Cùng với bà chị, tôi theo bố ra Hà Nội năm 1942 và trở lại Sài Gòn năm 1944.  Chỉ vỏn vẹn 2 năm ngắn ngủi, nhưng tôi đã học được nhiều bài học về thương yêu, nỗi nhớ, tình cảm, quê nội, quê ngoại.

Bản thân, ngoại cảnh, tâm tình về nỗi sống nơi đất Tràng An un đúc, vỗ về và thổi sinh khí cho tôi lớn dậy, chín chắn hơn và đầy nhiệt huyết hơn.

Tôi hiểu nhiều về mẹ, tôi nghĩ nhiều về bố, tình cảm hai ông bà An Phong nơi gia đình tôi trọ và cái khung cảnh phố phường Hà Nội đã ban cho tôi nhiều ý niệm sâu sắc.

Con đường tôi bước đi dạo ấy trong 36 phố phường, tuy chưa dài, chưa sâu, nhưng mang mang đã để lại trong hồn tôi một hình ảnh của đất Thăng Long cổ kính.

Tôi đã biết được nhiều địa danh tuyệt vời, mang chữ bắt đầu bằng Hàng này, Hàng nọ, song những tiếng thân thương ấy nhắc cho tôi về một nơi chốn hiền hòa, về những con người tốt đẹp.

Tôi đã từng cùng bố ngồi ăn bát cháo khuya ở bên ga Hàng Cỏ khi vừa ở Khâm Thiên, Ngã Tư Sở về.  Hai cha con đã ngồi trên chiếc xe tay lượn lờ quanh các phố đêm : Trường Tiền, Cửa Nam, Sinh Từ, phố Huế, dạo vòng bên Hồ Hoàn Kiếm, tạt qua Thủy Tạ, Vườn Hoa Con Cóc, đối với tôi càng ngày những danh xưng đó càng nhấn sâu vào tâm khảm cậu bé miền Nam.

Những chuyến ô tô ray đêm bố cho về Từ Sơn quê nội.  Bước ra khỏi con tàu tuy còn chông chênh, nhưng khi đặt chân lên những tảng gạch vuông vức đi sâu vào làng, tôi nghe như đâu đâu cũng rộ mùi hoa bưởi thơm ngát.

Mái đình đồ sộ của làng vạch một nét đen sẫm trong đêm vươn lên lồng lộng, nhắc tôi về một huyền thoại Thánh Gióng mà ngày đó tôi luôn giữ trang nghiêm khi nhìn con ngựa gỗ to tướng lưu giữ trong đình.

Tôi nhớ mãi hình ảnh chợ Tết nơi quê nội trong cảnh mưa phùn gió bấc, với những mái lá mong mạnh dặt dìu theo gió dập mà thấy thương sao mảnh đất Phù Lưu, Chợ Dầu đã cho tôi một người bố tài hoa nhưng cũng lắm tật.

Tôi nhớ nhiều về con đê Yên Phụ nơi dẫn vào quê mẹ Nghi Tàm để trong lòng xôn xao bao nhiêu hi sinh mẹ một đời vất vả.  Cái lò gạch ngày xưa mẹ trần vai vác từng chồng ra vào từ miệng lò nóng rực đã tạo nên nơi mẹ một sự nhẫn nhục bao la mà sau này khi đã trở nên có của ăn của để mẹ không sao quên được dĩ vãng để luôn mở rộng lòng cưu mang những người chịu hẩm hiu.

Làng mẹ tôi vốn trồng hoa và sống nhờ cái hồ bơi Quảng Bá.  Vốn liếng ông bà ngoại để lại cho mẹ là một mảnh vườn nhỏ mà lần đầu khi được bà dẫn ra giảng giải, tôi đã rơm rớm nước mắt và thương số phận mẹ biết bao.

Quê hương bố dặt dìu tiếng quan họ hợp cùng những dò hoa mai, hoa đào của đất mẹ sinh ra đã tạo nên nơi tâm hồn tôi nét vừa lãng mạn, phóng túng, vừa nặng tình nhớ tưởng.

Tôi có thể trải hàng giờ ngồi trên ghế đá Cổ Ngư nhìn cả hồ Tây lẫn hồ Trúc Bạch và hít theo hơi khói tỏa từ đền Quán sứ bay ra để ấp ôm đất nghìn năm văn vật vào tận đáy lòng.

Ngày tôi trở vào Sài Gòn, quê hương không còn vẻ an bình nữa.  Suốt dọc con đường sắt xuyên Việt đã thấy lởn vởn bóng dáng chiến tranh.  Những lá cờ mặt trời chiếu lóe tia hay gọn lỏn là một vòng tròn đỏ đã hung hăng bay lượn đó đây, cho thấy uy quyền của ngưới Pháp dần dần bị thu hẹp lại.

Dư luận Hà Nội đã râm ran tiếng bảo nhau về cách “ phòng thủ thụ động “ và nhiều ổ cửa sổ gắn kính đã thẫy dán chéo những mảnh giấy để ngăn những mảnh vỡ văng xa khi có còi báo động và tiếng bom nổ.

Đèn đường Hà Nội đã gắn thêm những cái chụp chiếu gom  ánh sáng xuống mặt đất và người Hà Nội đã nhỏ to bàn sắp có ném bom xảy đến cũng nên.

Chuyến ấy bố tôi bị mất một vố tiền lớn.  Bố mẹ dấu con cái, nhưng nhác thấy cảnh bố mẹ cau có khi phải dời căn nhà 106 Lagrandière là tôi đã đoán có chuyện lớn xảy ra.  Sau đó tôi nghe ra thì bố định đánh  ván bài chót là thuê nguyên một goong tàu chở thứ vải tissue Shangtung từ Hà Nội vào Sài Gòn, nhưng bị lộ nên đành bỏ của cứu lấy người.

Mẹ tôi đã buồn vì con cái bị gửi vào nhà cô đầu cô đuôi bị mang tiếng, nay lại phải bán nhà gán nợ nên giận vô cùng.  Sinh khí gia đình trở nên nặng nề, u ám.

Sự việc xảy quá nhanh nên gia đình chỉ kịp có dăm hôm phải lo thu dọn đi ở nhờ một người trong họ, còn bố tôi đi đâu mất hút….

Đỗ Thành – HÀ NỘI TRƯỚC, HÀ NỘI SAU