Điểu Du Nguyệt – Dân Tộc S’Tiêng

Nằm hướng Tây – Bắc Sài gòn, đi theo Quốc Lộ 13, khoảng 110 Km là đến Thị Trấn An Lộc thuộc Tỉnh Bình Long. Trước 30/04/1975, 2 Tỉnh Bình Long và Phước Long là 2 tỉnh riêng biệt, sau này  sát nhập làm 1 là Tỉnh Bình Phước.

Dân tộc S’Tiêng là 1 trong số 54 sắc dân thiểu số tại Việt Nam, đứng hạng thứ 5 về dân số trong cộng đồng sắc dân thiểu số, do đó cộng đồng người S’tiêng đã đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt của đất nước trước và sau 30/04/1975.

1

A/     Về Nhân Chủng học, được chia thành 2 nhóm:

  • Malayopolyne’sien. (Cham, Rhade’, D’Jarai, Reglai, Churu…)
  • Indone’sien.

                 Về Ngôn ngữ, thuộc nhóm Mon-kh’mer, gồm S’tiêng, M’nong, Koho, Cil, Lat, Mạa…

 B/ Lịch Sử :

Người S’Tiêng đã có từ lâu đời, trước khi có có người Kinh tại đây. Vào thế kỷ thứ 19 sau khi chiếm Saigon và Cambodia, người Pháp đã cho nhiều toán thám hiểm đi vào vùng có người S’Tiêng để nghiên cứu.

Năm 1906, đặt 1 đại lý hành chánh tại Hớn Quản và một đồn tại Bù-Đốp.

Năm 1920, một toán hành chánh được cử lên thám sát vùng Bà Rá, qua ngả Phú Riềng và lập đại lý hành chánh lấy tên là Sông Bé.

Năm 1933, người S’Tiêng không chịu nổi sự cai trị hà khắc, tàn ác của người Pháp phải phá rừng, làm phu đường… đã nổi lên giết viên đại lý hành chánh là ông Murère, và cũng mở đầu cho cuộc chiến chống Pháp tại  cao nguyên, dưới sự lãnh đạo của Pou Trang Lung với sự hợp tác đắc lực của các sắc dân như: S’Tiêng, Mạa, Chru, Koho… dưới hình thức du kích, tiêu thổ kháng chiến… phá các trục lộ giao thông, đường sắt… khiến người Pháp phải chùn bước. Cuộc kháng chiến chống Pháp ngày càng mãnh liệt. Đến năm 1935, thiếu tá Pháp trong lực lượng viễn chinh đã bắt được Pou Trang Lung cùng 10 cấp chỉ huy của lực lượng nổi dậy chống Pháp,  Pou Trang Lung bị giết và từ đó các phong trào chống thực dân Pháp không còn nữa và đời sống người dân S’Tiêng trở lại kiếp nô lệ ngay trên mảnh đất của mình!

HOÀNG TRIỀU CƯƠNG THỔ

Năm 1949, với sự chiến đấu quyết liệt của nhân dân VN, người Pháp phải nhượng bộ và trao trả những vùng đất mà họ đã chiếm đóng cho VN sau thỏa hiệp ngày 08/03/1949. Tuy nhiên, người Pháp muốn bảo vệ quyền lợi của họ tại cao nguyên, tạo sự khác biệt giữa người Thượng và người Kinh và yêu cầu chính phủ VN phải ban hành những quy chế đặc biệt cho người Thượng theo yêu cầu của chính phủ Pháp, nhằm thực hiện chính sách chia để trị của người Pháp, đó là  Hoàng Triều Cương Thổ .

