1Lý thuyết gia của chế độ!

Khi ông Ngô Đình Diệm mới về cầm quyền, một hôm trong bữa ăn, ông chú tôi, một người như tôi từng giới thiệu, “theo cụ” khoảng từ đầu thập niên 1940, nói với anh em chúng tôi, tức là có Tuệ, Ủy cùng nghe: “Ông Nhu học giỏi lắm”. Theo tôi biết thì ông Nhu học bên Tây về, có bằng về “Cổ học”, một thứ bằng cấp ít ai có. Một lúc sau, ông chú tôi nói thêm: “Đưa khuỷu ngón tay, gõ vào một cái bát sứ Giang Tây, nghe tiếng kêu, ông ấy biết bát sứ làm đời nào, Càn Long hay Khang Hy.”

Ông Nhu xuất thân École des Chartres, hai mươi năm sau, người Việt Nam chưa ai đậu bằng ấy, bởi vì “học ngành ấy khó lắm”. Có phải vì cái bằng ấy nên khi mới về nước, Tây bổ dụng ông làm việc tại “Musée de KhaiĐinh”, – “Viện Bảo Tàng Khải Định”, nơi cất giữ nhiều đồ cổ. Tôi từng vô đây coi khi tôi học lớp Nhì. Những thứ khiến tôi chú ý và thích thú là “súng cổ”, súng của thế kỷ 19, có cây dài như sào giữ vịt, súng “poọc-hoọc” của Tàu. Tôi không nhớ có cây súng nào của ông Cao Thắng hay không. Dĩ nhiên có rất nhiều gươm, tôi không nhớ hết.

Vợ chồng ông Nhu rời Huế trước 1945. Ông Ngô Đình Nhu có làm việc ở đâu nữa không thì tôi không rõ lắm.

Ở “Musée Khải Định” có rất ít sách. Quả thật tôi không nhớ rõ vì lúc đó, tôi chỉ mới bắt đầu mê sách, mà chỉ mê tiểu thuyết lịch sử của nhà Tân Việt Saigon, như: “Khói lửa Toàn Dương”, “Con đường Nghĩa vụ”, “Mây trôi về Bắc”, “Xin đắp mặt tôi mảnh lụa hồng”, “Mẹ cũng chết vì Tổ Quốc”, hoặc ngoài ra thì cũng là “Mắt Thần”, “Lệ Hằng phục thù”, “Đoan Hùng”, “Dao bay”, “Người Nhạn trắng”… làm sao biết tới sách gì trong Viện Bảo Tàng, bọn con nít như tôi lúc ấy biết gì mà đọc.

Nhưng có lẽ ở “Musée Khải Định”, hay thư viện, văn khố nào ông Nhu tới làm việc sau đó, không thể nào bằng “Thư viện Bắc Kinh”, nơi bố của Dương Khai Tuệ, mở mang trí óc cho anh sinh viên Mao Trạch Đông để sau nầy Mao trở thành một lý thuyết gia, chiến lược gia của Cộng Sản Tàu.

Khi ông Ngô Đình Nhu đưa ra “Học Thuyết Nhân vị” thì người ta bắt đầu chống ông ta. Nói về lý thuyết, chống Cộng phải có những nguyên tắc của nó như “Tư Sản chống Vô Sản”, “Hữu Thần chống Vô Thần”… như vậy thì người chống Cộng cũng phải có một “Học Thuyết chống Học Thuyết”. Học thuyết của Cộng Sản là “Chủ Nghĩa Mác”, người Quốc Gia có học thuyết gì để chống Cộng? Đó là “Chủ Nghĩa Nhân Vị”. Nhưng Chủ Nghĩa Nhân Vị là cái gì? Nó là một chủ nghĩa do ông Nhu tìm ra, nghĩ ra hay “cóp nhặt” tư tưởng của các triết gia Thiên Chúa Giáo đâu đó để gom thành một học thuyết mà ông tự cho ông là tác giả?

Ngoài việc chống ông Nhu, người ta còn “cười” ông Nhu về chuyện tác giả học thuyết chống Cộng đó vì cái “sở học” của ông không thể đưa ông lên vị trí của một lý thuyết gia. Ngôi trường mà ông xuất thân, không phải là một trường đào tạo các lý thuyết gia. Nó chỉ đào tạo những người nghiên cứu đồ cổ, nghiên cứu về tô, bát, chén, dĩa của Tầu mà người Âu Mỹ rất thích, hay nghiên cứu về gươm, súng, quần áo của người xưa như tôi đã từng thấy trong Musée Khải Định. Những “phẩm vật” nghiên cứu đó, đâu có thể đưa ông Nhu lên vị thế một lý thuyết gia?

Ngay khi Bộ Quốc Gia Giáo Dục thay đổi “Chương trình 12 tháng 8” (năm 1958), người ta cũng thấy sự lúng túng của ông Nhu, hay của Chế Độ VNCH cũng vậy!

Ngoài Bắc, sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm, là một cái bẫy để những nhà văn tư sản theo Việt Minh ló cái đuôi tư sản ra, để Chế Độ Cộng Sản Hà Nội thấy họ rõ hơn mà “chộp cổ cho đi tù”, tức là đưa họ vô tù mà ngồi; để chế độ “rộng cẳng” đề xướng, xây dựng và phát triển một nền “Văn Học Vô Sản”.

Chương trình cải cách của VNCH như tôi vừa nói ở trên là cho học sinh học và nghiên cứu các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, tức là lấy Văn Hóa Tư Sản” ở miền Nam mà chống lại “Văn Hóa Vô Sản” của chế độ Hà Nội.

