Có lần cũng lũ bạn kéo nhau về Nghi Tàm cuối tuần, chúng tôi hát hò với nhau trên căn gác Nghênh Phong của ông cậu.  Có chú em họ đang viết lách lấy bút hiệu là Hùng Phong cũng tham dự.  Chúng tôi ngồi hỏi vặt nhau về tình hình đất Bắc, chỉ nghe nhiều tiếng thở dài hơn là niềm phấn khởi.

Hồi đó tôi đã bắt đầu quen quen với các tên tác giả Hoàng Công Khanh, Ngọc Giao, Nguyến Minh Lang, dù chỉ là đọc tác phẩm của họ như những độc giả khác.  Thế nhưng tôi đã chớm nhận ra nơi các vị ấy một tâm trạng buồn buồn thế nào ấy.

Chú em họ của tôi, tác giả “ Tình trong nhà mồ “, hay anh họ tôi, bạn tôi, cũng còn lưỡng lự giữa chuyện đi hay ở.  Ông bác họ tôi có nhiều cửa hiệu ngay tại Hà Nội cũng có vẻ chần chừ vì hoang mang chưa rõ đâu là sự thực thời cuộc.

Mãi sau này khi gặp lại bác tại đường Chaigneau Saigon năm 1955, tôi mới nghe bác kể suýt bị kẹt lại, nếu không may nhờ một khách hàng người Hung ga ry, một hai cứ xúi bác dời xuống Phòng cho chắc ăn, nếu sau này thấy yên yên thì lại quay về Hà Nội.

Nhờ đó mà gia đình bác tôi đi lọt trên chuyến tàu biển cuối cùng dời Hải Phòng, sau khi hạn 100 ngày chọn vùng định cư vừa chấm dứt.  Hồi ấy, Hà Nội gần như ai làm gì cũng được, chính quyền cũng lơ là.

Chúng tôi họp mặt, có hát hò ông ổng Tiếng Hát Sông Thao của Đỗ Nhuận, hay Tiếng chuông nhà thờ của Nguyễn Xuân Khoát cũng chẳng thấy ai làm khó, hỏi han, hoạnh họe chi cả.

Có lần bà nhìn ra vẻ mặt rầu rầu của tôi, căn văn hỏi, tôi chối bay chối biến, nhưng bà vẫn nhận ra.  Bà âm thầm họp gia tộc bên Mẹ, bàn tán đủ điều, liệu định cho tôi một cách quay trở về Saigon.

Thình lình một hôm bà gọi tôi lại gần và bảo : mẹ cháu còn thửa vườn ông ngoại để lại, gia tộc bàn rồi, đồng ý để cháu đứng ra cho thuê 5 năm để cháu lấy tiền vào Saigon, sợ cháu ở lâu mẹ cháu mong.

Tự dưng nước mắt tôi chảy đầm đìa, tôi ôm chầm lấy bà, nấc lên từng hồi.  Bà để mặc tôi giúi mặt vào vai bà, trút hết tâm tình cho thỏa.  Đến khi thấy tôi đã bớt xúc động thì bà mới nói : được rồi, bà hiểu nỗi niềm của cháu rồi.  Hãy lo liệu sớm hồ sơ địa chính để kịp làm giấy cho thuê, còn mau vào để lo cho Mẹ.

Tôi tưởng như có sự mầu nhiệm nào từ trời cao rơi xuống, tôi càng thổn thức nhiều hơn.  Bà cũng xúc động lây nên luôn xoa đầu tôi an ủi. Tôi đem ý này hỏi dì và cậu tôi.  Bà dì vừa bị cảnh chồng rơi phi cơ nên chẳng nói năng gì.  Còn ông cậu, vốn là sĩ quan quân pháp biệt phái thì cũng không nói rõ ý kiến.

Sau này cả dì và cậu tôi đều ở lại, bà dì vì tiếc cái nhà ở Phan Chu Trinh mới tậu, còn ông cậu thì lê thê vợ con và cũng bịn rịn căn nhà thừa tự nên chần chừ, đến khi muốn đi thì hạn 100 ngày trao đổi đã dứt.

Thời gian đó tôi nhảy tàu điện đi lại hằng ngày từ Hà Nội sang Hà Đông.  Tôi tìm đến Ty Địa Chính (Cadastre) để xin lập bản đồ vườn của mẹ.  Vậy rồi cũng xong, tôi đem giấy về trình hội đồng gia tộc và bản hợp đồng cho thuê đất vườn do mẹ ủy quyền tôi đứng tên ký được xuôi rót.

Tôi nhận số tiền vài nghìn đồng, cố nán lại qua cái Tết Nguyên Đán tại đất ngàn năm văn vật, rồi mới chịu đi.  Đêm giao thừa, tôi không về Nghi Tàm, ở lại nhà chú em ở Lò Sũ để vào Ngọc Sơn lễ đầu năm.

Trời Hà Nội năm đó rét lạ, sương nhiều.  Tôi mặc cái áo len mỏng tang đứng dưới Tháp Bút dẫn đường vào cầu Thê Húc mà run bần bật.  Tôi ra Hồ Gươm một mình, dường như cố thu gom tất cả đất trời Thăng Long lần cuối trước khi vào Nam và chắc là ngày trở lại còn lâu lắm.

Dạo ấy tôi đã học tại Pétrus Trương Vĩnh Ký được 3 năm, từ 1949.  Tiếng là học mà nghỉ lông nhông dài vì trường luôn bãi khóa.  Kiến thức chẳng được bao nhiêu, thương các thầy Lê Văn Kiêm và Lê Văn Huấn hiền quá nên một số học sinh bị giật dây yêu sách hết điều này sang điều khác.

Trường thấy các lớp bỏ học nhiều nên muốn học sinh phải ở lại thêm một năm cho vững, nhưng đám học sinh hô hào bãi khóa không chịu, một hai đòi phải được chuyển lên lớp kế tiếp, các thầy cũng ưng cho.

Cho nên bản thân tôi cảm thấy bị mất căn bản rất nhiều, nhất về môn Toán, nhưng làm sao được, khi mà phong trào bùng lên mà với cái đầu non nớt thời bấy giờ mấy ai nhận ra cái khoản chính trị xen vào.

Được cái mấy năm liền học tiếng Pháp từ Tiểu học, lại thêm liều xí xa xí xô với mấy tay lính săng đá nên nói đại nói đến, dần cũng bạo nói họ hiểu được.  Vậy nên vốn liếng ngày nay cũng không đến nỗi ăn đong.

Tôi lại theo ban Moderne nên tiếng Pháp và Anh là ngôn ngữ chính, trong khi tiếng Việt mẹ đẻ lại thành ngôn ngữ phụ, bây giờ có nói năng tí ti cũng nhờ mấy năm theo học tại trường.

(còn tiếp)

Đỗ Thành – HÀ NỘI TRƯỚC, HÀ NỘI SAU