Đó là năm 1952, tháng 7, mùa hè, vô cùng oi bức.  Tôi di chuyển chỗ ở nhiều nơi, khi thì ở Nguyễn Tri Phương, Phó Đức Chính, khi thì ở Nghi Tàm, Lò Sũ. Bà mợ dâu của mẹ đã mất, cửa hàng đong thuốc phiện bán lẻ đựng trong vỏ nghêu của bà ở Blockhaus Nord, gần nhà in IDEO không còn nữa.

Con gái lớn của bà là dì tôi vừa mua căn nhà ở 9 Phan Chu Trinh.  Dì vừa chịu tang chú là nhân viên vô tuyến của hãng máy bay Aigle Ajur, bị rơi ở Đà Nẵng, xác cháy đen không còn nguyên dạng.

Lòng tôi đang nóng vì xa mẹ, giờ lại chứng kiến nỗi đau của dì, nên càng ngơ ngẩn nhiều thêm.  Cậu, em của dì, về nhà bà ở Phó Đức Chính, vừa trông nom cơ ngơi, vừa giữ quyền thừa tự.

Tuy vậy tôi không ở một nơi nào cố định.  Phần lớn tôi chọn ở với người em họ vừa là bạn tại Lò Sũ, trên gian gác hẹp, phía dưới vừa mở lớp dạy học, vừa là quán bán hàng ăn bún bò xào.

Sở dĩ tôi chọn nơi này vì bọn trẻ sàn sàn dễ hợp tính, vừa ở sát ngay hồ Gươm.  Tối tối chúng tôi có thể kéo nhau lên mái nhà, ngồi nhâm nhi chén trà, hát nghêu ngao dăm ba bài, rồi hứng lên thì rủ cả bọn ra cà phê Nhân ở phố Cầu Gỗ tán phét nhăng nhít.

Tôi đem ý đi tìm bố thì ai nghe cũng cười ngặt nghẽo vì cho là tôi viển vông.  Mà viển vông thật vì dạo đó con đường 5 không ngày nào không xảy ra xung đột,  chạm trán.  Từ Hà Nội tôi nhìn qua bên kia sông Đuống, tôi thấy những cột khói đen ngất trời của bom napalm và lửa đạn.

Thỉnh thoảng lại nghe tin đường bị đắp mô, hoặc tận mắt nhìn những xác xe bọc sắt hoặc xe khách được kéo lê vì cán phải mìn, hư xệ nặng.  Thời gian đó tôi quen một số bạn mới Hà Thành như : Yến, Mạc Công Minh, Minh Thuần, người đàn hay, người vẽ giỏi, người im lìm.

Tôi còn nhớ tập bút ký viết tay của tôi về chuyến bay từ Saigon ra Hà Nội đã được  Minh vẽ dăm bức tranh dặm, nhưng chắc chắn không bao giờ được in và xuất bản.  Cho đến nay tôi cũng không rõ tập bản thảo này lưu lạc về đâu.

Tụi tôi bù khú với nhau, đến cuối tuần thì đạp xe về Nghi Tàm hát hò.  Dạo ấy Hà Nội đang xục xịch tin đồn về hội nghị Genève, họp hay không họp.  Các trường vẫn học, nhưng xem ra hoạt động uể oải, không năng nỗ lắm.

Có lần tôi theo chú em họ vào Nguyễn Trãi, bàn ghế vứt lỏng chỏng, học trò biếng đến lớp, thậm chí ảnh thủ hiến Nguyễn Văn Tâm cũng bị quỷ quấy phá,  đem hạ bệ đòi đốt chơi.

Tôi hơi ngạc nhiên sao một nhân vật khét tiếng là hùm xám Cai Lậy trong Nam lại được điều ra giữ nhiệm vụ Thủ Hiến Bắc Việt thời ấy, nhưng đó là việc chính trí, đứa trẻ 16 tuổi như tôi làm sao hiểu nổi.

Đôi lần tôi có tạt ngang bên ngoài Bộ Tư Lệnh Đệ Tam Quân Khu, có thoáng nhìn thấy ông tướng Vận loay hoay trong sân, xem nhàn nhã, nhưng tôi chắc là trong lòng ông không yên.

Chiến trận hồi đó diễn lung tung, dương đông kích tây, khi thì Phong Saly, Cánh Đồng Chum, lúc lại ở Vính Phúc Yên rì rầm.  Pháp thay đổi tư lệnh quân đội xoành xoạch, lúc là Cogny, lúc De Linarès, nhưng chỉ khi tin trung úy Bernard và tướng De Lattre de Tassigny bị tử vong thì thấy tinh thần lính Pháp sa sút mạnh.

Kịp ngày Điện Biên thất thủ, việc trao đổi tù binh khiến sự hiện diện lính viễn chinh ồn ào tại Hà Nôi, ai cũng có một huy hiệu chim bồ câu trên nền xanh để phân biệt tù binh vừa được trao trả thì thấy ngay Hà Nội như nín thở, ngừng hết mọi việc.

Dù chỉ là một chú bé con, nhưng tôi đã linh tính đoán Hà Nội sắp đổi chủ.  Tôi bỗng nẩy ý cố thu hình ảnh của đất ngàn năm văn vật để nhỡ một mai Hà Nội thuộc về người khác thì tôi cũng còn vớt vát được một ít kỷ niệm về 36 phố phường.

Tôi mang theo cái máy ảnh trắng đen bé xíu của chú em, dạo khặp chốn, chụp chụp bấm bấm.  Tối về, hì hục trong cái phòng tối tự dựng, tráng phim, loạch xoạch in, nào là chợ Đồng Xuân, phố Hàng Than, Hàng Bạc, Đường Thành, nhà thờ Phố Huyện, trường Albert Sarraut, phủ Toàn Quyền, nhà bác cổ, cả đến bãi Phà Đen, cầu Long Biên, Cổ Ngư, đền Quan Thánh, Trúc Bạch, Hồ Tây, Bách Thú, Đống Đa, hồ Thiền Cuông vv…  Tôi có tìm về lại căn nhà 65 Hàng Bông Đệm, đứng lặng trước nơi tôi đã từng theo bố ra sống 2 năm với chị.

Nhà vẫn còn đó, mọi thứ vẫn còn đó, chỉ có cái tên An Phong là không thấy.  Cửa căn nhà đóng im ỉm, tôi muốn vào nhìn lại căn gác xép như chuồng cu ở sân sau mà không biết phải làm sao.

Hình ảnh tuổi thơ ùn ùn kéo về.  Tôi nhớ đến nhà An Po bên cạnh, nơi có tấm biển RO và mùi thuốc phiện nồng nồng.  Bây giờ tiệm hút cũng dẹp, nhà thương Phủ Doãn bên kia vẫn trơ ra nhà xác đóng cổng cao kín.

Tôi vòng ra phía ngõ Huyện, tòa báo Tin Mới cũng đã dọn đi đâu.  Lao xao đứng lặng ở ngã tư hàng Bông Đệm, nhìn hun hút vào phố hàng Da để nhớ thời ngày 2 buổi lết bộ đến trường, sửng cồ với đám bạn chia phiên nhau học và kèn cựa mới thuở nào.

Tôi chua xót khi nghĩ về Hà Nội rồi đây sẽ ra sao khi chính trị đã xen vào để bứt nó rời ra khỏi một nhất thể vốn có của đất nước và tôi thấy buồn buồn.

(còn tiếp)

Đỗ Thành – HÀ NỘI TRƯỚC, HÀ NỘI SAU