Tuy nhiên, ông Nhu – tôi nói là ông Nhu – lúng túng trong công việc nầy. Bàn tới Tự Lực Văn Đoàn, không thể không nói tới ông Nhất Linh, lãnh tụ và linh hồn của nhóm nầy, nhưng ông Nguyễn Tường Tam thì lại có một quá  trình và  “tầm cỡ cách mạng” mà ông Nhu không thể sánh bằng. Hơn thế nữa, Thạch Lam, một cây bút sừng sỏ trong nhóm nầy, lại có khuynh hướng xã hội, khiến ông “kị” thêm ông Thạch Lam nữa. Do đó, trong chương trình học, các thầy giáo chỉ dạy “Đôi Bạn”, “Đoạn Tuyệt”, “Gánh Hàng Hoa”, “Con Đường Sáng” hơn là “Nhà Mẹ Lê”, có nghĩa là bàn về những nhân vật có cá tính tiểu tư sản như Dũng, Loan trong “Đôi Bạn”, Loan và Thân trong “Đoạn Tuyệt”, về Duy trong “Con Đường Sáng”, về Nhung trong “Lạnh Lùng”, về Trương trong “Bướm Trắng”, v.v… hơn là “Nhà Mẹ Lê” của Thạch Lam trong “Gió Đầu Mùa”, để chống lại chị Sứ trong “Hòn Đất” của Anh Đức, chống lại Chí Phèo của Nam Cao, v.v…

Khi bàn tới Tự Lực Văn Đoàn, trong “khung cảnh chiến tranh Quốc Cộng” mà không bàn tới lãnh vực nầy, e rằng “những nhà phê bình” thiếu một cái nhìn về lịch sử văn học cận đại đấy!

&

Đã biết ông Nhu như vậy rồi, ông lại buộc công chức trung cấp, giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, cán sự… tất cả phải theo học một “Khóa Nhân Vị” tại “Trường Nhân Vị Vĩnh Long”, thì người ta lại chê ông Nhu nhiều hơn.

Trước hết, “Trường Nhân Vị Vĩnh Long” là một “dạng” (nói theo cách Việt Cộng) “Trường Đảng” của Cộng Sản ở Hà Nội. Buồn cười hơn, cái “Trường Đảng của ông Nhu” lại nằm dưới tay giám mục Ngô Đình Thục và bóng dáng mấy ông cha mặc áo chùng đen làm giảng sư và giám thị.

Về nội dung, chủ nghĩa Nhân Vị (Personnalism) là góp nhặt tư tưởng của Emmanuel Mounier và Jacques Maritain, có xu hướng triết học đạo Thiên Chúa La Mã. Thành ra cái “Trường Đảng ông Nhu” lại có cái “dáng vẻ” của một “Trường Dòng” – trường Dòng chớ không phải “Trường Đạo”. Trường Đạo còn “nhẹ” hơn, không nặng nề với cái bóng chữ Thập của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã như cái “Trường Dòng” nầy của ông Thục.

Với lại, bọn “học viên” như chúng tôi, là giáo sư, xa rời mái trường cũng đã mấy năm rồi, còn độc thân, quen thói lè phè, trời khuya khoắt còn rủ nhau nhảy hàng rào đi uống càphê, sáng ưa dậy muộn thì vào “khuôn phép” của một “Trường Dòng” thế nào được?! Hơn thế nữa, là giáo sư, chúng tôi không vướng vào vòng danh lợi, mắc mớ chi phải học cho giỏi để được tiếng khen, để “đức cha” ngó ngàng tới mà kiếm chức nầy chức nọ.

Thành ra, sau khi “tốt nghiệp trường Đảng” của ông Nhu, chúng tôi gặt hái kết quả ngược. Ai có thiện cảm với mấy ông cha thì bây giờ sinh ra ác cảm. Ai có ác cảm với mấy ông cha, thì lại có ác cảm nhiều hơn.

Trong bọn “học viên chúng tôi, không thiếu mấy anh đạo dòng, đạo mấy đời rồi, không mấy chăm đi nhà thờ, còn như chuyện khôi hài về mấy ông cha, như kiểu “Ba Gia tú Xuất” thì mấy chả không thiếu gì chuyện, hết anh nầy tới anh kia, kể cho nghe. Mấy ông nầy thuộc hàng “Gần chùa gọi bụt bằng anh”. Vậy thôi!

Thành ra, ai không ưa ông Nhu, lại “không ưa” hơn. Phần đông chúng tôi là học trò cha Luận, sau khi học “Nhân Vị” lại không ưa cha nữa, và cha trở thành cái đề tài để chúng tôi chế diểu, bông đùa sau lưng cha, như kiểu mấy ông đạo dòng nói ở trên vậy!

Và chúng tôi “mai mỉa” không ít cái “Nhân Vị” mà ông Nhu tuyên truyền. Nhân là người. Người lại ứng tuổi với 12 con giáp. Vì vậy, từ “Nhân Vị” chúng tôi đặt thêm “Khuyển Vị” cho những người tuổi Tuất, hay “Ngưu Vị” – cho anh bạn cùng đi học “Khóa Nhân Vị” với tôi vì anh tuổi Sửu -, hoặc “Thử Vị” cho “cụ Ngô” vì cụ tuổi Tý.

Nói như thế là nói cho vui, nhưng nó cũng chứng tỏ sự thất bại của ông Nhu trong việc ông phổ biến và tuyên truyền cho cái “triết thuyết” của ông vậy.

Có lần tôi hỏi Tiến sĩ Phan Văn Thính có tham gia lớp học ở Suối Lồ Ồ không. Không trực tiếp trả lời câu hỏi, anh ấy kể rằng có lần ở Anh Quốc về, được ông Nhu gọi vô dinh để nghe ông nói về Ấp Chiến Lược. Theo nhận xét của TS Phan Văn Thính, ông Nhu nói dở, thiếu hấp dẫn, vô duyên, không nhìn vào mặt người đối thoại. (Cái nầy là “kỵ” lắm. Staline, Ngô Đình Diệm có cái tật nầy. Staline còn vừa nói vừa vẽ hình con chó sói lè cái lưỡi dài bằng bút chì đỏ nữa). Ông nói cho ông nghe, thỏa cái ý thích nói, muốn “dạy” người khác, như khi ông dạy các ông bộ trưởng, thứ trưởng hay tướng lãnh ở Suối Lồ Ồ vậy.

Ông Diệm rất chú trọng đến kế hoạch xây dựng các Khu Trù Mật, Dinh Điền… Tôi không bàn tới tính cách chiến lược quân sự của Dinh Điền hay Khu Trù Mật mà tôi đã nói trong cuốn “Hương Tràm Trà Tiên” (Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng – Văn Mới xuất bản) khi tôi viết hai bài về Dinh Điền Cái Sắn, nơi tôi từng làm việc ở đó. Khi chương trình Dinh Điền, Khu Trù Mật… đem ra thi hành thì nó có rất nhiều cái “bậy bạ”. Ở miền Trung, dân đang sinh sống yên ổn ở trong làng, bỗng có lệnh buộc phải dời vô Nam, đi Dinh Điền.

