Giờ đây mỗi ngày qua là một lần đích nhắm của gia đình trở nên xa vời vợi.  Con đường liên lạc đi tìm bố vẫn đóng kín, chẳng những thế càng tăng thêm áp lực nơi những trận đánh nhiều hơn.

Con đường 5 không ngày nào không có tin về những chiếc xe bị mìn, nếu là xe quân sự không nói làm gì, đằng này kể cả các xe chở khách dân sự cũng không được loại trừ.

Vậy ra chiến tranh vốn vô tình như thế.  Người dân đã kháo với nhau về những quả mìn, hòn đạn vô tình, có mắt mũi đâu để mà phân biệt ai là dân, ai là lính.  Những cột khói bốc lên từ bên kia phía sông Đuống càng ngày càng to hơn, đậm hơn và uy hiếp nhiều hơn.

Người ta bám sát nhau, giáng những đòn chí tử bạo liệt, mục đích để ép nhau phải ngồi vào bàn thương nghị.  Pháp thay đổi cấp chỉ huy xoành xoạch, thay hết vị tướng này đến vị tướng khác.  Toàn những danh tướng có công trong thế chiến 2 đều được cử sang thí điểm tại Viễn Đông.

Ông thì tử trận, ông thì làm không xong phải thay, từ D’ Argenlieu, Chanson, Cogny, De Linarès, Leclerc, De Lattre, sau cùng thì Pháp đã tung De Castries vào thung lũng Điện Biên và đưa Navarre làm Tổng Tư Lệnh.  Có lúc cũng có tin đồn có thể Thống Chế Juin cũng sẽ được đưa thử sức, nhưng sau đó lại thôi.

Vị chi tôi đã ở Hà Nội được 5 tháng và lấp ló cái Tết Nguyên Đán cũng sắp đến.  Điều tôi cảm thấy lo nhất là lời hứa của mẹ sẽ gửi tiền ra để tôi trở vào Saigon, nếu vạn bất đắc dĩ không thể hoàn tất công việc mẹ giao.

Vậy mà chờ mãi cũng không thấy động đậy.  Ngày hai buổi, cứ lông nhông ghé hết nơi này nơi nọ, khi Nghi Tàm, lúc Phan Chu Trinh, bữa ở Lò Sũ, bữa về Phó Đức Chính.

Cứ cái xe đạp cà tàng của ông cậu cho mượn, tôi đi lăng nhăng khắp phố phường.  Có những buổi chiều từ Quảng Bá đạp qua Yên Phụ, quành sang Cổ Ngư, bất chợt gặp ánh nắng dát vàng lên mớ lưới của ngư dân phơi một bên phố, tôi ngơ ngẩn vì nét đẹp Hà Nội mà tôi nghĩ nếu lỡ mất đi thì thật tiếc vô cùng.

Tôi lẳng lặng dắt xe vào sát hồ, ngồi lên chỗ dựa lưng của chiếc ghế đá, nhìn sợi nắng đang nhảy múa rất hay.  Con đường Cổ Ngư chạy dài theo hai bên hồ, một là Trúc Bạch, một là Hồ Tây , với ngọn gió hiu hiu, làm cho tôi thấy yêu rất nhiều Hà Nội.

Có hôm tôi tạt vào Quan Thánh, trèo lên tam quan ở cổng, nhìn qua ô cửa mắt bò để thấy hồ đang cất giọng trầm của bản nhạc vi vu. Tôi đã nghĩ Hà Nội hơi cổ kính mà dạt dào nhiều tâm tưởng.

So với Saigon, Hà Nội bớt ồn ào hơn.  Nó mang mang một dấu ấn thành phố văn hiến, với 5 cửa ô xưa, với những con phố bé xíu mang tên chữ Háng này Hàng nọ ở đầu :  Hàng Khay, Hàng Buồm, Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Bông, Hàng Da, Hàng Mành, Hàng Than, Hàng Trống, Hàng Điếu v.v…

Hà Nội như ngầm nói lên bước chân tổ tiên Việt theo bước con chim Lạc tìm về tạo dựng nước ở lưu vực Hồng Hà.  Bây  giờ đã thành phường, thành hội, nhưng những con đường Hà Nội  vẫn chưa thoát hẳn vẻ cổ kính của một đất nước nông nghiệp.

Người Pháp cũng mở mang Hà Nội, nhưng không ồ ạt và sầm uất như Saigon.  Có lẽ vì Hà Nội là đất bảo hộ trong khi Saigon đã có thời là thuộc địa của Pháp. Người ta có thể bắt gặp một số dáng dấp Pháp ở quanh quanh những dinh thự, phố xá, chẳng hạn như phủ toàn quyền, nhà bác cổ, trường Albert  Sarraut, Pasquier hoặc các phố Tràng Thi, Lý Thường Việt Phan Chu Trinh, Petit Đồ Sơn.

Tôi liên miên nhận xét Hà Nội như thế để cố quên đi sự sốt ruột vì tin Mẹ bằn bặt.  Tôi hiểu rằng chính Mẹ cũng thao thức như tôi, hình như Mẹ đã liều quăng nốt chút vốn liếng còn lại để may ra vớt vát được một chút tin gì của Bố.

Nhưng tôi biết bây giờ thì Mẹ thất vọng còn đậm đà và cay đắng nhiều hơn tôi.  Còn gì nữa đâu để Mẹ cho trang nốt hầu gửi tiền cho đứa con trai duy nhất của Mẹ quay về.

Đêm đêm, chập chùng trong giấc mơ, tôi đã có lần nấc lên vì thương Mẹ.  Thời gian đó Mẹ như người bị đánh đuối, thấy gì cũng lóe tia hi vọng.  Mẹ dễ tin người, nghe một cô tự nhận có thời đã cùng Bố chung vốn buôn bán ở Cống Đại, Chợ Thần thế là Mẹ hối tôi đi, cho dù tin ấy có được bao nhiêu phần trăm giác độ sự thật.  Cũng thời gian đó, tôi thường nghe loa quanh Bờ Hồ phát đi tin tức chiến sự của đài Hirondelle.

Rục rịch những nhà có của đã tính đến chuyện dời cư vào Saigon.  Xứ Tràng An mang hai bộ mặt tương phản nhau rõ rệt : ai có khả năng đi thì cứ việc đi, ai đành ở lại thì lo tính việc sau này phải làm gì, sống cách gì, khi nhỡ ra Hà Nội đổi chủ.

Có ngày chẳng biết làm gì tôi nhảy lên chuyến tàu điện đi Kim Liên, Hà Đông, hoặc về Ô Cầu Giấy.  Đi mà chẳng hiểu đi để làm gì, hay là tôi muốn thu hết hình ảnh Hà Nội vào tâm khảm để sau này có phải cách xa sẽ không còn ân hận.

Có đêm từ Lò Sũ, bọn tôi kéo nhau vào cà phê Nhân, rồi lại dẫn nhau ra Tháp Bút bên cầu Thê Húc để nghe Minh Đỗ, Ngọc Bảo hát về Hà Nội của mình.

(còn tiếp)

Đỗ Thành – HÀ NỘI TRƯỚC, HÀ NỘI SAU