Vừa lên cầm quyền, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại hủy bỏ Hoàng Triều Cương Thổ và được chấp thuận ngày 11/03/1955. Thông qua Dụ số 21, chính thức sát nhập Hoàng Triều Cương thổ vào Trung phần và thuộc quyền quản trị của chánh phủ quốc gia, chính phủ Ngô Đình Diệm đã áp dụng những biện pháp như :

  • Phủ nhận quyền đất đai của đồng bào Thượng.
  • Không yểm trợ các toà án phong tục.
  • Hạn chế việc dạy thổ ngữ.
  • Không nâng đỡ các trí thức Thượng giữ các chức vụ quan trọng hưởng quyền lợi tương xứng…

Chính những điều đó, Bắc Việt đã lợi dụng và gây chia rẽ! Từ đó, phong trào BaJaRaKa (Banar, Jarai, Radhé, Kaho) ra đời năm 1957 và bộc phát mãnh liệt vào tháng 8/1958. Chính Phủ đã bắt giữ 1 số lãnh đạo phong trào, sau đó chính phủ đã phải xét lại chính sách đối với người Thượng, do đó Nha Công Tác Xã Hội Miền Thượng thành hình. Như vậy, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã ban hành đối với người Thượng và chính sách này đã đi trước miền Bắc 8 năm  (khu vực tự trị).

( Ghi chú : Phần viết thêm theo những tài liệu lịch sử tham khảo trên internet. BBT):

    Theo ông Cao Xuân Vỹ, TT Ngô Đình Diệm  thường nói: “giữ được cao nguyên thì giữ được miền Nam”. Và ông tìm cách đưa nhiều cán bộ và những người dân có kinh nghiệm với Cộng Sản lên đó lập nghiệp. Đây là điều sai lầm lớn nhất của thời ĐIVNCH đối với người sắc tộc bản địa:

       Theo chính quyền Ngô Ðình Diệm, đất đai của dân tộc Thượng nằm trên lãnh thổ của Viêt Nam. Chính vì thế, chủ quyền lãnh thổ và chủ nhân đất đai của Tây Nguyên phải thuộc về nhà nước Việt Nam. Dân tộc Tây Nguyên thì có quan điểm ngược lại. Họ là tập thể dân bản địa sinh ra trên đất đai mà tổ tiên của họ đã để lại, nhưng nằm trên lãnh thổ Việt Nam. Chính vì thế, họ công nhận rằng chủ quyền lãnh thổ Tây Nguyên phải thuộc về nhà nước Việt Nam, nhưng chủ nhân đất đai của Tây Nguyên này phải thuộc về dân bản địa .

    -*Vì trong thời gian nền Đệ I VNCH còn phôi thai ,thực dân Pháp hay xúi giục tổ chức Mặt trận Giải Phóng Fulro (Front Unifié pour la Libération des Races Opprimées) nổi lên chống phá .

    -* Những lực lượng Fulro này còn được Cambodge (Cao Miên) yểm trợ để thành lập các Mặt Trận:

    -Mặt trận Giải phóng Cao nguyên (Front de Libération des Hauts Plateaux, FLHP) tức FULRO Thượng – do Y Bham Ênuôl chỉ huy, hoạt động chủ yếu tại Mondulkiri.

    -Mặt trận Giải phóng Champa (Front de Libération du Champa, FLC) tức FULRO Chăm – do Lès Kosem (một tướng nhảy dù người Khmer gốc Chăm) lãnh đạo, hoạt động chủ yếu tại Ninh Thuận.

    -Mặt trận Giải phóng Campuchia Krom (Front de Libération du Kampuchea Krom, FLKK) tức FULRO Khmer Hạ – do Chau Dera làm đại diện, hoạt động chủ yếu tại đồng bằng sông Cửu Long.

    -Mặt trận Giải phóng Campuchia Bắc (Front de Libération du Kampuchea Nord, FLKN) tức FULRO Khmer Thượng, hoạt động chủ yếu tại Hạ Lào.