Tại sao vậy?

Có gì đâu! Tại vì ông nào mà bị buộc “đi Dinh Điền” là người rất “chăm Phật sự”, chăm đi Chùa, coi sóc Gia Đình Phật tử, có khi là “Khuôn trưởng”, v.v… và v.v…  Đây có thể là âm mưu của “Tập Đoàn Công Dân”, của các ông cha nhà thờ, cấu kết cùng Công An Quận và ông Quận Trưởng… Nói chung, là “hình ảnh cây súng P.38” của Công An với cây Thánh Giá của đạo Thiên Chúa La Mã, tương tự như ông Mô-ha-mát một tay cầm thanh kiếm, một tay cầm cuốn kinh Koran vậy.

Lại nói chuyện “Ấp Chiến Lược”.

Không bao lâu sau khi Diệm Nhu đổ rồi, ông anh tôi làm việc tại tòa Hành Chánh tỉnh, cho xe ba gác chở về nhà một xe “cọc sắt kẽm gai” để làm hàng rào. Lý do: Chương trình Ấp Chiến Lược của ông Nhu đổi thành chương trình Ấp Tân Sinh. Ấp Tân Sinh thì không cần hàng rào kẽm gai để “rào dân lại” như chương trình Ấp Chiến Lược. Ông tỉnh trưởng dân sự bây giờ, không phải là “đệ tử của đức cha”, “mở cửa kho” cho công chức, ai xin thì được cho một ít kẽm gai cọc sắt về làm hàng rào. Chính phủ không cần nữa, để chi cho chật kho.

Người thành phố không quan tâm về sự thành công hay thất bại của “Quốc sách Ấp Chiến Lược”. Việc đó xảy ra ở miền quê, nhất là trong Nam. Ở miền Trung, hàng rào Ấp Chiến lược chính là “lũy tre làng”. Với lũy tre làng, dân chúng biết và lo giữ làng thì con muỗi cũng không lọt vô làng được, nói chi tới cán bộ Việt Cộng.

Nhưng “cán bộ Việt Cộng” thì ở ngay trong “ấp Chiến Lược” chớ có ở ngoài ấp đâu.

Lý do?

Dễ hiểu vô cùng! Bởi vì kế hoạch phân chia làng xã của thời Đệ Nhất Cộng Hòa vi phạm “truyền thống tự trị làng xã” Việt Nam.

Ngày xưa, làng là đơn vị căn bản của xã hội. Vua chỉ cắt cử “người của triều đình” tới chức tri huyện, tri phủ, tri châu là chót bẹt. Dưới phủ, huyện, châu là làng, có khi là tổng. Các viên chức nầy do làng bầu ra, tuy dân chủ có hạn chế, nhưng cũng là do làng mà ra.

Không rõ ông Nhu có bắt chước Cộng Sản Bắc Việt hay không mà ông làm y như Việt Cộng: nhiều làng họp thành xã. Hội Đồng Xã (hay Hội Đồng Nhân Dân Xã – của Cộng Sản), Xã Trưởng (trong Nam) hay Chủ Tịch Xã (ngoài Bắc) đều do dân bầu để giữ tính cách tự trị của làng xã, nhưng đằng sau cái hội đồng dó, đằng sau ông xã trưởng hay chủ tịch xã là một cái “bóng đen”. Bóng đen đó là đảng Cần Lao (của ông Nhu) hay Chi Ủy Xã (của Cộng Sản). Bóng đen đó chọn người, chọn việc, v.v… thì “làng xã tự trị” cái con “khỉ khô” gì nữa.

Vi phạm “tính cách tự trị truyền thống làng xã” theo cách như thế là vừa thủ đoạn vừa lưu manh. Cộng Sản cũng vậy mà Cần Lao của ông Nhu cũng vậy.

Ấy là chưa kể chiếc áo đen của ông cha nhà thờ làng và “Tập Đoàn Công dân”, một tổ chức ngoại vi của đạo Thiên Chúa La Mã, hoạt động trong lãnh vực chính trị.

Do đó mà có những cái rất khó coi.

Ví dụ:

Xã Hải Trí (quê vợ tôi đấy, tôi biết rõ quê hương tôi lắm), quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Xã Hải Trí gồm hai làng Trí Bưu và Thạch Hãn họp lại mà thành. Chủ Tịch Xã (hay Xã trưởng) là người làng Trí Bưu. Chủ Tịch Hội Đồng Xã cũng là người làng Trí Bưu.

Làng Trí Bưu tuy ít dân hơn làng Thạch Hãn, nhưng số Hội Viên Hội Đồng Xã lại cao hơn, để khi bầu phiếu thì có đa số hơn. Làng Trí Bưu không văn hiến bằng làng Thạch Hãn, vì Thạch Hãn có nhiều người đỗ đạt hơn, giữ chức vụ cao hơn trong triều đình, chính quyền từ thời nhà Nguyễn và về sau. Thế tại sao không đặt tên là Hải Thạch (Hải Lăng/ Thạch Hãn) mà lại Hải Trí (Hải Lăng/ Trí Bưu). Bởi vì làng Thạch Hãn chỉ có một xóm đạo, còn làng Trí Bưu là cả một làng đạo. Xóm đạo thì tín đồ ít hơn dân làng đạo.

Sự kiện nầy, đâu phải là không có việc tiếp tay của “Tập Đoàn Công Dân” với chính quyền sở tại?

Người ta có thể nói rằng làm như thế là để nâng làng Trí Bưu lên, cho ngang bằng với làng Thạch Hãn, để có sự bình đẳng ở nông thôn.  Nói như thế thì nghe cũng hay, nhưng cũng có người cho rằng đó là cách “ngụy biện”.

Sự việc như vầy, đâu chỉ xảy ra ở một xã Hải Trí mà thôi đâu! Cái “khuôn mẫu” đó được áp dụng cho toàn miền Nam. Đó là nhận xét của tôi, một người sinh ra và lớn lên ở Quảng Trị, nhưng tới 30 tháng Tư, tôi đang “phục vụ” cho chính quyền VNCH ở Hà Tiên. Nôm na, đời giáo sư, đời lính, đời cảnh sát đã đưa tôi đi “khắp bốn vùng chiến thuật” nên tôi có cơ hội để nhận ra những tính cách như thế trong cái xã hội của chế độ gọi là Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa.

