Vậy rồi tôi cũng phải nhảy tàu điện mấy lần từ Bờ Hồ, trước Phú Gia, để đi Hà Đông lo việc mảnh vườn của mẹ.  Được cái, dẫu cất công như vậy, tôi không thấy phiền hà gì mà còn có dịp được biết thêm về bản quán của mẹ mà Nghi Tàm là một ngôi làng con con, mẹ đã trải qua một thời niên thiếu đầy đau khổ.

Đó cũng là thời cơ để tôi thu tất cả hình ảnh của Tràng An, Thăng Long vào ký ức.  Từ tiếng còi leng keng của toa tàu điện bé xíu đến những con đường tôi đã trải qua khi cùng chị ra sống với bố 2 năm tại phố Hàng Bông Đệm.

Mỗi lần tàu chạy qua căn nhà 65, tôi lại mang mang nhớ về bố, nhớ cái chuồng cu nho nhỏ ở sân sau, nơi cơ hồ chị và tôi sống lạc lõng, trong khi chẳng biết bố tôi đi những đâu nữa.

Tôi cũng nhớ đến ông bà chủ nhà An Phong mà tôi có diễm phúc được nuông chiều hết mực.  Sở dĩ thế là vì hai ông bà không có con, nên bà thường coi tôi như con, có gì cũng chia cho.

Có đêm bà An Phong giữ tôi ngồi ở phòng khách, rồi tuổi trẻ buồn ngủ, tôi gục lúc nào không biết.  Đến khi tỉnh dậy tôi mới biết đã ngủ lang tại phòng ông bà.  Kỷ niệm đó chất chứa mãi nơi tôi mà mỗi lần tàu điện chạy qua phố Hàng Bông Đệm, tôi lại nhớ đến gói xôi đỗ hằng ngày bà mua cho và tiếng rao  của ông Tàu gánh cái sọt nghe lơ lớ như “ cột lềnh cố “, tôi chẳng hiểu tên món quà gì.

Sau này tôi hỏi thì được bà An Phong giải thích đó là chè lục tào xá,nấu bằng mè đen của người Tàu.  Điều cũng ngộ nghĩnh là chả hiểu sao dạo đó tôi chỉ vỏn vẹn có cái giấy của hội đồng gia tộc thuận cho tôi thay mẹ cầm cố mảnh vườn của ông ngoại mà chẳng ai làm khó dễ gì cả.

Cho đến sở Cadastre bên Hà Đông cũng thế.  Họ nhận hồ sơ của tôi, xem xét rành mạch và khi thấy có dấu chứng nhận của làng Nghi Tàm thì họ thuận ngay và hẹn tôi ngày giờ đến nhận bản vẽ cùng khoản chi phí nhỏ tôi phải nộp.

Nói nào ngay lúc đó tôi rất lo.  Nếu cái tuổi 16 của tôi chưa đủ để cơ quan hành chính tin, hay nếu hội đồng gia tộc nhà tôi có người không thuận ý thì không biết tôi phải làm gì để trở vào lại Saigon.

Có khi tôi đành ở lại miền Bắc, rồi chuyện gì sẽ xảy ra với bố, với mẹ và với bản thân tôi khi mà mọi quyết định, quyền hạn đều nằm ngoài tầm tay của chú bé mới lớn chút, chập chững như con chim non mới ra ràng.

Dạo đó, dù hoàn cảnh gia đình chưa ổn định, mẹ đau bênh tốn kém, nhà chẳng có của nả gì, ấy vậy mà tuổi bắt đầu vỡ tiếng của tôi chả hiểu do cách nào lại quen làm bạn với cô học trò Hà Nội.

Khi ra Hà Nội tìm bố, tôi ngầm dấu trong lòng, chỉ dám bâng quơ nhờ tay bạn có qua lại bà con một lần đèo tôi đến phố Lý Thường Kiệt.  Tôi vờ nài anh ta đưa đi cho biết vì nghe nói phố đó toàn biệt thự to đùng.

Đến khi tôi lướt qua căn số 16, nhìn cơ ngơi của bạn và thoáng thấy hai cô gái thì khiếp, không dám tơ hào có ý tưởng ngông cuồng gì nữa.  Sau này tôi trở vào Saigon, cứ bị cô bạn căn vặn mãi, mà tôi thì nại cớ bận, chưa kịp tìm thăm thì đã phải trở vào bởi mẹ đau, nên xí xóa cho xong.

Tôi cầm địa đồ do sở Địa Chính Hà Đông cấp, về trình hội đồng gia tộc xem thì các ông bà, dì bên phía mẹ lo lắng sắp xếp để tôi nhanh chóng về với mẹ. Đến sau tôi mới biết người thuận thuê bao mảnh vườn của mẹ với giá 5000 Đông Dương, thời hạn 5 năm. Số tiền đủ mua vé máy bay Cosara và dư chút đỉnh, về tôi giao lại mẹ, tôi thấy mẹ nghẹn ngào, rấm rứt khóc.

Tôi về Hà Nội đã buồn mà ngày chia tay càng thấm thía hơn. Tôi lịm đi giữa những hình ảnh thân thương mà tôi vừa gom góp được, chưa kịp mở rộng thì lại khuếch tán.  Ông bà Trưởng, ông Viện ,bá Dần, anh Nghĩa, chị Sửu, căn gác Nghênh Phong, hồ tắm Quảng Bá, làng nhàng chợt hiện, chợt mất, suốt thời gian tôi nao nao giữa cảnh đi và ở.

Bạn bè cỡ Mạc Công Minh, Hiệp, Khang, Trí, Yến, Minh Thuần, đều được đặt câu hỏi cách thức chọn lựa thì không một ai dứt khoát thế nào.  Tôi nhớ nóc nhà 62 Lò Sũ, trông ra Tháp Bút, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, nhớ cà phê Nhân, phố Cầu Gỗ, tối tối ra ngồi đồng tán phét.

Nhớ giọng hát Minh Đỗ, Ngọc Bảo của đài Hirondelle, ngày ngày hát bài Hà Nội của nhạc sĩ Trần Văn Nhơn (APCN).  Nhớ Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước.  Nhớ Ngọc Giao, Nguyễn Minh Lang, Hoàng Công Khanh, Hùng Phong và những gì của Hà Nội không nhòa trong ký ức.

Tôi nhớ tủn mủn đến cả Cổ Ngư, hồ Tây, Trúc Bạch, Petit Đò Sơn, cổng thành Thăng Long, cột cờ, chùa Một Cột, đền Hàng Trống, con đường ô tô ray chạy trên Đường Thành, mà hồi đó tôi có ý tưởng nếu bỏ đi sẽ khó có ngày trở lại.

Cho nên những đêm cuối còn ở lại đất nghìn năm văn vật tôi bị dằn vặt nhiều.  Tôi cảm thấy thân phận mình nhỏ nhoi quá, cánh tay dẫu có vươn hết cỡ cũng khó với được tới trời.

Nếu trên đời có một lần con người hẫng đi vì mất mát thì hẳn là khi tôi xa Hà Nôi lần thứ hai.  Đến đây kết thúc phần Hà Nội trước của tôi, một Hà Nội năm cửa ô xưa,  phố cổ mà tranh Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Trần Văn Cẩn đã khuấy động trong tôi để rồi vừa lú nhú nhận hơi ra dáng thì đành phải xa, xa mãi, xa mãi…

ĐỖ THÀNH

Đỗ Thành – HÀ NỘI TRƯỚC, HÀ NỘI SAU