     -*Với ngưòi Mỹ:Quan hệ giữa FULRO với quân đội Mỹ và CIA thường biểu lộ qua nhiều hiện tượng rất là bí ẩn. Theo quân đội Mỹ và CIA, FULRO không phải là tổ chức thân cộng mà là tổ chức chống Cộng, đóng một vai trò vô cùng quan trọng để bảo vệ địa bàn quân sự trên dãy hoành sơn. Chính vì thế, quân đội Mỹ và CIA không do dự nhượng bộ để làm thỏa mãn những yêu sách của tổ chức FULRO ở Tây Nguyên, nhưng cũng không muốn làm phật lòng chính phủ Việt Nam Cộng hòa mà các lực lượng Mỹ có nghĩa vụ phải bảo vệ.

     -*Chính quyền Sài Gòn dưới thời Đệ nhị Cộng hòa lại có quan điểm về FULRO hoàn toàn trái ngược, cho rằng FULRO không phải là nhóm phiến loạn li khai mà là một phong trào đấu tranh đòi quyền lợi của họ. Mọi giải pháp dùng sức mạnh để trấn áp phong trào này chỉ thúc đẩy đồng bào sắc tộc ngả về phía cộng sản. Chính vì thế, chính quyền Sài Gòn thường chọn lựa con đường thương thuyết với tổ chức FULRO. tìm cách thỏa mãn những quyện vọng của họ, ngoại trừ yêu sách đòi hình thành khu tự trị trên Tây Nguyên .

Sau ngày 30-4-75, Hà nội cho di dân miền Bắc  ồ ạt (có khi nguyên cả một làng) vào khai khẩn đất trên cao nguyên, mà đồng bào dân tộc thiểu số sống theo thói quen du cư du canh, đã khai phá rừng núi trước đó .

Dân bản địa bị lấn chiếm đất đai, cũng không quen sống với không khí đô thị nên lùi dần vào vùng sâu vùng xa . Những tranh chấp đất đai vẫn tiếp diễn gây ra thêm, nhiều cuộc va chạm sắc tộc: bộ đội khai thác rừng gổ quí làm kinh tế, di dân mới đến trồng cao su, cà phê; người sắc tộc nổi lên đòi lại đất của họ .

Người dân sắc tộc ở những vùng cao không còn sống yên ổn theo thiên nhiên núi rừng như trước kia, bị bạc đải, bị đồng hóa hay dị biệt tư tưởng dù cùng một thôn, một sóc (thân Mỹ, thân Miên, thân Cộng). môi trường sinh sống: thiên nhiên, sinh thái bị thay đổi tận gốc khi nhà nước XHCNVN cho phép người TQ khai thác các quặng mỏ bâu xít trong vùng.

Đồng bào vùng cao mất đất sống, bất an; địa bàn chiến lược cao nguyên bị kiểm soát nếu có chiến tranh xăm lược xãy ra ?)

Sau khi phong trào tự trị (BaJaRaKa) tan rã, Bắc Việt tiếp tục lợi dụng sự bất mãn của đồng bào Thượng, đã đưa 1 số CB/CS vào Nam phối hợp với cán bộ nằm vùng vận động cho phong trào Tây Nguyên tự trị nổi loạn chống chính phủ miền Nam thời bấy giờ.

Một số cán bộ người Thượng được tập kết ra Bắc huấn luyện, học tập. Sau đó được đưa trở lại vào Tây nguyên và giữ những chức vụ quan trọng như:

– Y Bih Aléo, Phó Chủ Tịch Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam kiêm chủ tịch phong trào Tây Nguyên tự trị.

– Y Jonh Nié K’Dam, Thiếu Tướng với nhiệm vụ tổ chức chiến tranh du kích.

Một số cũng có tên trong truyền đơn kêu gọi nổi loạn như : Y- Bih, Y Thang Nie K’Dam, Nay Der, Y Klam…. Nhưng sau đó đã thất bại!