Ngay khi còn ở Huế, chưa lưu lạc vào miền Nam xa xôi, tôi đã thấy người ta “cười” về cái lý thuyết Ấp Chiến Lược của ông Nhu rồi.

Đó là cái gì?

Đó là cái “góp nhặt” của ông Nhu.

Ông gom một ít Kholkhoze của Liên Xô, một ít Kibbutz của Do Thái mà đẻ ra cái Ấp Chiến Lược của ông ta.

Nhưng “Ấp Chiến Lược” của ông Nhu là “đứa con của bạo lực”, có nghĩa rằng ai không dọn nhà vô Ấp Chiến Lược thì chính quyền dí súng sau lưng bắt phải vô. Khi thực hiện chương trình như thế nầy, không rõ chính phủ Liên Xô và Do Thái có dùng bạo lực như ông Ngô Đình Nhu hay không. Có thể Do Thái thì không, nhưng ở Liên Xô, bọn Công An cũng dí súng như thế. Vậy thì chế độ Cộng Sản và chế độ Diệm Nhu có khác gì nhau khi họ đều dùng bạo lực mà ép buộc người dân.

Khi tôi về Rạch Giá, Hà Tiên thì các “Ấp Chiến Lược” không còn. Hỏi thăm thì các ông cán bộ xã ấp già, họ cười: “Ấp Chiến Lược gì! Việt Cộng đầy trong đó!” Ông Quách Tòng Đức cũng bảo: “Việt Cộng từ trong ấp bắn ra!” Có nghĩa là khi chính quyền Cộng Hòa buộc dân phải dời nhà vô “Ấp Chiến Lược” thì cán bộ Việt Cộng cũng vô theo.

Không được lòng dân thì khó phát hiện và “giải trừ” Việt Cộng.

So ra, dù Kholkhoze, dù Kibbutz hay “Ấp Chiến Lược” của ông Nhu, và cả “Con Đường Sáng” của Hoàng Đạo  thua xa “Trại Ruộng” của Đức Phật Thầy Tây An. “Trại Ruộng” là do Phật Thầy bày ra cả trăm năm trước, kêu gọi dân chúng đi theo, phá rừng làm rẫy, làm ruộng, dựng nhà, v.v… Tất cả dân chúng đều tự nguyện, không ai bị bắt buộc cả.

Đến khi Thực Dân Pháp “xâm lăng ba tỉnh miền Tây” thì “Trại Ruộng” trở thành những “Làng Chiến Đấu chống Tây”. Vì vậy, Tây đốt phá tất cả những trại ruộng nầy, đuổi dân đi. Ngày nay chỉ còn lại một: Trại ruộng Láng Linh ở Long Xuyên.

Nhìn chung, người ta thấy cái gì qua Kholkoze, Kibbut, Ấp Chiến Lược và Trại Ruộng?

Lòng dân!

Người dân Liên Xô không ưa Kholkhoze, người dân Việt Nam không ưa Ấp Chiến Lược. Những thứ đó thất bại là dĩ nhiên. Ngược lại, người Do Thái ưa Kibbutz, người miền Nam ưa Trại Ruộng, thì những thứ đó thành công. Đơn giản chỉ vậy: “Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong”. Nguyên lý đó đã có từ hơn ngàn năm mà ít nhà lãnh đạo thấy được!

&

Hồi đang có cuộc tranh chấp được gọi là  “Trưng cầu dân ý”, một hôm, tình cờ tôi thấy một người có khuôn mặt giống ông Nhu – trong hình, tôi thấy ông chú tôi có giữ – ngồi xích lô đi trên đường Mai Thúc Loan – Tôi nói lại chuyên đó với ông chú tôi, xe cộ thiếu chi mà ông Nhu – hồi ấy chưa có danh xưng là “cố vấn” (tổng thống) đi xe xích-lô. – Ông chú tôi nói: “Ông đi coi dân cho biết đó”. Ấy là kiểu “thăm dân cho biết sự tình” như báo chí thường nói. So với tổng Thống Ngô Đình Diệm thì ông Diệm năng nổ hơn, “lặn lội” hơn, nhất là khoảng thời gian trước năm 1960, năm có cuộc đảo chánh của ông đại tá Nguyễn Chánh Thi.

“Thăm dân cho biết sự tình” như kiểu ông Nhu, như người ta thường gọi là “chính trị xa-lông”, ngồi trong phòng kín mà nói chuyện dân tình thì không thực tế đâu. Nói như kiểu nhà thơ Đỗ Tấn thì hay hơn:

            “Tôi đứng giữa đồng nâu,

            Giữ những người cuốc bẩm cày sâu

            Nghe vang vang từ mạch đất,

            Tư tưởng nào cũng từ đất mà ra.

Nước ta là nước nông nghiệp, sức sống của dân tộc là từ ruộng đồng. Ngồi xích lô chạy vòng quanh thành phố thì thấy được gì về mọi mặt của đời sống dân tộc. Ít ra cũng phải như Duy trong “Con Đường Sáng” của Hoàng Đạo chứ.

&

Cách đây khoảng hơn hai chục năm, vì tình cờ trong việc tham gia mấy cuộc họp mặt tìm cách giúp đỡ những người hỏng thanh lọc ở các trại tỵ nạn Đông Nam Á, tôi có gặp ông Nguyễn Đình Thắng và ông Phạm Thư Đăng, từ đó tôi có đến thăm cụ trung tá Phạm Thư Đường là thân sinh ông Phạm Thư Đăng mới từ Việt Nam sang. Gặp cụ vài lần, biết cụ là bí thư (hay chánh văn phòng, tôi không nhớ) của ông cố vấn Ngô Đình Nhu, tôi có gợi ý cụ nên viết hồi ký về thời gian cụ làm việc với ông Nhu. Cụ kể, tôi viết lại, cụ xem lại, sau đó cho in. Cũng có người sẵn sàng in giúp. Công việc chưa tiến hành, thì một hôm nói chuyện với cụ, cụ bảo: “Ông Nhu hồi đó dự tính cải cách chính trị, đặt thêm một thủ tướng dưới chức tổng thống.”

