Cái chết bất thần của em như lôi hết tình thương của mẹ vứt ra ngoài.  Sáu tháng liền mẹ chỉ ghim trong đầu em bị chết oan.  Mẹ luôn rắp tâm truy hỏi cho ra để lòng mẹ được giảm bớt sự ân hận.

Dạo ấy, chả hiểu sao, tôi đâm ngoan ra. Suốt ngày chỉ quanh quẩn bên mẹ.  Tôi học nấu ăn, đi chợ, làm các món ăn cho gia đình.  Mẹ chẳng thiết ăn, nên chẳng hề chê bai, hay có ý kiến về các việc tôi làm.

Đêm đêm mẹ thức rất khuya , có khi chị em tôi ngủ đã lâu, chợt thức giấc thì nhìn ra mẹ đang khóc.  Tôi rón rén lại gần mẹ, lẳng lặng cầm bàn tay khô đét của mẹ ấp lên má.

Mẹ thở dài nhìn tôi, tôi tròn mắt nhìn mẹ, rồi cả hai cùng òa lên khóc.  Nước mắt, nước mũi đầm đìa, mẹ cố nén lòng, xoa lên tóc tôi an ủi : nín đi con. Tháng 7 âm lịch năm ấy, gia đình lên chùa nhân lễ Vu Lan.

Mẹ sắp xếp để sau lễ trai đàn cắt kết thì xin phép thầy cho mẹ trục hồn em giữa khuya. Thấy nể nỗi lòng đau lòng của mẹ, nên tuy không đồng ý, nhưng vẫn ngơ để mẹ nhờ vả người làm theo ý định.

Chị tôi ngồi đồng mong em về nhập xác, nhưng ngồi mãi chẳng thấy đồng lên.  Mẹ ngao ngán và vô cùng thất vọng.  Chợt đâu có một cô nhanh nhẩu nhận ngồi thay chị.

Mẹ ngồi cạnh xác đồng, trong khi chị em tôi khép nép trốn phía sau. Chưa mấy giây đã thấy tấm khăn đỏ trên đầu xác đồng cựa quậy, rồi quay tít. Mẹ sì sụp khấn và nói trệch đi là người quen lối xóm để xin cô giúp đỡ.

Chả biết thực hư thế nào, nhưng cô đồng một hai xác định mẹ là mẹ của em.  Cô còn chỉ vanh vách chị em chũng tôi để mẹ thêm lòng tin. Có một điều tôi phải nhận là lạ khi thấy cô đồng nói với mẹ : về đốt cái cặp da lúc còn đi học em vẫn dùng hiện mẹ dấu trên nóc kệ để mẹ đừng nhớ mà khóc nữa.

Vậy là mẹ tin tuyệt đối vì cô này trước giờ mẹ không quen và sao lại biết được cái nơi mẹ dấu cặp.  Vậy là mẹ tin lại càng tin thêm, tuy rất thương mà không dám ôm chầm lấy em, chỉ sụt sịt khóc.

Đêm ấy mẹ có vẻ nhẹ hẳn người. Lần đầu tiên tôi thấy mẹ hớn hở và mẹ ôm từng chị em tôi chia sẻ sự hài lòng. Ngay hôm sau về nhà, mẹ bảo tôi đem đốt cái cặp của em, nhưng nó bằng da bò dày và cứng thì sao đốt cháy. Tôi đành âm thầm đem ra xa vứt đi cho xong việc.

Tưởng là mẹ nguôi ngoai, nhưng không mẹ vẫn âm thầm nhớ đến em. Những ngày tháng thiếu thốn, buồn phiền, bỏ ăn, thiếu tẩm bổ, thức khuya, mất ngủ khiến mẹ ngày một thêm mất sức.

Mẹ khúng khắng ho, trước còn thưa, sau dồn dập lần.  Thuốc men qua loa vì cứ tin mẹ bị cảm hay trở trời ngứa cổ.  Chỉ đến khi thấy mẹ khạc ra máu, chị em tôi rụng rời vì đoán mẹ bị nhiễm lao.

Vậy rồi bệnh càng ngày càng nặng, dù em gái tôi lúc ấy đã được gửi đi làm con nuôi cho gia đình bác sĩ, mỗi lần mẹ đi khám hay nhận thuốc đều không phải trả tiền, nhưng bệnh xác thì còn mong chữa được, chứ bệnh tâm thì khó vô vàn.

Như một người dồn hết vốn cho một chuyến đi buôn cuối, mẹ gọi cho thửa nửa căn nhà, dồn tiền cho tôi đi một chuyến về Hà Nội, tìm cách kiếm gặp bố.  Lúc ấy, mẹ như người ngộp nước, nên ai nói gì cũng tin.

Một cô nào đó khoe đã từng đi buôn chung với bố miết Chợ Đại, Cống Thần, vậy là một hai mẹ bắt buộc tôi đi, cho dù thâm tâm tôi chẳng thấy lóe một tia hi vọng nào cả. Năm ấy tôi mới 16 tuổi.

Chuyến máy bay hãng Cosara của công ty Phạm Hòe đưa tôi từ Saigon ra Hà Nội, đáp xuống phi trường Gia Lâm. Tuy là lần đầu được đi phi cơ, nhưng tôi chẳng thấy hứng thú chút nào.

Tâm trí tôi lẩn quẩn nghĩ đến mẹ, lo ở nhà mẹ trở bệnh không ai săn sóc.  Nhưng tôi lại nghĩ rằng đây là hi vọng cuối của mẹ nên không dám cãi.  Tôi về ở nhà cậu mợ đường Nguyễn Tri Phương, nhưng phần lớn lại đạp xe về quê mẹ tận Nghi Tàm để dễ bề hỏi thăm đường đi tìm bố.

(còn tiếp)

Đỗ Thành – HÀ NỘI TRƯỚC, HÀ NỘI SAU