Ngô Đình Khả a eu l’honneur de rendre à la France au péril de sa vie, et de la longue conduite de mes frères faite d’un dévouement sans bornes à la France, sans peur de sacrifier leur vie pour elle.

En vous exprimant de nouveau, Amiral, toute la douleur que je ressens dans cette affaire, je vous prie d’agréer mes hommages les plus respectueux.

NGO DINH THUC

hoànglonghải - Nhà Họ NGÔ