-“Nhưng có dân chủ hơn không? Thưa cụ.” Tôi hỏi.

-“Tổng thống chế mà, quyền hạn ở tổng thống.”

-“Vậy có chia bớt quyền hành cho đối lập không?” Tôi lại hỏi.

– “Nước ta chưa cần đối lâp!” Cụ Phạm Thư Đường trả lời.

-“Đây là ý của ông Nhu?” Tôi lại hỏi.

-“Tổng thống chỉ hành động. Ông Nhu “lý thuyết.” Cụ Phạm Thư Đường giải thích.

Nghe chuyện, tôi cũng hơi nản. Tôi nghĩ tới ông Nguyễn Bảo Toàn, Tạ Chí Diệp, bị chế độ thủ tiêu, tuy họ là những người ủng hộ ông Ngô Đình Diệm khi ông mới về nước, rồi nghĩ rằng nếu có “moi” được gì ở Cụ Phạm Thư Đường, chắc không có gì hay.

Thế rồi tôi “quên” mất chuyện ấy, phần thì lo đi làm, lo cho các con còn kẹt ở Việt Nam, lo đi học lại… Đến khi nghe tin Cụ Phạm Thư Đường qua đời, thì tôi lại tiếc đã bỏ mất một cơ hội.

Tuy nhiên, mặc dù ông Nhu tuổi đáng cha chú, sức học thì làm thầy tôi, nhưng tôi vẫn thấy ông Nhu không có gì hay. Tôi không hiểu tại sao có người ca ngợi ông Nhu như thần thánh. Những người có trình độ học vấn không cao lắm như cụ Phạm Thư Đường hay ông Cao Xuân Vỹ đã đành, người có bằng cao hơn như ông Lâm Lễ Trinh mà cũng vậy.

            “Đường mật, công danh không làm ngọt lưỡi tôi,

            Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã.”

Những người như Phùng Quán cũng hiếm có ở đời. Rất hiếm thì phải!!!

Bà Ngô Đình Nhu

Nhũ danh là Trần Thị Lệ Xuân

Bà Nhu rất hân hạnh về nhà chồng của bà. Ngay khi nhà Ngô chưa đắc thời, bà gọi ông Thục là “Anh Giám Mục”, bà gọi ông Diệm là “Anh Thượng Thư”. Đó là cách gọi khoe khoang về gia thế của mình hay của nhà chồng.

Không rõ bà có biết khi anh em nhà họ Ngô lên tàu lửa ra Hà Nội cưới bà cho ông Nhu, anh em nhà nầy chê rằng, gia đình bà không “môn đăng hộ đối” so với nhà họ Ngô.

Không biết do môi giới ở đâu mà ông Ngô Đình Nhu cưới bà Trần Thị Lệ Xuân, Ông Nhu sinh năm 1910, bà Xuân sinh năm 1924. Ông hơn bà những 14 tuổi, tính theo tuổi Tây. Thế là “kỵ” lắm. Ông quá già, bà quá trẻ, nhưng chuyện nhà quan, người dân chỉ “bàn tán sơ qua” vậy thôi.

Không đồng ý về việc chồng già vợ trẻ thì còn nghe được, còn nói về hai gia đình không cân xứng thì xem ra cũng hơi kỳ đấy.

Bà Trần Thị Lệ Xuân học trường đầm (trường Tây, dành cho con gái), “cua xơ-gồng” (cours second), coi như ngang lớp 10 bây giờ thì bỏ học. Mới đây, có mấy bài viết “phong” bà đậu bằng tú tài Tây. Thật buồn cười! Nhờ là con ông Trần Văn Chương, luật sư nổi tiếng ở Hà Nội và “đẹp” nữa – Xem hình bà Nhu, tôi chẳng thấy đẹp mà thấy dữ, không hiền, không phúc hậu chút nào -. Phúc hậu là tiêu chuẩn chọn vợ cho con của ông cha chúng ta ngày trước, – nên lấy ông Nhu làm chồng thì cũng xứng rồi, chung chung là vậy. Giới thượng lưu cả. Ông Nhu thì học bên Tây về. Thế nhưng anh em họ Ngô chê bên nội bà Nhu gốc “thông ngôn.” Nội tổ bà Trần Thị Lệ Xuân là ông Trần Văn Thông, gốc làm thông ngôn cho Tây. Để thưởng công đối với “nước mẹ Pháp”, Tây gắn cho ông “Bắc đẩu Bội tinh” là huy chương cao nhất của Tây. Hình như ông có một cái chức gì đó, trong cái gọi là “Hội Đồng Nam Kỳ Thuộc Địa” (conseiller colonial) do Tây đẻ ra làm “bình phong dân chủ” cho Tây. Đầu năm 1947, tôi có một người bà con xa, là anh Phan Văn Nghị, con trai trưởng cụ bác sĩ Phan Văn Hy, “du học” ở Hà Nội, bị Tây bắt. Vợ anh ấy là cháu ông Trần Văn Thông, nhờ ông Thông can thiệp, Tây tha ra khỏi tù ngay.

Vợ ông Trần Văn Thông là em gái ông Bùi Quang Chiêu. Ông Bùi Quang Chiêu là kỹ sư, là người, từ hồi đầu thế kỷ 20, từng đòi hỏi Pháp trả độc lập cho Việt Nam. Bạn cùng chí hướng với kỹ sư Bùi Quang Chiêu có luật sư Dương Văn Giáo, nhà báo Diệp Văn Kỳ (ngoại tổ bà Hoàng Dược Thảo), cựu thủ tướng Nguyễn Phan Long, bác sĩ Trần Như Lân, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh. Ông là lãnh tụ “đảng Lập Hiến”, là người nổi tiếng. Anh em nhà Ngô bì sao được?

Bên ngoại bà Nhu là ông Thân Trọng Huề. Ông Thân Trọng Huề là một nhà thơ đời Tự Đức. Ông từng làm Thượng Thư Bộ Binh sau ra làm Tổng Đốc Hải An.

