Bố tôi đi, mẹ thui thủi một mình.  Hồi đó chị em tôi còn bé quá, chưa ra sức  được gì để mẹ nguôi ngoai.  Tôi tuy là trai lớn nhất trong nhà, nhưng tồ, càng  nghiệm thấy mẹ luôn chênh vênh, ngóng đợi.

Trước tiên bố tôi lên Biên Hòa.  Thỉnh thoảng có loáng thoáng nhắn tin về, gọi mẹ con tôi lên.  Thế nhưng bao vốn liếng bố đem đi tất, mẹ chỉ còn 2 bàn tay trắng, thì dẫu có muốn dắt con cái đi cũng không lấy đâu ra tiền chi phí di chuyển.

Thế nên mẹ đành chọn phương hướng ở lại, với hi vọng nếu bố còn nghĩ đến gia đình thì trước sau cũng sẽ quay về.  Vậy rồi Biên Hòa bị Pháp chiếm, bố tôi chạy ra Phan Thiết.

Đường chia ly càng lúc càng xa, lòng mong đợi mỏi mòn càng ngày càng vô vọng.  Mẹ đưa chị em tôi lánh nạn ở Quán Tre, một xóm nhỏ thuộc khu vực Hóc Môn, ở nhờ tại doanh trại của ông bà Long (Tín Mỹ), người đã mua căn nhà 106 Lagrandière của gia đình tôi.

Thuở ấy, dẫu còn bé, nhưng lòng tôi vẫn háo hức về tình yêu nước của dân ta.  Hằng ngày được nhìn thấy cảnh những chuyến tàu điện chở dân quân ngồi cả lên nóc toa, với lá cờ rách bươm, còn ươm mùi khói súng, được bọc trong tấm lưới rách, tôi cũng thấy kiêu hãnh và hiểu được ý nghĩa độc lập của đất nước là thế nào.

Song bên cạnh mặt tích cực thì trí óc non nớt của tôi cũng điểm nhiều vết sợ.  Những tiếng rì rào về nghi kỵ người này người kia làm Việt Gian, khiến tôi hoang mang.  Lý do để họ kết tội nhau hết sức vô cớ, có khi chỉ là cái nhãn hiệu đính bên trong cổ áo sơ mi, vốn dĩ đã từ hồi nảo hồi nào, nhưng chỉ vì có màu chỉ đỏ, xanh là bị phiếm chỉ ám hiệu tay sai của Pháp.

Sở dĩ bị đổ vấy tội như thế là vô hình dung cờ của nước Pháp gồm 3 màu : xanh, trắng, đỏ; nên trong cảnh bồng bột của cách mạng đang lên thì thường có những tư tưởng quá khích xen lẫn vào.

Ai cũng dồn hết lực vào kháng chiến, nên có khi không kịp can thiệp thì hẳn có người bị chết oan.  Vùng gia đình tôi lánh nạn, mỗi khi nghe nói đến tên Ba Nhỏ là đều khiếp.  Một lần chính mắt tôi nhìn thấy ông ấy cưỡi con ngựa Nhật cao lênh khênh, tôi cũng không dám đường hoàng nhìn thẳng vào ông nữa.

Tôi còn nhớ lúc ấy danh xưng Bình Xuyên, Ủy Ban Hành Chính Kháng Chiến, Tư Lệnh Nguyễn Bình là những danh từ rất tôn nghiêm, e dè và dù không nói ra, ai cũng đều thấy sợ.

Một lần nữa, khi Pháp đánh ra Phan Thiết, bố tôi lại gom góp của nả chạy ra Huế.  Sau này tôi nghe nói lại bố tôi chờ ở Huế rất lâu, nhưng làm sao mẹ con tôi tìm cách nào lọt ra vùng bố được.

Lánh nạn ở Quán Tre đâu chửng vài tuần thì mẹ con lục tục kéo nhau về lại Saigon.  May còn có những chuyến xe thổ mộ túc tắc chở người, chở rau cải, hoa, nên mẹ đi theo.

Tôi còn nhớ đến trạm gác Hanh Thông Tây và Xóm Thuốc, ba anh lính thuộc đia da đen nhánh, gạch mặt, xí xa xí xồ, thuộc sắc dân Sénégal, Maroc v.v… làm mẹ và chị tôi run lẩy bẩy, sợ nép người lại.

Nhưng rồi cũng thoát, có lẽ hồi đó lực lượng chiếm đóng cũng muốn dân hồi cư nhiều, nên cũng không gây khó khăn chi.  Saigon vắng quá, tất cả còn như đang lừ đừ thả nổi, ai cũng có vẻ uể oải, lắng nghe.

Ngay tại đường phố Saigon mà xe quân đội viễn chinh chạy vẫn phải gắn sung trung liên.  Tối đến, dân được khuyến cáo không được ra khỏi nhà, và cần đi đâu phải xách theo đèn bão, hay đèn manchon để tránh ngộ nhận, còn không thì xảy chết chóc ráng chịu.

Mẹ con tôi sống ở căn nhà 120, lổn ngổn còn trăm thứ bừa bãi, chẳng ai nghĩ,  hay có đủ nhân lực để dọn.  Trước mặt nhà là cái hầm tăng xê (tranchée),  gỗ cây đổ lổm ngổm, lù lù như cái mộ lớn.  Cạnh đó, ở đầu đường dẫn xuống chợ Bến Thành có một căn nhà bị đổ, gạch vụn ngổn ngang.  Tối đến xe tuần tiễu chạy ngang đều nổ hàng tràng đại liên vào đống gạch, dè chừng du kích ẩn trốn bắn ra.  Mẹ âm thầm, nhẫn nhục, nuôi một nách 4 đứa con mà tan dần niềm hi vọng một ngày nào bố lại quay về.

Đỗ Thành – HÀ NỘI TRƯỚC, HÀ NỘI SAU