Suốt chuyến bay dài hơn 3 tiếng đồng hồ từ Gia Lâm về Saigon tôi lo lo, chỉ sợ về gặp mẹ tôi không biết phải thưa trình ra sao để mẹ khỏi mắng.  Lãng đãng bên cạnh đó, tiếng động cơ cánh quạt như cắt lìa tôi xa dần, xa dần đất  Thăng Long.  Trong tôi cũng lại chắt chiu bóng hình làng Nghi Tàm, đê Yên Phụ, con dốc đổ xuống sân nhà ông bà trưởng, mảnh vườn của ngoại mà tôi nghĩ hợp đồng 5 năm chứ hẳn là sẽ không bao giờ tôi hi vọng còn nhìn thấy lại, chứ đừng nói là để mẹ nhận lại chủ quyền.

Vậy mà mẹ đã chẳng nói gì, chỉ đưa bàn tay xương xẩu lên gãi gãi chỏm đầu thưa thớt tóc.  Tôi có thoáng thấy mẹ nuốt cái nghẹn nào đó vài ba lần khi nhìn tôi.  Hình như lảng vảng trong ký ức mẹ đã có một chút gì tan vỡ mà mẹ cố dấu đi cho tôi khỏi chạnh lòng.  Từ đó đêm mẹ  không ngủ không trọn, tôi nghe nhiều lượt mẹ thở dài, mà tôi cũng không dám chắc  có thực hay không nữa.

Bởi vì tôi biết niềm tin ở mẹ đã cạn, ví như ngọn đèn hết dầu không được châm tiếp và mẹ đang chờ một thứ gì đang đến, sắp đến.  Dây dưa mặc cả đi mặc cả lại rồi cái hiệp định Genève cũng được ký.  Một lô một lốc các nước trên thế giới vừa là chính thức vừa là chứng nhân cùng nhau kết thúc cuộc chiến 9 năm.  Một tiếng sáo ở hồ Leman, một số phận chia cách cũng hàng triệu con dân hai bên giờ giới tuyến cũng không giữ được sự thống nhất ruột thịt.

Vĩ tuyến 17 lại một lần thay con sông Gianh thuở xưa giằng xé anh em thành những người xa lạ.  Mẹ tôi đón nhận tin mà như xé cõi lòng.  Mẹ chỉ nói vắn tắt với tôi : hẳn là chuyện tìm bố không còn hi vọng nữa.  Thế là trong khoảnh khắc, bệnh lao của mẹ tăng độ trầm trọng ùn ùn để rồi một sớm mai mẹ bỏ tất cả mà đi cô đơn từ nhà dưỡng lão Thị Nghè.

Dạo ấy, tôi đang dạy học ở Dalat, dăm lần ba lượt nghe mẹ hấp hối tôi vội chạy về.  Những mấy lần mẹ vẫn không chịu đi.  Chỉ nghe mẹ nhỏ to : sao nhà ta đông người vào ra thế, toàn các cụ kỵ, ông bà ngoại về rủ, khuyến khích dẫn đi nhưng cứ nấn ná thương con mà chưa đi được.  Tôi khóc mùi khóc mẫn với mẹ, cầu xin mẹ cứ thanh thản nhẹ nhàng theo các cụ, ông bà cho tôi được yên tâm, mẹ bực hỏi sẵng lại : mẹ đi thì con sẽ ra sao ?

Câu nói lúc ấy nghe nhẹ tênh mà sao giờ mỗi khi nhớ lại tôi vẫn ngập đầy nước mắt.  Vì vậy tôi đâm sợ, đâm ngại, đinh ninh cứ chờ tin mẹ nằm xuống sẽ về nhận tang để mẹ khỏi vương vấn.  Cũng vì sự ương ngạnh đó mà ngày mẹ đi thật thì tôi đã không được ai gọi về.  Đứa con bất hiếu là tôi đã không được cầm bát hương chống gậy ra cánh đồng như mọi người con khác.

Tôi đã tủi thân và khóc miết, khóc miết.  Dalat lạnh như thế mà không đêm nào tôi không lang thang quanh bờ hồ Xuân Hương đến tận 2, 3 giờ sáng.  Có người đã hù dọa tôi nơi cầu ông Đạo có bà xẩm nhảy hồ tự tử, đêm đêm vẫn lên ngồi lặng lẽ nhìn ra hồ để tôi sợ.  Song mặc, tôi chẳng hề nao núng chút nào, cứ đi mà chẳng biết đi đâu, đi để làm gì.

Tôi chỉ nuôi trong đầu nỗi nhớ từ đó không bao giờ còn trông thấy mẹ nữa. 

Đỗ Thành – HÀ NỘI TRƯỚC, HÀ NỘI SAU