Người Huế còn nhớ chuyện ông Thân Trọng Huề giao chức Thượng Thư Bộ Binh cho ông Tôn Thất Thuyết, vì ông Thuyết là người “Chủ chiến”, muốn trực tiếp chỉ huy binh lính để đánh Tây.

Một hôm kiệu ông Thân Trọng Huề từ trong Thành Nội Huế đi ra cửa Chánh Tây, gặp lúc kiệu ông Tôn Thất Thuyết đi Tân Sở về (Tân Sở ở Cùa, Quảng Trị, là căn cứ chuẩn bị để chống Tây). Kiệu ông Thuyết đi nhanh quá, ông Thân Trọng Huề chưa kịp xuống kiệu chào thì kiệu ông Thuyết đã đi mất. Thế là ông Huề sợ. Bấy giờ ông Thuyết làm nhiều việc ở trong triều ghê lắm, muốn giết ai thì giết mà ông Thuyết thì lại là người hiếu sát. Ông Trần Tiễn Thành, phụ chính đại thần bị giết, vua Dục Dức, Hiệp Hòa… cũng bị giết nên ông Huề sợ, xin ra Bắc làm Tổng Đốc Hải-An, xa triều đình, xa “mặt trời” cho đỡ nóng. Vì vậy, ông Huề có một dòng con nữa ở ngoài Bắc, mẹ bà Trần Thị Lệ Xuân là Thân Thị Nam Trân, con gái ông Thân Trọng Huề. Họ là quan quyền, “theo Tây” với nhau cả đấy.

Anh em nhà họ Ngô cho rằng bên gia đình bà Trần Thị Lệ Xuân không xứng là không xứng cái gì? Họ cũng làm quan to và cũng “dân khoa bảng” cả đấy, có thua gì nhà họ Ngô. Còn nói như chê nội tổ bà Trần Thị Lệ Xuân xuất thân là “thầy thông ngôn” thì ông Ngô Đình Khả xuất thân là cái gì, không phải là “thầy thông ngôn” hay sao? Hay họ chê dòng dõi bà Nhu không “yêu nước” như họ, nổi tiếng “đày vua không Khả”. Chắc gì anh em nhà họ Ngô hơn được ông Bùi Quang Chiêu, một người yêu nước lỗi lạc ở trong Nam hồi đầu thế kỷ 20? (1)

Có lẽ bà Nhu không biết chuyện đó hay biết mà giả bộ không biết để được làm dâu nhà quan to. Người ta còn kể, khi ông Nhu còn làm ở Viện Bảo Tàng Khải Định, buổi chiều, bà thường đi xe tay (xe kéo) tới đón ông Nhu để hai vợ chồng đi chơi, đi nhảy đầm. (2).

Sau đó, ông bà Nhu đi mất. Thỉnh thoảng hai ông bà về Huế, trong dịp lễ tết, nhưng không ở lại lâu. Câu chuyện bà Nhu “kỵ” “cậu Cẩn”, người ta cũng có nghe nói, nhưng không rõ như thế nào.

Khi ông Diệm cầm quyền, “đẩy” bà Nhu ra làm cái công việc “giải phóng phụ nữ”, “nam nữ bình quyền”, một số người cũng ưa, hoan hô bà. Việt Minh đã khởi xướng cái công việc “bình quyền” ấy, nhưng ở Huế, Việt Minh nắm chính quyền chưa bao lâu thì đã vội chui vô rừng nên ảnh hưởng ngay tại Huế không bao nhiêu. Cái tinh thần ấy, Việt Minh đã nhen nhúm rồi, nay bà Nhu làm cho nó bùng lên, nam nữ ngang nhau, người ta cũng thấy thích. Ngày lễ Hai Bà Trưng được tổ chức lớn hơn, phụ nữ được yêu cầu đi biểu tình đông hơn, có hát hỏng, – như bài “Cô Gái Việt” -, có văn nghệ ca hát vui lắm, nên người ta cũng ưa. Tuy nhiên, đến khi thành lập “Thanh Niên, Thanh Nữ Cộng Hòa” thì người ta thấy nó… kỳ cục.

Giả tỉ như đó là một phong trào xã hội thì cũng hay đấy, nhưng sau đó, nó lại nhuốm màu sắc chính trị, làm “bàn đạp” cho hai vợ chồng ông bà Nhu, pha tạp thêm màu sắc “độc tài gia đình trị” và “tôn giáo trị” thì người ta “dang ra”.

Những việc ấy cũng chưa có gì đáng nói lắm. Dù bà Nhu có làm gì đi nữa, bà cũng ở Saigon. Bà vào Quốc Hội nói gì, thì cũng là ở Saigon, hay ngay như “Luật Gia Đình” của bà, “một vợ một chồng”, người Huế cũng không quan tâm lắm, nhưng đến khi vụ Phật Giáo xảy ra, bà Nhu tuyên bố lung tung, xúc phạm đến Hòa Thượng Quảng Đức, đến nỗi “cha con ông Chương, bà Nhu” từ nhau thì người Huế ghét bà Nhu lắm. Huế là xứ vua quan, người Huế biết trọng lễ nghĩa, phần đông “đi chùa, lạy Phật” mà nghe những lời báng bổ Phật Giáo của bà Nhu thì họ bình tâm làm sao được. Tiếp sau những lời phản kháng là lời chê bai bà Nhu, về vai trò người dâu, người vợ, người mẹ… không có cái gì mà người ta không thấy “có vấn đề” để phê phán bà ta. Tuy nhiên, sau hai cái chết của anh em nhà họ Ngô, trong đó một người lại là ông Nhu, chồng bà, thì bà Nhu im tiếng. Người ta cũng im luôn, không còn ai nhắc nhở gì tới một người đàn bà mà đã có thời người ta gọi là “ác phụ”, “lăng loàn” nữa./

Thế cũng xong một đời. Để lại cái chi đời sau?

Bổ sung:

            Ở Huế có một số bà nổi tiếng, tốt cũng có, xấu cũng không thiếu chi. Đó là các bà Từ Dụ (Dũ), Bà Nam Phương, Bà Trần Lệ Xuân, Bà Tùng (Tuần) Chi, nhũ danh là Đào Thị Xuân Yến, Bà Cả Lễ (nhũ danh là Ngô Thị Hoàng), v.v…

            Bà Từ Dũ là bậc “mẫu nghi thiên hạ”, dạy con rất hay, rất nổi tiếng, người ta ca ngợi đã nhiều, xin khỏi nói thêm.

            Tôi cũng bị “lôi cuốn” vào dư luận phê phán bà Nam Phương, không thấy chi hay ở bà. Bây giờ, cũng qua dư luận, thấy bà Nam Phương có nhiều cái hay lắm đấy.

            Năm Việt Minh tổ chức “Tuần Lễ Vàng”, vài người bạn (?) đến Cung An Định cùng tham gia với bà Nam Phương. Rước khi ra khỏi cung, bà Nam Phương lấy nữ trang đeo hết vào người. Những người kia không hiểu bà Nam Phương làm cái gì.

            Tới địa điểm quyên góp, do ông Dược Sĩ Phạm Doãn Đề làm chủ tọa, trước mặt mọi người, bà Nam Phương gở hết nữ trang ra, bỏ vào thùng quyên góp, cúng hết cho Việt Minh, để mua khí giới chống Tây xâm lăng như Việt Minh tuyên truyền. Bà làm gương cho các bà khác đấy!

            Tiếc rằng, sau đó, Hồ Chí Minh gom hết vàng, đúc thành khối, “dâng” cho hai tên tướng Tầu Tưởng là Tiêu Văn, Lư Hán, để hai tên nầy bao che cho đám ông Hồ.

            Bà Nam Phương là “dân Nam kỳ thuộc địa”, tức là dân của Tây, quốc tịch không phải là Việt Nam. Vậy mà bà “không theo Tây”, lại ủng hộ Việt Nam chống Tây. Về sau, khi ông Bảo Đại ra Hà Nội rồi qua Tầu, Việt Minh giết, thủ tiêu những người mà chúng nghi ngờ chống lại chúng, khiến bà Nam Phương phải đem con vô trốn trong nhà thờ khi chiến tranh bùng nổ. Sau đó, Ba đem con qua Pháp. Cái ý đồ con trai của bà, thái tử Bảo Long, làm vua nước Việt Nam, một ông vua có đạo Thiên Chúa, không ai nghe bà tuyên bố chi về cái âm mưu của La Mã bị thất bại, mà trong đó, dù có muốn hay không, bà cũng đã đóng một vai trò.

1)-Hoàn cảnh làm thông ngôn cho Tây ở trong Nam và ở Huế có khác nhau. Tây chiếm Nam Phần từ 1862, lấy đất Nam Kỳ làm thuộc địa, sử thường gọi là “Nam Kỳ Thuộc Địa”. Tây mở trường chọn người học Trường Thông Ngôn, ai giỏi thi đậu vô học, không có tiêu chuẩn “tôn giáo” như ở Huế, không có đạo Thiên Chúa La Mã cũng không sao, như ông Diệp Văn Cương, Trần Văn Thông. Huế thì khác, lúc ban đầu, các “thầy Thông Ngôn” là từ nhà Dòng của các ông cha cố mà ra như ông Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài… Trần Thị Lệ Xuân khi lấy chồng bỏ đạo Phật, “rửa tội” mà theo đạo Thiên Chúa La Mã.

(2)-Cụ Mỹ Tín, giáo sư trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Saigon trước 1975, hồi còn trẻ là một nhạc sĩ vĩ cầm nổi tiếng, từng tham gia vào các ban nhạc ở Huế, Saigon. Cụ kể khi còn ở Huế, cụ có “chơi đàn” cho ban nhạc nhà hàng Morin, có Tây, “đầm” và giới thượng lưu Việt Nam, “ông hoàng bà chúa” đến nhảy đầm chung với nhau. Cụ bảo có nhiều “thằng Tây mất dậy”, vừa ôm mấy bà Việt Nam nhảy đầm, vừa mở “ba-ghệt” lôi của quí ra cọ vào tay mấy bà, coi người Việt Nam chẳng ra cái gì cả. 

Tuy nhiên, cũng xin nói thêm, nhờ cái tài đàn ấy mà cụ có được “một bà vợ Huế nổi tiếng đảm đang”. 

Phụ lục

(Trích): “Nhưng những người tranh đấu, đảng phái trong Nam, đã nhiệt tình đón tiếp ông Diệm và hợp tác với ông tổ chức Chánh quyền mới. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, những người từng hợp tác, giúp đỡ ông đều lần lượt bị biến mất, đi ra nước ngoài, vào tù hoặc bị ám sát, … như các ông Nguyễn Bảo Toàn, Nhị Lang, Hồ Hán Sơn, Trần Văn Ân, Nguyễn Long, Nguyễn Phan Châu, Vũ Tam Anh… và 18 vị của “Nhóm Caravelle” … chỉ vì phê phán hoặc đề nghị cải thiện đường lối cai trị một cách hoàn toàn ôn hòa.

Đặc biệt ông Nguyễn Bảo Toàn là một nhà ái quốc đã từng bôn ba tranh đấu thời Thực Dân Pháp, tuy ông không phải là người địa phương (ông là người Bắc), cũng không phải tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo nhưng đã được Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ tín nhiệm làm Tổng Bí Thơ đầu tiên của Dân Xã Đảng.

Khi Bảo Đại từ Cannes gởi liên tiếp hai công điện ngày 28-4 và 30-4-1955 để “triệu hồi Ngô Đình Diệm”, ông Diệm không tuân hành nhờ sự ủng hộ của Hội nghị các Chánh đảng và  Nhân sĩ miền Nam ngày 30-4-1955 do Nguyễn Bảo Toàn chủ tọa, đưa đến Quyết định truất phế Cựu Hoàng Bảo Đại, giải tán Chánh phủ do Cựu Hoàng bổ nhiệm, ủy nhiệm ông Ngô Đình Diệm thành lập Chánh phủ Cách mạng, tổ chức bầu cử Quốc Hội, …Chế độ Cộng Hòa ra đời, ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống, phần lớn là do Hội nghị này ủng hộ ông Diệm và do Nguyễn Bảo Toàn chủ tọa. Nhưng sau đó chẳng bao lâu, Mật vụ của ông Ngô Đình Nhu bắt cóc ông Nguyễn Bảo Toàn, bỏ vào bao bố cột với trụ xi-măng, liệng xuống sông Nhà Bè thủ tiêu.