FULRO (Front Unifié pour la Libération des Races Opprimée)

Là phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức, phong trào này có 3 thành phần :

  • Mặt trận giải phóng cao nguyên Miền Nam (Front de la Libération des Hauts Plateaux du Sud VietNam)
  • Mặt trận giải phóng cao nguyên Xứ Chàm (Front de la Libération Chama)
  • Mặt trận giải phóng xứ cao nguyên Hạ (Front de la Libération du Kampuchéa–Krom)

Ngày 20/09/1964, do sự xúi dục của Fulro, lực lượng đã đánh chiếm đồn trú tại Sapa, Bu Prang, Đức Lập (tỉnh Quảng Đức), buôn Hô, Cầu 14, đài phát thanh Ban Mê Thuộc và bắt giữ Y Bham Enuôl. Sau đó bị dẹp tan vào 18/09/1964 và qua Campuchia mang theo Y Bham Enuôl, sau làm lãnh tụ Fulro.

Sau đó, hiểu rõ sự quan tâm của chính phủ, lực lượng Fulro đã trở về với dân tộc ngày 01/02/1969, trong đó có 2.257 cán bộ võ trang, 3.254 thân nhân cùng gia đình, 895 súng cộng đồng cùng súng cá nhân.

1

Cách mạng 1/11/1963, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Các chính phủ kế tiếp từ thủ tướng Nguyển Ngọc Thơ đến chính phủ Phan Huy Quát đã bắt đầu quan tâm đến vấn đề người Thượng. Vì tầm quan trọng của cao nguyên, mất cao nguyên là  MẤT MIỀN NAM, trước hiểm họa của Bắc Việt.

Sắc Luật số 033/67 ngày 29/08/1967 ra đời, ban hành những quy chế đặc biệt nhằm nâng đỡ các dân tộc thiểu số theo kịp đà tiến hóa chung của dân tộc: Kinh Tế, Văn Hóa, Quân Sự, Chính Trị..

Các lãnh tụ người Thượng được thả ra và được giữ các chức vụ quan trọng. Các cơ quan được nâng cấp từ Nha Công tác Xã hội miền Thượng đổi thành Nha Ðặc trách Thượng Vụ trực thuộc Bộ Quốc phòng và sau đó được nâng cấp lên thành Phủ Ðặc ủy Thượng vụ (do Đại Tá Ya Ba hay Trương Sơn Ba làm Đặc Ủy Trưởng). Năm 1969, Bộ Sắc Tộc (Bộ Phát triển Sắc Tộc) được thành lập, tổng trưởng Bộ Sắc Tộc lần lượt là các ông Paul Nưr (chết ở Trại Z-30D, 1984 tôi ở Trại này), Ya Ba, cuối cùng là ông Nay Luett (Nay Louette), một lãnh tụ Gia Rai (sau 30/04/1975 trên đường áp tải về Phú Bổn bị bắn chết).

Đó là những sự kiện và chính sách liên quan đến đồng bào Thượng .

VỀ ĐỒNG BÀO S’TIÊNG :

–    Dân Số : Khoảng 85.436 người, phần lớn tập trung tại 2 tỉnh Bình Long và Phước Long (81.708)  phần còn lại rải rác ở các tỉnh như Bình Dương, Long Khánh, Biên Hòa, Quảng Đức..

–    Diện Tích:  6.855,99 Km2.

–    Ngôn Ngữ: thuộc nhóm Mon- Khmer, như: S’Tiêng, Mạa, Chru, Koho..

–    Nhà: người S’ Tiêng ở  nhà sàn, là loại nhà làm cao hơn mặt đất 1.8m và bằng tre, lồ ô và mái bằng tranh, phía dưới nuôi súc vật…

–    Phong Tục, Tập quán: người S’Tiêng theo chế độ mẫu hệ (Matriaca), người đàn ông vẫn giữ vai trò chính trong gia đình, mê tin dị đoan, thờ cúng ông bà và trời đất… Sau này người Mỹ đến truyền giáo thì những mê tín đã giảm rất nhiều, đa số người S’Tiêng theo đạo Tin Lành. Hiện nay, tại Bình Phước có hơn 17.000 tín đồ Tin Lành dưới sự quản nhiệm của mục sư Điểu Huynh.

