Đọc “Chinh Chiến Điêu Linh” của Kiều Mỹ Duyên

Cũng không thể gọi là “đọc” theo nghĩa thông thường như chúng ta đọc báo, đọc sách. Có những trường hợp người ta gọi là ngâm như Hoàng Oanh ngâm thơ, không ai gọi Hoàng Oanh đọc thơ bao giờ. Tuy nhiên, trong bài “Đi chơi chùa Hương”, Nguyễn Nhược Pháp lại viết: “Ngâm nga chàng đọc thơ”. Sao lại “đọc thơ”. Phải là “ngâm thơ” chớ! Bởi vì vần thơ ở chỗ nầy là vần trắc, không thể dùng chữ ngâm, vần bằng, nên Nguyễn Nhược Pháp phải dùng chữ đọc thơ, vần trắc.

Trong vài trường hợp, người ta không ngâm một bài thơ mà phải ca, như vối một bài “ca Huế”, như mấy bài Nam Bình, Nam Ai hay với một bài “ca trù”, ca cải lương và hát như hát Chèo, hát Quan họ, hát bội.

Với tác phẩm “Chinh Chiến Điêu Linh”, người ta không thể đọc, như đọc một tác phẩm cửa Tự Lực Văn Đoàn hay tiểu thuyết của Lê Văn Trương.

Tiểu thuyết có thể viết bằng tâm huyết của người cầm bút, nhưng những “ký sự chiến trường”  như của Phan Nhật Nam, Kiều Mỹ Duyên… không chỉ bằng tâm huyết của người viết, người lính ngoài chiến trường mà bằng cả xương máu, tính mạng của chính họ và luôn cả đồng bào của họ nữa.

Thành thử, nếu như đọc họ, như đọc một tiểu thuyết thì không đúng đâu! Người ta phải đọc họ, không chỉ với xúc cảm mà còn với cả đau khổ, thương xót, yêu mến, buồn giận nữa kia, mới xứng với tất cả những gì đang xảy ra ngoài chiến trường. Người đọc đôi khi phải dừng sách lại, nghẹn ngào, đau khổ, thương xót, có vài giọt nước mắt, và than thầm: Người lính của chúng ta khổ vậy sao, đau đớn đến thế sao, tính mạng nguy hiểm đến thế sao, và cũng “hiền” như thế sao?! Họ chỉ là người tự vệ không chiến đấu bằng hận thù. Trước kẻ thù bại trận, họ đưa tay ra cứu giúp, như cứu giúp đồng bào của họ.

Người Cộng Sản, đồng bào phía Bắc vĩ tuyến 17, đọc “Chinh Chiến Điêu Linh” có thể giật mình. Người linh Miền Nam đâu có biết “ăn gan uống máu”, đâu có lòng ghét bỏ thù hận ai. Họ có truyền thống nhân ái của dân tộc. Và người Miền Bắc đọc sách nầy, bỗng ngộ ra là mình đã bị lừa.

Đọc “Chinh Chiến Điêu Linh”, người ta thấy được cái đau của dân tộc, bất hạnh của dân tộc. Chỉ trên căn bản đó, không phải của bên nầy hay bên kia, người Việt Nam sẽ thấy gần nhau hơn. Từ khởi điểm đó, người sẽ tiến tới đâu, và biết mình sẽ đi về đâu…

Mùa hè năm 1972, Cộng Sản Bắc Việt mở ba mặt trận lớn ở Miền Nam: Quảng Trị, Kon-Tum, An Lộc. Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà, – không có lực lượng quân sự Mỹ hỗ trợ, phản công mãnh liệt, giữ vững cả ba mặt trận, không thua ở một mặt trận nào.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gọi một cách văn hoa là: “Bình Long anh dũng”, “Kon-Tum kiêu hùng”, “Trị Thiên vùng dậy”. Nó có nghĩa là Bình Lòng đã anh dũng bảo vệ được thị xã của mình, trước quân số địch nhiều hơn gấp ba, có cả xe tăng, đại pháo yểm trợ. Kontum chận được quân địch bên kia sông Dabla, mặc dù địch quân đông hơn, phía ta đã mất hết những cứ điểm bảo vệ Cao Nguyên ở phía Tây Bắc Kon-Tum.

Mặt trận phía Bắc VNCH, chúng ta chỉ còn giữ được vùng phía Nam sông Mỹ Chánh, giữ đúng lời thề.

Chiến trường nào cũng khốc liệt, và chết chóc đau thương, không chiến trường thua kém chiến trường nào, kinh hoàng ở mọi nơi, mặc dù, con đường dài hai mươi cây số, từ Cầu Dài tới Mỹ Chánh trên Quốc Lộ xuyên Việt, trong phạm vi tỉnh Quảng Trị, được giới truyền thông Miền Nam và Quốc Tế, mệnh danh là “Đại Lộ Kinh Hoàng”.

Cuộc chiến dữ dội, kinh khiếp và tàn ác đó, được nhà văn Phan Nhật Nam đặt cho một cái tên là “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Bốn chữ ấy nói lên chưa hết sự tàn khốc của những trận kịch chiến năm đó, cũng đủ để mọi người nhắc lại cho gọn ý nghĩa của nó vậy.

Con đường ngược chiều!

Sự tàn ác của những trận đánh ấy, ngoại trừ những người lính, vì nhiệm vụ mà cần phải ra trận, người ta ai cũng muốn đi lui, nghĩa là chạy về phía hậu phương để xa nơi tên bay đạn lạc – thậm chí những người hoạt động trong ngành “chiến tranh tâm lý” cũng ngại ra trận địa, ngóng đôi tai cho thật dài để nghe người ngoài chiến trường về kể lại để cấu thành tác phẩm.

Nhưng cũng có người đi ngược chiều.

Nó có nghĩa rằng trong khi người ta đi xa ra mật trận thì họ lại đi tới ngay nơi đang đánh nhau, hoặc ít ra là nơi gần chỗ người ta đánh nhau hơn, là những nơi dễ chết, dễ bị thương.

Năm 1968, tại một địa điểm gần cầu Phò Trạch, tỉnh Thừa Thiên, Bernard Fall, người Mỹ gốc Pháp, phóng viên chiến trường Đông Dương từ cuộc chiến tranh Đông Dương lần thư nhứt, trở lại Việt Nam sau khi Mỹ đổ quân ở Đà Nẵng năm 1965, tử nạn khi chiếc xe GMC ông đang ngồi trên đó bị mìn Việt Cộng. Cái máy ghi âm ông đeo trước ngực vẫn chạy, ghi cả tiếng mìn nổ vào máy. Cái chết của một phóng viên chiến trường, dù có hay không ở tầm cỡ quốc tế, chuyên viên về du kích chiến cho chính phủ Hoa kỳ, cũng làm “rúng động” bao nhiêu người.

Bernard Fall là kẻ đi ngược chiều.

Giới truyền thông của Miền Nam có biết bao nhiêu người đi ngược chiều như thế, trong đó, lại có một phái nữ: Kiều Mỹ Duyên.

Đối với những người từng vào sinh ra tử, coi cái chết như lông hồng, da ngựa bọc thây, trước cuộc chiến tàn khốc, kinh hoàng năm 1972, người ta còn “ớn lạnh” huống chi với một cô sinh viên mới quá tuổi hai mươi.

Năm 1973, Việt Cộng vi phạm Hiệp Định Paris 1973, tấn công vào đồn Lung Lớn cách  Nhà Máy Xi Măng Kiên Lương chưa tới 10km. Tôi đang đi hành quân cách đó không xa. Thiếu tá Sầm Long là người dày dạn kinh nghiệm chiến trường. Biết giữ không nổi đồn, ông cho lệnh lính của ông bỏ đồn rút ra, rồi cho pháo nổ chụp, không cho Việt Cộng chạy thoát tên nào!

Gần sáng, tôi và Thiếu tá Long đến nơi quan sát, thấy Việt Cộng chết nằm đầy cả trong lẫn ngoài đồn. Ông ta ngoắt tay tôi ra ngoài, rồi cả hai lên xe. Ông ta nói: “Thấy tụi nó chết, “moa” ghê quá!” Tôi hỏi: “Toa đánh giặc hay nổi tiếng cả Vùng Bốn mà cũng ghê sao?!” Ông ta lại nói: “Đánh thì đánh! Chết chóc ai mà ưa!”

Cũng thời gian ấy, dù đang ở nơi “đồng chúa nước mặn, nắng bụi mưa bùn”, tiếng súng tiếng đạn không bao giờ ngưng, thỉnh thoảng cũng có đọc vài phóng sự chiến trường của Kiều Mỹ Duyên, tôi thường nghĩ trong trí, “con nhỏ” nào mà “gan” quá vậy, hoặc là “khùng”, là “điên” mới dám ra chỗ súng đạn nầy mà “giỡn mặt với tử thần”? Mới đây, gặp cô ấy, hỏi cô sao mà “gan” vậy? Cô tự gọi là cô điên.  Khi mình tự biết mình là điên tức là mình không điên.

Chiến trường đâu phải là Thiên Nhai, để như Nguyễn Tuân, nghe tiếng gọi của Thiên Nhai mà “Thèm Đi” – Tên một tác phẩm của ông ta -, thực hiện những cuộc “Giang hồ vặt” mà chơi.

Thế hệ chúng ta, bọn con trai mới là “thất hữu trách”, mới là những kẻ đêm nằm nghe tiếng súng, tiếng đạn, tiếng xe tăng, tiếng máy bay gầm thét, tưởng những tiếng ấy như đánh thức mình dậy, gọi mình ra, biểu mình đi. Đó mới là “tiếng gọi của chiến trường”, đang réo gọi những người trai yêu nước, thanh niên thời đại của một quê hương đang lúc nhiễu nhương.

Còn như mấy “bà”: “Khuê môn phận gái việc gì tới đây?” Tôi muốn hỏi mấy “bà” một câu như thế, như Lục Vân Tiên hỏi Kiều Nguyệt Nga vậy. Cũng là “kiều” cả đấy. Kiều Nguyệt Nga với Kiều Mỹ Duyên, “phận gái” tới đây làm chi?

Nón sắt, áo giáp, súng dài, súng ngắn là của bọn đàn ông. Cớ chi đàn bà, con gái cũng đến đây, mượn cái nón sắt, áo giáp để ra ngồi hầm, “ngắm” những người lính đang hò hét xung phong, nhìn “sung nổ, đạn bay” để viết chi cho ai? Hòn tên mũi đạn đâu có nể nang “cơm cha áo mẹ” bao giờ.

Trước mùa hè năm đó, nhân một dịp “ủy lạo chiến sĩ” của học sinh trường Lê Bảo Tịnh, Saigon, tôi đi chung xe với Trần Văn Nghĩa, cameraman, với Hồ Ông, ký giả. Nửa đương, xe gặp tai nạn, tôi đưa Hồ Ông vào Tổng Y Viện Cộng Hoà, rồi tiếp tục đi với Nghĩa.

Vậy mà chỉ mấy tháng sau, cô Kiều Mỹ Duyên kể về Nghĩa, người phóng viên quay phim ấy, khi Kiều Mỹ Duyên tham gia cùng một trận đánh với anh ấy:

“Ngày hôm sau, tôi lại được tin có thêm 3 phóng viên chiến trường gục ngã trên mặt trận Hải Lăng. Tin điện của các phóng viên gởi về toà soạn: Lúc 15 giờ chiều qua, một phóng viên chiến trường Việt Nam và hai phóng viên của hệ thống truyền hình ABC Hoa kỳ đã tử thương vì một loạt đạn AK 47 của quân Bắc Việt tại khu vực ranh giới quận Hải Lăng và quận Phong Điền. Phóng viên Việt Nam là anh Trần Văn Nghĩa của Đài Truyền Hình Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà và hai phóng viên ngoại quốc, khi đứng quan sát chiến trường tại ranh giới hai quận nầy, cách Quốc Lộ I chỉ có 800 thước, thì bị một lính Bắc Việt núp gần đó bắn một loạt đạn AK khiến anh Nghĩa gục xuống bên cạnh hố cá nhân của tên lính Bắc Việt vừa bắn anh chỉ cách có hai thước…”

“Hai phóng viên ngoại quốc cũng chết vì loạt đạn AK của Cộng quân.

“Phóng viên Trần Văn Nghĩa năm nay 37 tuổi, 1 vợ, 8 con và mang cấp bậc Trung Sĩ I, phục vụ cho Đài Truyền Hình Quân Đội từ mấy năm nay. Hai phóng viên hãng ABC tử thương là Sam Kai Faye và Tonykhool. Phóng viên Sam Kai Faye có quốc tịch Tân Gia Ba, bị trúng đạn khi anh tiến đến để cứu phóng viên Trần Văn Nghĩa.

Chỗ bắt đầu đoạn văn nầy, tác giả viết: “Ngày hôm sau….” có nghĩa rằng ngày hôm trước đã có chuyên không may… cho họ.

Đúng vậy, Kiều Mỹ Duyên kể:

“Khi chiến trận sắp kết thúc thì trời đã hoàng hôn. Tôi đứng bên bờ sông Thạch Hãn, nhìn bao quát khung cảnh của bãi chiến trường. Chiến cụ và xác người vương vải khắp nơi. Dòng sông Thạch Hãn vẫn lặng lờ, không biết có phải máu đã đổ xuống hay là những tia nắng quái của lúc hoàng hôn chiếu hắt lên khiến cho mặt nước có màu đỏ thẩm.

“Những chiến sĩ Dù còn truy kích địch.

“Buổi tối trở về Huế, tôi được tin anh Nguyễn Thanh Liêm cùng với hai phóng viên ngoại quốc đã chết khi theo chân một cánh quân của Thuỷ Quân Lục Chiến đụng trận ở quận Phong Điền. 

“Mới cùng ngồi uống cà phê buổi sáng ở Hương Giang, mới chia tay và chúc lành cho nhau trước khi đi. Buổi tối trở về vắng bóng ba người. Ba người đã bỏ gia đình, bỏ bạn bè, bỏ nghề và cả cái nghiệp của mình, vĩnh viễn ra đi.

Tôi không nghĩ đoạn văn sau đây thuật lại cái thú của người ta khi được đi máy bay để nhìn ngắm quê hương mình. Tác giả kể:

“Đến 11 giờ, dòng sông Mỹ Chánh hiện ra trước mắt. Đây là con sông nhỏ, như một lằn ranh giữa hai thành phố Huế vả Quảng Trị. Bên kia bờ phía Bắc sông Mỹ Chánh không thấy bóng dáng một người dân. Đại Uý Hoàng chỉ cho tôi các vị trí quân bạn ở bên dưới, và một đoàn công voa của mình đang đi chuyển. Tôi nhìn thấy rõ những đám bụi đỏ bốc lên mù mịt đằng sau mỗi chiếc xe. Chúng tôi đang cách cầu Mỹ Chánh 4 cây số về hướng Đông. Tôi biết chỉ trong chốc lát chúng tôi sẽ đến quận Hải Lăng. Hải Lăng đằng trước mặt. Chiếc L.19 nhẹ nhàng bay vào vùng đang giao tranh bên dưới.

“Tiếng của Đại Úy Hoàng trong mũ nghe:

-Chị nghe tôi rõ không?

-Rõ.

-Chị nhìn qua phía bên phải, bên trong Quốc Lộ I, xe tăng của Việt Cộng đó, chụp hình đi.

“Người phi công cho máy bay đảo nhiều vùng trên cao để quan sát tổng quát tình hình bạn và địch, đồng thời liên lạc với những đơn vị bên dưới để biết yêu cầu của họ. Tôi vừa quan sát, vừa chụp hình, vừa lắng nghe cuộc đối thoại của những đơn vị Dù và Thuỷ Quân Lục Chiến với máy bay của tôi:

-Hotel! Hotel! Đây Sóng Thần, nghe rõ không, trả lời.

-Tôi nhận bạn 5/5. Có gì cho đi.

-Việt Cộng đang nằm trên gò mả, xem giùm tôi, trả lời.

-Chờ một chút.

-Nhờ bạn quan sát chính về hướng Đông, Tây Bắc, điểm đã cho.

-Bảo Phong, đây Chung Sơn gọi.

 -Tôi đưa nón sắt đến cho bạn đó. Bạn hướng dẫn tôi trả lời.

-Tôi đã tới ngay nhà thờ mà chưa thấy bạn.

-Hoa Đào, đây Tiêu Long gọi.

-Đánh giùm tôi cách 1000m, nghe rõ không, trả lời.

“Nhiệm vụ của Đại Úy Hoàng thật đơn giản, nhưng thập phần nguy hiểm. Nguy hiểm là bên dưới gặp khó khăn, mới nhờ trên không giải quyết dùm, và nơi nào Dù và Thủy Quân Lục Chiến gặp khó khăn, là nơi đó đang đong đưa một lưỡi hái của tử thần.

“Qua ống dòm, tôi thấy một ngôi nhà thờ nhỏ nằm trong vùng giao tranh, trên gác chuông và những cao điểm khác, những ổ súng của Cộng Quân đã cầm chân các đơn vị Dù và Thuỷ Quân Lục Chiến một cách hữu hiệu. L 19 phải dùng trái khói để đánh dấu những vị trí đó cho phản lực đánh.

“Đại Úy Hoàng ra hiệu họ tôi biết phi cơ sẽ xuống thấp để làm nhiệm vụ. Tôi thật sự hồi hộp trong giây phút nầy, vì đây là lần đầu tiên tôi theo máy bay ra tận giữa hai lằn đạn của một cuộc giao tranh, hai bên đang cố gắng đẩy lui đối thủ và giữ từng tấc đất.

“Chiếc L 19 xuống thấp rất nhanh bên phần đất của các đơn vị bạn, rồi bay thẳng về phía địch. Tôi nhìn rõ bằng mắt những chiến sĩ Dù và Thủy Quân Lục Chiến đang tiến công bên dưới, như xem phim trên màn ảnh. Họ tiến tới chậm và khó khăn vì hỏa lực của Cộng Quân từ các cao điểm. Chậm nhưng vẫn dũng tiến và tiến tới không ngừng. Đại Úy Hoàng đã cho máy bay vào phần đất của địch. Máy bay sát trên ngọn cây và những họng súng phòng không bắt đầu chuyển hướng nhắm vào chiếc L 19.

“Chiếc máy bay nhỏ bé khi thì lượn lờ trên cao như đùa giỡn, khi thì để thả trái khói cho thật chính xác đã phải lao xuống thật thấp, xuyên qua những lằn đạn rồi phóng lên cao và lại nhào xuống như vậy nhiều lần. Những giây phút đó mới thấy sự phối hợp nhịp nhàng, hữu hiệu của Không Quân. Trong khi chiếc L 19 cố gắng xuống thấp, đến gần để ghi dấu vị trí địch bằng trái khói, thì đằng xa, những chiếc phản lực, như những con diều hậu đã thấy mồi, lao xuống mục tiêu như những mũi tên. Địch thừa hiểu L.19 chỉ đâu, phản lực đánh đó, nên hầu hết các ổ súng đã châu lại nhả đạn vào chúng tôi cùng một lần.

“Đại Uý Hoàng đang cố gắng xuống thấp hơn để ghi dấu một ổ súng phòng không của địch. Đã bao lần tôi thấy rõ là phi cơ sẽ trúng đạn, nhưng rồi vẫn tránh được. Vừa bị một tai nạn xe trầm trọng năm ngoái, sức khỏe của tôi chưa được bình phục, nên sau một hồi phi cơ bay lên, nhào xuống, gan ruột tôi cảm thấy nhộn nhạo. Và lần nầy, khi tôi vừa kịp thấy một màn lưới lửa từ dưới đất xẹt lên hướng máy bay chúng tôi, Đại Uý Hoàng đã nhanh nhẹn đưa phi cơ ngược lên trời như một mũi tên để tránh. Sự thay đổi cao độ và áp suất bất ngờ đó làm cho tôi không còn cố gắng hơn được nữa.

“Trước khi ngất đi, tôi còn nghe văng vẳng tiếng của người phi công hỏi tôi:

-Chị Duyên, chị Duyên, nghe tôi rõ không trà lời?

“Tôi muốn nói: “Đại Úy cứ tiếp tục phi vụ.” nhưng hình như tôi không nói được. Tôi biết lúc đó máy bay của tôi chỉ mới thực hiện được 48 phút bay, và tình hình bên dưới làm cho Đại Úy Hoàng trong một lúc hình như quên sự hiện diện của tôi trên máy bay.

“Khoảng 15 phút sau, tôi có cảm giác như máy bay đang ở trên một mặt phẳng, không còn nhào xuống rồi vút lên như trước nữa và tiếng người phi công lại vang lên trong mũ nghe:

-Chị Duyên, chị Duyên, chị tỉnh lại rồi phải không? Ngã về đằng sau, nhắm mắt một lát cho khỏe.

“Tôi dùng ngón chân ấn nhẹ lên chiếc nút dưới sàn tàu:

-Cứ bay hết giờ nghe Đại Uý.

“Tuy nói vậy, nhưng bay đến phút thứ 150 thì tôi lại muốn ngất đi như trước. Chiếc mũ bay vẫn chụp trên đầu, nên trong trạng thái mơ màng, tôi còn nghe những lệnh lạc, những lời gọi khẩn cấp, những câu cự nự nhau và cả tiếng chưởi thề. Có những câu nói chưa trọn đã im bặt, có lẽ bởi một viên đạn nào đó…. Tôi biết mình đã phí mất những giây phút quí báu nầy.

“Sau một phi vụ dài hai tiếng rưởi với L.19, những dự tính tháp tùng bay theo khu trục A37 và phản lực F 2 của tôi đã tan theo mây khói vì tự hiểu sức khỏe của mình không thể nào theo được.

“Phi cơ trở về lại phi trường Phú Bài, một số những người quen biết trong Biệt Đoàn đến chúc mừng tôi bình yên sau những giờ bay nguy hiểm trên chiến trận.

“Đại Uý Hoàng vừa rời phòng lái đã vội vã đi ăn cơm trưa. Ăn xong lại lên máy bay bay tiếp.

“Một phản lực cơ của ta bắn cháy 3 chiến xa của địch, Đại Uý Hoàng được lệnh bay đến chụp hình. Người phi công lần nầy vai mang máy ảnh có gắn téle, ông vẫy tay chào và nói:

-Bắn cháy chiến xa thì phải chụp hình chứ để người ta không tin.

“Từ phi trường Phú Bài, tôi xin vào Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương Huế nằm tỉnh dưỡng….

Tôi hy vọng độc giả thích thú khi đọc đoạn văn nầy, nhất là mấy ông con trai. Nguy hiểm đáy. Nói theo cách thông thường, Kiều Mỹ Duyên “giỡn mắt tử thần” nhưng số vẫn còn hên.

Đoạn văn nầy Kiều Mỹ Duyên nhắc tới những địa danh của “quê hương tôi”: Mỹ Chánh, nơi có lời thề “không để cho giặc chiếm thêm một tấc đất nào nữa”, là một vị trí nằm giữa hai con sông. Phía Bắc Mỹ Chánh là sông Mỹ Chánh. Phía Nam Mỹ Chánh là sông Ô Lâu, cái tên còn lại của Châu Ô. “Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm, Một gái thuyết quyên đáng mấy mươi”.  Dù có vuông ngàn dặm, hay ít hơn, thì nó cũng đã được đánh đổi bằng cuộc đời của công chúa Huyên Trân, với bao nhiêu “nước mắt ngày vu qui”. Mảnh đất đầy xương máu và nước mắt, từ bảy trăn măm trước trong lịch sử đời nhà Trần, đâu có thể để cho nó rơi vào tay giặc?

Bên nầy sông Ô Lâu là huyện Phong Điền, quê nội tôi.

Bên kia sông là phủ Hải Lăng, quê ngoại tôi, nơi tôi từng lang thang nhiều nơi: Hiền Lương, Phước Tích, Vân Trình… với Hưng Nhơn, Diên Trường. Lương Điền, Mỹ Thủy, Diên Sanh, Trường Sanh, nơi xảy ra “Đại Lộ Kinh Hoàng”

Quảng Trị có ba con sông: Sông Ô Lâu, ranh giới châu Ô và châu Rí của đất Chàm. Sông Thạch Hãn, bao nhiêu máu xương nằm dưới đáy sông nầy trong trận đánh Cổ Thành năm 1972, sông Bến Hải, nơi phân ly đất nước, cũng là phân ly lòng người Việt Nam hai mươi năm.

Tác giả “Chinh Chiến Điêu Linh” đã đến Sông Ô Lâu, đến sông Thạch Hãn, nhưng chưa một lần đến sông Bến Hải để “thấm” cho hết những đau thương, uất hận của người dân “Quảng Trị tui”,

(Xem: “Câu chuyện của ba con sông”.

Ai làm nên “lịch sử”?

Dĩ nhiên, theo cách nghĩ thông thường là những tướng tài làm nên lịch sử.

Cũng không hẳn như thế, ngoài trận địa, người lính can trường đem lại chiến thắng cho đơn vị. Các cấp chỉ huy giỏi, biết rõ họ thắng trận là nhờ binh lính của họ. Không có họ, kết quả trận đánh chưa chắc biết về tay ai. Tuy nhiên, những người lính can trường ấy, lại là những người rất bình thường, hiền hậu. Gặp họ, lắm khi, chúng ta không nghĩ rằng họ là người “phi thường”. Khi ra mặt trận, Kiều Mỹ Duyên đã gặp nhiêu con người như thế. Sau đay là câu chuyện “điển hình:

“Chúng tôi đến căn cứ hỏa lực 42 khi căn cứ nầy cũng vừa bị một trận pháo kích dữ dội. Mọi người đang bận rộn với công việc của mình. Người thì đang ăn cơm, người thì đang tu bổ lại những hầm mới bị pháo làm hư hại.

“Tôi ngỏ ý với Đại Uý Tùng muốn gặp một chiến sĩ nào xuất sắc nhất của đơn vị. Đại Uý Tùng chấp thuận ngay.

“Mọi người kéo vào hầm chỉ huy. Cứ mỗi lần vào hầm chỉ huy là mỗi lần tôi suýt bị bể trán vì lo quan sát chung quanh mà quên khom mình xuống chui qua cửa hầm.

“Trung sĩ Nguyễn Văn Tạ đứng nghiêm chào ông Tiểu Đoàn Trưởng của mình và ngồi đối diện với tôi.

“Anh đánh giặc lì nhất đơn vị nhưng lại có vẻ lúng túng khi nói chuyện với một nữ phóng viên. Tôi mở lời ngay cho anh được tự nhiên:

-Anh làm ơn kể lại cho tôi nghe trận đánh hào hùng của anh vừa rồi trên núi ChuPao.

“Anh Tạ có vẻ vui vẻ khi nghe tôi hỏi về chuyện đánh nhau, anh vừa nói vừa điển tả bằng bộ điệu:

            -Hôm đó, lực lượng Dù đã chiếm được nửa đỉnh đồi. Trên cao, tụi Việt Cộng còn giữ trên đó, và đồi bên kia có khoảng cấp một trung đoàn của tụi nó chiếm giữ. Sáng hôm sau, Đại Đội Trưởng của tôi cho một trung đội kéo qua đánh đồi bên kia. Việt Cộng cách chúng tôi khoảng 700 mét. Vừa lên lưng chừng đồi là đụng ngay tụi nó. Tôi cho cánh quân bên trái ép qua, cây đại liên đi giữa hai tiểu đội…

“Anh Tạ diễn tả trận đánh trên núi ChuPao một cách hào hùng như người ta đang kể một trận cầu quốc tế. Nhưng đây không phải là một kết quả tranh tài của một trận cầu, mà những gì đạt được đều phải đổi bằng xương máu và cả sinh mạng của mình.

“Anh kể đến lúc trận chiến đã tàn:

-Sáng ra, chúng tôi không thấy Việt Cộng nữa. Chúng bỏ lại rất nhiều xác trong các hầm và trên hai đỉnh đồi mình đã chiếm được.

“Tôi hỏi anh Tạ:

-Nghe nói anh đã bị thương bốn lần mà vẫn xin đi tác chiến. Những vết thương của anh đã lành hẳn chưa?

-Đã lành rồi. Tôi bị thương một lần ở đầu, một lần ở ngực, một lần ở tay và mới đây là ở sau lưng. Một lần tôi bị thương rồi mà còn bắt được một tên Việt Cộng dẫn về và lấy được một cây CKC nữa.

                                                           (Trên đỉnh ChuPao, trang 252)

Người ta thường cho rằng chiến tranh thì không có nhân đạo. Điều đó đúng không, hay chỉ đúng với Cộng Sản? Chúng ta có thể tự đặt nghi vấn: Chiến tranh không có nhân đạo hay Cộng Sản không có nhân đạo?

Đại Lộ Kinh Hoàng thì nhân đạo ở đâu? Chôn sống người ở Huế hồi tết Mậu Thân (1968) thì nhân đạo ở đâu?

Cộng Sản có cái lý của họ đấy. “Cách mạng triệt để” là nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Mác. Từ nguyên lý đó, hành động của họ, như câu nói của Lê Duẩn vậy: “kẻ nào không theo ta là kẻ thù của ta.”

Dĩ nhiên, tư tưởng Machiavelli ấy không ở trong nhân ái, bác ái, từ bi của nhân loại – mà người Cộng Sản cho là tính cách tiêu cực của giai cấp tiểu tư sản – Người cầm súng thuộc “phe Quốc Gia” với truyền thống dân tộc, bao giờ cũng “nghịch” lại với Cộng Sản, trong từng cá nhân hay cả trong chính sách của chính quyền Miền Nam.

Dĩ nhiên, đừng nói chuyện nhân đạo với Cộng Sản. Kiều Mỹ Duyên, khi ra tận chiến trường, cũng thấy như vậy:

“Tôi hỏi bà cụ:

-Cụ có gặp Việt Cộng không?

-Có chớ! Tụi nó nhỏ chừng 17, 18 tuổi thôi. Mấy đứa con gái cũng mang súng.

“Tôi nhớ hôm trước, có dịp đi thăm một số tù binh. Có mấy cô cũng khoảng 17, 18 tuổi ở quận Mộ Đức, Đức Phổ và Nghĩa Thành. Khi tôi gợi chuyện hỏi thăm, các cô nói với tôi họ là y tá, chị nuôi, tức là chuyên nấu ăn cho bộ độ. Các cô bảo bị dụ mãi thì đi theo lên núi. Đến khi đụng trận bị thương, bị bắt và được đưa về bệnh viện điều trị mới thấy làm tù binh bên nầy được nằm giường nệm, ăn ngày ba bữa, còn sướng hơn mấy lâu nay đói khổ, ngày đêm gì cũng ở dưới hầm, lúc nào cũng lo sợ.

(Đằng sau trận chiến – trang 187)

Đây là đoạn văn khiến người đọc phải suy nghĩ. Không phải nói gì về nhân đạo của phe ta. Nó nằm trong nguyên tắc căn bản của nhân loại, của Thế Giới Tự Do. Chính quyền Miền Nam có muốn làm khác đi, cũng không thể làm được. Tính cách ấy, người ta gọi là nhân bản. Có thể một lúc nào đó, một nơi nào đó, người tù không được nằm giường nệm, không được ăn no một ngày ba bữa, nhưng tính cáchh nhân bản của chế độ, nó vẫn có, được bảo tồn, gìn giữ. Điều đó tạo nên lòng tin tưởng ở người khác, hay chính ngay tại những người nữ tù nầy. Thật vậy! Tại sao họ không khai họ là du kích, là người lính Cộng Sản, là “bộ đội cụ Hồ” mà khai là y tá, chị nuôi. Trong chế độ Cộng Hoà, người phụ nữ chỉ làm những việc gì cò tình nhân đạo, hợp với nữ tính. Họ chỉ có thể là y tá, là chị nuôi, là làm một công việc gì đó có tính nhân đạo.

Với Chủ Nghĩa Cộng Sản thì khác. Nam nữ bình quyền, theo quan điểm của người Cộng Sản, đàn bà  phải như đàn ông, làm việc như đàn ông, quyền lợi như đàn ông, hưởng thụ như đàn ông. Lôi người đàn bà ra khỏi nhà, đặt vào tay họ một cây súng, để họ “chiến đấu” như một người đàn ông là mục đích của chủ nghĩa Mác. Điều đó trái với nhân tính, với tính cách của một người đàn bà nên các cô du kích nầy không dám tự nhận mình là du kích. Và họ cũng không dám tư nhận mình là người Cộng Sản – người y tá khó lập chiến công như một du kích, dễ trở thành một đảng viên. Bởi vì một đảng viên khác với một y tá, một chị nuôi. Đảng viên là phải có “tính đảng” nhiều hơn, là phải có “hận thù giai cấp”, “đấu tranh giai cấp” là phải biết “cách mạng triệt để”. “Cách mạng triệt để” là phải cương quyết “Giết! Giết nữa bàn tay không ngừng nghỉ”

Chỉ một đoạn văn như thế, đem lại cho ta biết bao nhiêu điều cần phải suy nghĩ, về một chủ nghĩa, về một chế độ “trật đường rầy” đem tai họa đến cho đồng bào, dân tộc.

Nói không hết được!

“Chinh Chiến Điêu Linh” là một tập ký sự gần bốn trăm trang, mô tả khung cảnh chiến trường của bốn mặt trận trên bốn vùng chiến thuật với bao nhiêu “điêu linh” của người miền Nam, quân cũng như dân trước súng đạn và con người đầy tàn ác và hận thù, từ miền Bắc vào xâm lăng miền Nam.

Nội dung cuốn sách đầy những đau thương, khổ nạn, – còn hơn cả “Con Đường Khổ Nạn” Chúa đã đi qua vì nhân loại – có yêu đương, cò thủy chung với người yêu, có trung thành và yêu kính Tổ Quốc, và với đồng bào, dân tộc, đồng đội, chiến hữu, có tinh “thầy trò”, chia ngọt xẻ bùi, sống chết có nhau!

Làm sao tôi có thể gom hết nói hết những điều ấy, viết lại trong mấy trang giấy ngắn người nầy. Chỉ có một cách, tôi xin quí độc giả hãy “đọc” đi, như tôi đã “đọc”. Lòng quí vị sẽ nhiều giao động hơn, vì những gian khổ của người lính chúng ta, vi nỗi “điêu linh” của dân tộc ta, đồng bào ta, hoặc gần gửi hơn là xóm làng ta, là các chị, các mẹ, các em, nơi chúng ta sinh ra và lớn lên một thời niên thiếu.

Tôi, hay nói đúng hơn, cả gia đình chúng tôi, ai cũng đã “đọc” Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam. Tôi và anh kế tôi, “đọc” nó khi vừa in trên báo.  Có dịp, tôi đã cam ơn ông Phan Nhật Nam vì ông ấy đã viết về người em trai út của chúng tôi, khi “Hùng Móm” dẫn Đại Đội 112 Dù về tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, và Hùng đã “ở lại đó”, tại “Cầu Lòn”, kế ga xe lửa Quảng Trị. Ga ở phía Tây, nhà tôi ở phía Đông thị xã. Hùng chết cách nhà vừa chừng một cây số, trong ba lô còn lá cờ và chai Champagne, hẹn với lòng, hễ sau khi giành lại được quê hương thì sẽ “treo cờ trên nhà mình” và mở Champagne “uống chơi”.

Tôi từng mang ơn Phan Nhật Nam, và nay lại mang ơn Kiều Mỹ Duyên.

Không có gì khó hiểu.

Khi tôi xuất bản cuốn “Hương Tràm Trà Tiên” (Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũngr), có người đọc và hỏi tôi, có phải tôi sinh ở Rạch Giá mà “rành rẽ” về quê hương của họ quá vậy. Họ cũng cám ơn tôi về những điều tôi viết về quê hương của họ.

Trong “Chinh Chiến Điêu Linh” thì cũng vậy!

Trong khi tôi “lội bùn lách,…” ở Trà Phô, Giang Thành, Hòn Sóc, Hòn Đất, Hòn Chông, Hòn Phụ Tử, Chùa Hang… thì Cô Kiều Mỹ Duyên đứng bên bờ sông Thạch Hãn –

“Tôi sinh ra bên bờ sông Thạch Hãn, nhà tôi bên bờ sông Thạch Hãn, trường tôi bên bờ sông Thạch Hãn…”  Trong khi tôi trốn học lang thang – như các bạn tôi gọi tôi “Thằng lãng tử”  vui chơi trên sông Ô Lâu, Mỹ Chánh, Diên Sanh, nhà thờ La Vang, nhà thờ Phước Môn, lăng ông Quận Công, cửa Tùng (Luật), cửa Việt (An),“thì khi ấy mẹ yêu ngồi khóc”  vì tôi ham chơi hơn ham học. Quê hương tôi đó, nơi nhiều kỷ niệm!

Vậy mà nay, Cô Kiều Mỹ Duyên đến nơi ấy, viết về nơi ấy, khóc vì đồng bào tôi nơi ấy. Vậy thì tôi không xúc động với những hàng chữ của cô ấy sao được, tôi không cám ơn cô ấy sao được. Đó chỉ là sự “phải chăng” của một tấm lòng.

Cách đây khoảng mười năm, ông TKĐ, về Huế, gặp NĐX – Trước năm 1966, “sợ mấy thầy”, ông hiệu trưởng trường tôi, khi ấy tôi làm “phụ tá giám học”, thực ra là làm cái công việc “sắp thời khóa biểu”, biểu tôi sắp cho NĐX dạy mấy giờ sử địa. Có thể vì vậy mà ông ta “biết” tôi. May mà Tết Mậu Thân ông ta không “tìm” tôi. Về lại Mỹ, TKĐ nói với tôi: “Anh bỏ những đoạn chống Cộng trong cuốn “Viết Về Huế” đi, sẽ in sách ở Việt Nam cho anh”. Uý “trời đất thiên địa ơi!” Sách tôi viết là “viết chơi”. In 9 cuốn sách rồi mà có bao giờ tôi làm cái chuyện “tào lao” là “ra mắt sách” đâu. Huống chi in sách ở Việt Nam.Nếu tôi viết cái gì đó, “coi được” thì người ta sẽ kiếm mà coi, tìm mà coi. Còn không thì người đọc cho recycle. Hơi đâu mà “mặc áo thụng vái nhau”, làm trò cười cho thiên hạ. Theo đuôi Phi Thoàn, Khả Năng không có dễ đâu.

Nói như thế là để thưa với độc giả rằng, làm thế nào để cho người trong nước, để đồng bào phía Bắc Vĩ Tuyến 17, để cho cán bộ, “cán xe” Cộng Sản biết “người Miền Nam” như thế nào chớ!

Người lính Cộng Hoà giống hay khác “Chú bộ đội” như thế nào! Ai “hiền” ai “dữ” như thế nào!? Ai cầm súng vì hận thù với ai “lòng súng nhân đạo, cứu người lầm than” như Thái Thanh hát.

Có “hoà hợp hoà giải” thì người mỗi bên ít ra cũng “hiểu” nhau như thế nào chớ!

Và thế hệ mai sau nữa, chúng nó thấy gì ở thế hệ cha ông nó? Và nỗi “điêu linh” của dân tộc nầy do đâu mà ra. Ít ra, chúng cũng học được kinh nghiệm nơi cha ông nó. Phải “tỉnh táo” (chữ của ông Bùi Tín đấy), để thấy cái gì là chân lý, cái gì là tuyên truyền để không phải cầm súng “đẩy” dân tộc vào một cuộc “Chinh Chiến Điêu Linh” như cha ông chúng đã làm vì bị tuyên truyền./

Ngày đầu tháng Ba năm 2018

hoàng long hải (tuệ chương)

Đã xem 6924 lần

Chúng tôi nhận thiết kế website hoặc hướng dẫn tạo website riêng với giá phải chăng.
Xin liên lạc Email: baotoquoc@hotmail.com

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.