Cùng bị thủ tiêu bằng cách này, có ông Nguyễn Phan Châu, tức Tạ Chí Diệp, người từng ủng hộ ông Diệm trong những ngày đầu tiên về nước lập Chánh phủ. Còn ông Vũ Tam Anh, người lúc bấy giờ chỉ có những hoạt động với một nhóm bạn tại tư gia ở đường Cao Thắng, gần Chùa Tam Tông Miếu, trao đổi quan điểm, phê phán đường lối Chánh phủ, hoàn toàn không có hành động bạo động, cũng bị Mật vụ bắt cóc và thủ tiêu mất tích.

Cũng tại khúc sông Nhà Bè này, vào khoảng tháng 10 năm 1962, các thủ hạ thân tín của ông Ngô Đình Nhu như Đại tá Đào Quang Hiển (bị mù, còn sống tại vùng Hoa-thạnh-đốn?), cũng đã lập lại việc thủ tiêu tàn ác tương tự. Bốn tín đồ chức sắc cao cấp Phật Giáo Hòa Hảo được phái lên Sài Gòn để tham dự một phiên họp. Phái đoàn cùng đi chung trong một xe Ford Vedette số NBI-010 của Đức Ông Huỳnh Công Bộ và đã bị mất tích. Bà dân biểu Hòa Hảo Long Xuyên lúc bấy giờ là Nguyễn Kim Anh đến gặp Ngô Đình Nhu để nhờ điều tra tông tích các cán bộ Hòa Hảo mất tích, không đến Sài Gòn họp. Ông Ngô Đình Nhu đã ỡm ờ hứa sẽ chỉ thị cho điều tra sự việc. Bà Kim Anh sau đó đã đến gặp cấp Chỉ huy Tổng Nha Cảnh Sát ở đường Nguyễn Trãi. Nơi đây cũng cho biết là việc điều tra chưa đưa đến kết quả nào. Khi ra về, đứng chờ xe trước cửa Tổng Nha, tình cờ bà chợt nhận dạng ra chiếc xe Vedette của phái đoàn Hòa Hảo đã dùng, đang chở nhân viên cảnh sát ra cổng, có lẽ là để đi ăn trưa! Việc phát giác này về sau đưa đến phiên xử trước tòa án Đại hình Sài Gòn các tay sát nhân, sau khi chế độ Đệ I Cộng Hòa sụp đổ. Các thủ phạm này thú nhận đã thi hành chỉ thị của ông Ngô Đình Nhu. Khưu Văn Hai và các bị can khai là Đào Quang Hiển ra lịnh cho họ thủ tiêu các cán bộ Hòa Hảo. Họ đã siết cổ, cột xác vào trụ xi măng và quăng giữa sông Nhà Bè. Đại tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Nguyễn Văn Y đã vào tù trong vụ án này (Bs Trần Ngươn Phiêu thuật theo nhơn chứng, Bà Nguyễn Kim Anh trong Lê QuangVinh, loạn Tướng hay Anh hùng, trên Net).

Mục tiêu kế tiếp là Tướng Lê QuangVinh, tự Ba Cụt của Lực Lượng Võ Trang Phật Giáo Hòa Hảo. Ông Diệm phải triệu hồi ông

Nguyễn Ngọc Thơ đang làm Đại Sứ ở Nhựt về, nhờ ông Huỳnh Kim Hoành là cậu của Tướng Ba Cụt chiêu dụ Tướng Ba Cụt ra về với Chánh Phủ Quốc Gia. Nhưng khi về, Tướng Ba Cụt bị bắt và đưa ra Tòa Đại Hình Cần Thơ xét xử về tội tống tiền và giết người mà chính ông không hề nhúng tay vào. Thủ phạm không có, nhưng Tướng Ba Cụt vẫn bị kết án tối đa ở phiên tòa ngày 11-06-1956 tại Cần Thơ. (Ông Lâm Lễ Trinh làm chánh án phiên tòa nầy – tg)

Tướng Ba Cụt chống án. Ngày 16-06-1956, Chánh phủ cho triệu tập phiên Tòa Đại Hình để xử Tướng Ba Cụt. Tổng thống Ngô Đình Diệm ký Dụ số 33 ngày 14-06-1956 để tòa được tổ chức ngoài Sài Gòn. Bản văn chưa kịp đăng lên Công Báo, ông Tổng Trưởng Tư Pháp đã sửa đổi thành phần tòa án nên bị Luật Sư Vương Quang Nhường tuyên bố phiên tòa bất hợp pháp. Nhưng tòa vẫn tiến hành và xử y án tử hình Tướng Ba Cụt.

Bảy ngày sau, ngày 03-07-1956, Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt họp xử tiếp Ba Cụt với tư cách Trung Tá trừ bị. Bản án tử hình của Tòa Án Quân Sự sẽ được thi hành ngay.

Ba phiên Tòa liên tiếp nhóm trong vòng chỉ có 23 ngày, dồn dập, gấp rút tuyên hai án tử hình cho một tội nhân, bất chấp những lời phản kháng của các luật sư, đã nói lên chủ tâm của chánh quyền Ngô Đình Diệm muốn giết Ba Cụt càng nhanh càng tốt. Giết thiếu lương thiện.

Tổng Thống là người sau cùng có thẩm quyền khoan hồng tha chết cho người bị kết án tử hình.

Nhưng đơn xin của Tướng Ba Cụt bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm bác bằng sắc lịnh số 98 –Tp ngày 08-07-1956.

Tướng Ba Cụt là Trung Tá trừ bị nên xin được xử bắn nhưng cũng bị ông Tổng Thống Diệm từ chối.

Sau khi bị chặt đầu, thi thể của Tướng Ba Cụt không được trao trả cho thân nhơn chôn cất, mà hình như còn bị chặt ra làm nhiều khúc và đem vứt đi ở nhiều nơi để “triệt tiêu” cả phần xác lẫn phần hồn, không “tái sinh” để trả thù nhà họ Ngô được và cũng để dân Miền Tây gốc Phật Giáo Hòa Hảo không thể làm lễ tưởng niệm Tướng Ba Cụt. Một việc làm trái với Đạo Lý Việt Nam.

hoànglonghải - Nhà Họ NGÔ