Canh Tác: ngườ S’Tiêng trước kia theo lối du canh, du cư. Trước 1975, chính Phủ VNCH có những chánh sách định cư nên vấn đề du canh, du cư giảm rất nhiều… Sau 30/04/1975 với chủ trương di dân hằng triệu người từ Bắc vào Nam, rừng bị phá vô tội vạ! Họ đã khóc ngay chính vùng đất của tổ tiên họ.

–    Trang phục, trang sức: Đàn bà mặc xà rông (xà rông là mảnh vải quấn từ hông tới cổ chân), ngực để trần; đàn ông mặc khố (là miếng vải nhỏ quấn che bộ phận sinh dục), thích trang sức bằng bạc. Đàn bà  đeo còng bằng bạc ở cổ và tay, càng nhiều càng giàu.

Ở Bù Đốp và Bù Đăng có tục cà răng căng tai, đó là những người giàu xưa kia và nuôi voi… Vải được dệt từ bông vải, họ thích mầu đen, đỏ..

Đa số người S’Tiêng thích uống rượu cần. Rượu được bỏ trong ché có ủ men, men được làm tùy theo vùng: Ngô, nếp, vỏ cây… mỗi loại có hương vị khác nhau, người S’Tiêng rất hiếu khách.

  • Nhạc Cụ: gồm còng, chiêng, trống, kèn M’buốt, sáo T’let, sáo Ukoocle… phần lớn được dùng trong hội lễ cúng tế, ngày mùa…..
  • Văn Hóa: với chính sách nâng đỡ của chính phủ, 1 số người S’Tiêng  đã học những trường đào tạo cán bộ cao cấp như: Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (National Institute Administration) kể cả Quân Sự…

Khi nói đến Bình Long, những người dân kỳ cựu nào mà không biết đến trường Tiểu Học Thượng, trường này được Pháp xây từ năm 1937 (có ghi trên nóc Trường). Ông Điểu Du là hiệu trưởng đầu tiên và giám thị là ông Điểu Dun.

Cuộc chiến Mùa Hè Đỏ Lửa  04/1972, trường này bị pháo kích và đã xóa sổ! Dân Bình Long phải mang đời du mục! Đến 30/04/1975, chiến cuộc lại xảy ra, các đồng bào định cư tại Lâm Đồng di tản về ở Long Thành, được đưa đi  Danmark. Người đưa đồng bào đi di tản đã ở lại phải cay đắng đời tù! Sau khi có chương trình H.O, họ được định cư tại Hoa Kỳ.

Sau cơn mưa trời lại sáng, hầu hết đã thành công nơi đất khách quê người, vui đời lưu vong!

1

California, Sept 02.2015 by Điểu Du Nguyệt.

(Trích Biên Khảo Tỉnh Bình Long)

Đã xem 7511 lần

Nhiều Tác giả - Biên Khảo Tỉnh Bình Long

Chân thành cảm ơn tác giả hoặc quý vị nào đó đã đăng bài viết này lên Quán Văn.

[ Thành viên mới xin ĐĂNG KÝ ]
[ Thành viên ĐĂNG NHẬP ] để đăng bài
(Quý vị sẽ nhìn thấy cách chỉ dẫn đăng bài.)

Máy chiếu VPL-DX240 XGA

Chuyên phân phối MÁY CHỦ DELL POWEREDGE T30 E3-1225 V5

Phân phối thiết bị mạng Cisco FULL mã

Máy in hóa đơn, máy in bill PRP-085 Giá hot

NỆM CAO SU KIM CƯƠNG TỔNG HỢP KHUYẾN MÃI TẶNG GỐI

Thuốc diệt GIÁN thần kỳ

Nhà Hàng SÀI GÒN PHỞ TOMBALL, TX CẦN NGƯỜI

Cần Sang Nhà Hàng Phở Vùng TOMBALL, TX

Bán xe Toyota Camry 2004. 2.4 mới cứng. Hệ thống máy móc tân tiến cùng dàn video từ nước ngoài

Cần bán 4 lô đất khu du lịch Cam Ranh và Diên An – Khánh Hoà

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách