“…Quân đội nhân dân Trung Cộng phát triển các căn cứ du kích, tiêu diệt một số phần quân đội Pháp. Quân Pháp nỗ lực nghiền nát, cắt đứt các đường chiến lược phiá Bắc đến phía Nam, trận chiến thắng lợi đáng kể nghiêng về quân Pháp…”

Trung Quốc gửi tập đoàn cố vấn đặc nhiệm đến Việt Nam chống Pháp

Đầu năm 1950, theo yêu cầu của Trung ương Đảng Việt Cộng và Hồ Chí Minh. Quân ủy Trung ương Trung Quốc và chính phủ (CPC) quyết định thực hiện nhiệm vụ Quốc tế tại Việt Nam, dưới hình thức viện trợ khó khăn. Trung Cộng cho rằng có nhiệm vụ cố gắng giúp đỡ nhân dân Việt Nam chống Pháp. [1]

Trùm gián điệp Hồ Chí Minh tuyên bố bất chấp đúng sai, “Nguyện vọng của nhân dân phù hợp với Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 3 năm 1950 đến tháng 7 năm 1954, Quân ủy Trung ương Trung Cộng (CPC) chỉ thị cung cấp một lượng lớn vũ khí và hỗ trợ hậu cần thiết bị quân sự cho Việt Nam, lực lượng cán bộ cố vấn kỹ thuật giúp huấn luyện quân đội Việt Nam. Trong khi đó, Tập đoàn cố vấn được Việt Cộng mời giúp đỡ toàn diện cho quân đội Việt Nam, hỗ trợ theo các lệnh tổ chức ngoài trận chiến, cuộc đấu tranh thắng lợi chống Pháp có những đóng góp quan trọng đối với Trung Cộng”.

Stalin tuyên bố: “Chiến tranh Việt Nam nên được xác định chủ yếu bởi người Trung Quốc phụ trách dưới sự điều động của Quân Ủy Trung ương (CPC) đã gửi những tập đoàn cố vấn quân sự. Vào tháng 9 năm 1949, cuộc đấu tranh cách mạng Trung Quốc đạt được chiến thắng quốc tế cơ bản. Hồ Chí Minh phục vụ nhiều năm trong quân đội Trung Quốc dưới sự điều hành của Lý Long Điền, Hồ đã từng làm nhân viên chạy thư cho Quân Ủy Trung ương CPC Trung Cộng và ngày nay ông liên hệ trực tiếp với Chu Ân Lai để yêu cầu Trung Quốc hỗ trợ đấu tranh giải phóng Việt Nam”.

Ngày 01 tháng 10 năm 1949, sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, hai bên, quan hệ song phương đã bước vào một giai đoạn phát triển mới. Ngày 18 tháng 1, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao Trung Quốc là quốc gia đầu tiên hỗ trợ quân sự cho Cộng hòa Dân chủ Việt Nam sự giúp đỡ và liên lạc trực tiếp với Trung Quốc.

Hồ Chí Minh, Trần Canh và những nữ hộ lý Trung Quốc tại chiến khu biên giới huyện Tĩnh Tây, gần đồn Đông Khê Cao Bằng.
Hồ Chí Minh, Trần Canh và những nữ hộ lý Trung Quốc tại chiến khu biên giới huyện Tĩnh Tây, gần đồn Đông Khê Cao Bằng.

Ngày 30 tháng 1 năm 1950, Hồ Chí Minh bí mật đến Bắc Kinh. Thời điểm đó, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đến thăm Moscow, thay mặt Ủy ban Trung ương CPC Lưu Thiếu Kỳ đã nói rõ rằng Trung Quốc sẵn sàng giúp Việt Nam chiến đấu chống Pháp, thậm chí nếu chưa đủ chi phí vũ khí Trung Quốc sẽ tăng viện. Trong tuần Lưu Thiếu Kỳ đến Moscow sắp xếp cho Hồ Chí Minh đến gặp Stalin, Mao, thảo luận về kế hoạch cho cuộc chiến tranh Việt Nam chống Pháp.

Ngày 06 tháng 2, Hồ Chí Minh đến Moscow. Một vài ngày sau đó, đại sứ Trung Quốc Vương Gia Tường (王稼祥) đến Liên Xô gặp Hồ Chí Minh tham gia buổi nói chuyện ngắn về công cuộc đấu tranh Việt Nam chống Pháp, yêu cầu Liên Xô-Trung Quốc hỗ trợ chặt chẽ phía sau Việt Nam. Stalin nói rằng “điều kiện phải có nhiều điểm tương đồng, chiến tranh Việt Nam nên chủ yếu là trách nhiệm của Trung Quốc”. Liên Xô cũng đã xác định được tình bạn và hợp tác điều ước quốc tế đối với Việt Nam, Stalin chưa bao giờ lịch sự với Hồ Chí Minh bởi thừa biết đương sự không phải là Nguyễn Ái Quốc của năm 1932.

Ngày 17 tháng Hai, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh đi tàu hỏa trở lại Trung Quốc. Trên chuyến tàu, một lần nữa Mao Trạch Đông đưa ra các vấn đề viện trợ thiết bị quân sự cho Việt Nam. Hồ Chí Minh yêu cầu bổ sung tập đoàn cố vấn quân sự. Mao Trạch Đông nói rõ rằng “đã cố gắng viện trợ và cung cấp nguồn tài lực quân sự dồi dào cho đồng chí, cuộc cách mạng của chúng tôi cần chiến thắng vì trách nhiệm quốc tế chủ nghĩa, cán bộ quân đội Trung Quốc là nguồn gốc cách mạng, nếu bạn thực sự muốn có những nhà Cố vấn Trung Cộng”! Hồ Chí Minh cho biết : “Tôi tin rằng chuyên gia Cố vấn của Đảng có thể đánh bại người Pháp, và quân đội Quốc Dân Đảng. Mao nói: “Khi trở về Bắc Kinh, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu nhanh chóng đưa ra quyết định viện trợ”.

Ngày 04 tháng 3, Mao Trạch Đông về đến Bắc Kinh, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, những lãnh đạo trung ương khác đã nghiên cứu kỹ lưỡng các vấn đề về chống Pháp mở ra chiến tranh tại Việt Nam do Trung Quốc chỉ đạo. Đó là nguyên nhân giải phóng dân tộc Việt Nam, một phần của cuộc cách mạng vô sản thế giới, chúng tôi có trách nhiệm phải cung cấp hỗ trợ và giúp đỡ, mà là để củng cố thắng lợi của cách mạng Trung Quốc, phá vỡ vòng vây thế lực chống Trung Quốc.

Hồ Chí Minh vừa về đến Bắc Kinh, Hoàng Văn Hoan cho biết: “các nhà lãnh đạo Quân ủy Trung ương Đảng Trung Quốc (CPC) đã hứa sẽ giúp Việt Nam kháng chiến chống Pháp, nhất định giành chiến thắng, dù tất cả các khía cạnh khó khăn trong thời gian này nhưng tương lai sẽ chiến thắng, Trung Cộng sẵn sàng đồng ý hỗ trợ hoàn toàn miễn phí cho Việt Nam”. Hồ Chí Minh vui mừng nói “chúng tôi đang tập trung vào công tác xây dựng đảng bộ Thái Lan chỉ vì Trung Cộng”. Hoàng Văn Hoan đại diện đảng và nhà nước Việt Nam gửi đến lời chào các nhà lãnh đạo Trung Quốc, ông sớm quay trở lại Việt Nam chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài.

Đầu năm sau Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh, hội kiến với Quân ủy Trung ương Đảng Trung Quốc (CPC) được biết La Chí Tường và La Quý Ba (Luo Guibo) hai đại diện liên lạc trung tâm kháng chiến tại Việt Nam. La Quý Ba tranh thủ lên đường trước thời gian, tháng Ba đến Việt Nam cùng Quân ủy Trung ương (CPC) Việt Cộng nghiên cứu chiến trường, La Quý Ba cho biết “Chiến tranh chống Pháp tại biên giới Việt Nam-Trung Quốc, trong cuộc chiến này khó ngăn cản quân Pháp, do đó mặt trận mở rộng nhiều cửa chiến trường”. Hồ Chí Minh từ Hà Nội đánh đi một bức điện báo cáo và yêu cầu Trung Quốc gửi gấp một tập đoàn cố vấn quân sự càng sớm càng tốt. Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CPC) quyết định đưa gấp đến miền Bắc Việt Nam mười quân đoàn (10), 9 chính trị viên dân sự và quân sự,  Vi Quốc Thanh (韦国涛) người đứng đầu Tập đoàn Cố vấn quân sự Việt Nam.

Vào đầu tháng Tư, Lưu Thiếu Kỳ tiếp nhận chỉ thị của Đặng Tiểu Bình, đáp ứng nhu cầu quân sự cho Việt Nam, yêu cầu lãnh đạo quân đội Bành Đức Hoài (彭德怀), Lâm Bưu (林彪) chuyển Tập đoàn Cố vấn cán bộ quân sự, một số Cố vấn lĩnh vực chính trị và Tuyên giáo cho Việt Nam. Mao Trạch Đông bày tỏ sự ủng hộ tích cực của từng lĩnh vực có liên quan các cấp lãnh đạo. Đặng Tiểu Bình đề nghị tập đoàn Cố vấn hoạt động trong mỗi lĩnh vực quân sự được thuận lợi, sẽ gửi thêm Tập đoàn Cố vấn quân sự thứ ba.

Giữa tháng Tư, Quân ủy Trung ương Trung Cộng (CPC) chuyển giao tập đoàn Cố vấn và nhân viên các cấp cho Việt Cộng cũng như chuẩn bị tài liệu và các vấn đề viện trợ theo đơn đặt hàng từng lĩnh vực. Tập đoàn Cố vấn quân đội thứ hai, thứ ba và thứ tư đã đến miền Bắc Việt Nam. Đảng ủy Việt Cộng tham khảo với người đứng đầu Cố vấn quân sự quảng lý quân số của quân đoàn, nhanh chóng chuyển giao kinh nghiệm thực tế của mức độ nhất định quân sự, chính trị, cán bộ cố vấn hậu cần trên 59 Tiểu đoàn, trong đó có 33 cấp tiểu đoàn, 17 cấp trung đoàn, mức độ phân chia quân sự cho quân đoàn 2, và 6, tổng cộng 281 cố vấn, bao gồm các nhóm cố vấn quân sự và chính trị viên.

Ngày 20 tháng 5, Lưu Thiếu Kỳ, điện thoại đến Hồ Chí Minh như là một Cố vấn cao cấp nhất của Bắc Kinh, cá nhân ông cung cấp quân sự và hướng dẫn cuộc chiến. Ngoài ra Quân ủy Trung ương Trung Cộng (CPC) hướng dẫn Niếp Vinh Trăn (聂荣臻) tham khảo ý kiếnvới Vi Quốc Thanh (韦国涛), có sự khác biệt về thời gian bởi báo cáo viên chuyển giao sai địa chỉ, đến giữa tháng sáu, chỉ huy Phó Mai Gia Sanh (Mei Jiasheng), báo cáo với Đặng Tiểu Bình sẽ  có 20 tình báo viên về Bắc Kinh, chờ đợi chấp vấn quân sự.

Ngày 27 tháng 6, bùng nổ chiến tranh Triều Tiên, Tổng thống Truman tuyên bố Hoa Kỳ can thiệp vũ trang nội bộ của CHDCND Triều Tiên, và gửi Hạm đội Bảy từ Đài Loan. Những nhà lãnh đạo Trung Nam Hải gặp các cố vấn Bắc Kinh, Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, riêng Chu Ân Lai khẩn cấp chuyển quân đội vào vùng chiến tranh không thể tham dự cuộc họp.

Hai ngày sau, Tướng Nguyễn Sơn yêu cầu chỉ huy các cấp liên quan đến Việt Nam hội thảo và báo cáo tình hình địa lý, khí hậu, giới thiệu phong tục Việt Nam, tình hình của địch và tình báo Việt Cộng. Tướng Nguyễn Sơn gốc người Hà Nội, 1935 Học viện Quân sự Hoàng Phố, tham gia Khởi nghĩa Quảng Châu và cuộc Trường Chinh đến Diên An, 1945 ông tham gia trong cuộc chiến tranh chống Pháp, ông làm chính trị viên quận đoàn 4, vì vậy ông đã quen thuộc với tình hình ở Việt Nam.

Cuối tháng Bảy, Tập đoàn Cố vấn quân sự thứ hai đến Việt Nam do Trần Canh (Chen Geng) lãnh đạo, các Cố vấn còn lại di chuyển theo hướng Nam Ninh, chính thức lắp ráp thành lập Đại tập đoàn Cố vấn tại Hà Nội. Để giữ bí mật, nhiệm vụ của Cố vấn “sứ mệnh Đông” tiến hành tiếp cận quân sự vào chiến trường bằng mã số bí mật. Tại Nam Ninh, Cố vấn Vi Quốc Thanh truyền đạt tinh thần hướng dẫn đào tạo những đồng chí lãnh đạo trung ương Việt Cộng, tập trung thảo luận, tổ chức học tập, nâng cao nhận thức, thái độ, quan điểm, phát triển “Quy tắc Thực hành Cố vấn” yêu cầu tất cả thành viên thực hiện nghiêm ngặt. Trong khi đó, các nhóm Cố vấn quân sự thành lập các ban phê duyệt, Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sanh, Đặng Nhất Phàm (Deng Yifan), Mã Tây Phu (Maxi Fu), Lý Văn Nhất (李文一), Đặng Thanh Hà (Tang Ching Ho) sáu người là thành viên trung tâm Cố vấn Việt Minh, Vi Quốc Thanh thư ký, Đặng Nhất Phàm (Deng Yifan) phó bí thư.

Trong thời gian này Đại sứ Hoàng Văn Hoan làm một chuyến đi đặc biệt đến Bắc Kinh, trước khi đi có cuộc họp nhóm Cố vấn quân sự và quân đội nhân dân Việt Nam, đề cử một Cố vấn cùng đi Bắc Kinh với Hoàng Văn Hoan. Lệnh bí mật Trương Vân Dật (Zhang Yunyi) phụ trách cánh quân chủ lực Quảng Tây vượt biên giới vào Việt Nam, Lý Thiên Hựu (Li Tianyou), Mạc Văn Hoa.v.v… quan tâm, hỗ trợ Cố vấn trước khi hợp lực với quân đội Việt Nam, và sắp xếp nhân viên bảo vệ trên đường đi công tác ở nước ngoài (VN). Ngày 9  tháng 8  năm 1950, quân đội Nam Ninh khởi hành đi qua các huyện Đồ Kinh, Điền Đông, Bách Sắc, Thạnh Tây vào lúc bình minh ngày 12 tháng 8, đoàn quân tiến vào tỉnh Cao Bằng Việt Nam thành lập quân trại chuẩn bị chiến tranh tại biên giới với quân Pháp.

Các nhà lãnh đạo Trung Cộng giao nhiệm vụ cho những Cố vấn tại Việt Nam.

Gồm có hai Tập đoàn Cố vấn quân sự “Huynh Đệ” và chính trị “Thân Thiện”, tập hợp thành một lực lượng bí mật gọi là “Tập đoàn Cố vấn BCT/TQ”, đây là lần đầu tiên trong lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Quốc, có kinh nghiệm trong phong trào Quốc tế Cộng sản được thành công trên mặt quân sự và chính trị tại Việt Nam, trong cuộc cách mạng lâu dài của đảng Cộng sản Trung Quốc, mặc dù quân đội đã tích lũy được kinh nghiệm phong phú trong cuộc đấu tranh, nhưng để sử dụng những kinh nghiệm quân đội tại quốc gia Việt Nam rất phức tạp, một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Nhóm Cố vấn hoạt động hiệu quả thể thực được hiện vụ quốc tế, chịu trách nhiệm cho việc hoàn thành các nhiệm vụ chủ yếu, sẽ có tác động trực tiếp đến cuộc chiến tranh Việt Nam chống Pháp, các vấn đề chủ yếu của quan hệ song phương. Quân ủy Trung ương Trung Cộng (CPC) coi rất trọng ủy ban Cố vấn Việt Nam. Vì lý do này, việc thành lập ban đầu của Tập đoàn Cố vấn. Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức và các nhà lãnh đạo khác hội thảo và tổ chức một cuộc phỏng vấn vào ngày 27 tháng 6 năm 1950, ý nghĩa hơn Tập đoàn Cố vấn quân sự và Chính trị có nhiệm vụ làm việc theo phương pháp tư tưởng chỉ đạo, phong cách đảng được hướng dẫn sâu từng chi tiết.

Trong buổi thảo luận, theo yêu cầu tình hình đấu tranh giải phóng Việt Nam, Tập đoàn Cố vấn quân sự Trung ương (CPC) có hai nhiệm vụ:

Thứ nhất, giúp Việt Nam giành chiến thắng, đuổi quân xâm lược Pháp. Thứ hai giúp Việt Nam xây dựng một quân đội vững mạnh. Mao Trạch Đông nói: “Quân đội Trung Quốc đến Việt Nam, đầu tiên bằng mọi cách giúp giành chiến thắng. Thành lập bản doanh tập trung quân đội, sau đó chúng ta tấn công”. Lưu Thiếu Kỳ cho biết: Sau khi tập đoàn cố vấn giúp Việt Nam xây dựng một quân đội thường xuyên, và dần dần có thể thực hiện các hoạt động cách mạng quân sự, và các tổ chức phải giành chiến thắng trước cuộc chiến. Trận chiến đấu, sẽ có nhiều thương vong, cần đào tạo một số lượng lớn cán bộ”. Chu Đức nói: “Chúng ta phải giúp Việt Nam nâng cao chất lượng quân đội để giành chiến thắng trong mọi cuộc chiến”. Ông cũng cho rằng “nguyên tắc của chúng tôi là những gì quân đội phù hợp với những cuộc chiến. Tìm kiếm cơ hội chiến đấu, trong chiến tranh không thể sao chép cách tiếp cận ban đầu phải đấu tranh dũng cảm và thông minh, điều quan trọng nhất là thông minh, bởi vì kẻ thù có vũ khí mạnh hơn Trung Quốc. Phải giúp họ chiến đấu mạnh hơn kẻ thù, lấy nền tảng tâm lý chiến đãi ngộ tù nhân để đánh bại kinh nghiệm quý báu trước đối phương.

Những nhà lãnh đạo Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc chấp nhận đứng trước phỏng vấn, phát biểu quan điểm riêng của mình, cũng nhấn mạnh việc quy định trong hướng dẫn của Tập đoàn Cố vấn về thái độ công tác, phương pháp làm việc, phong cách ý thức hệ, đặc biệt là với phía Việt Nam để nâng cao tinh thần đoàn kết, đề xuất các yêu cầu nghiêm ngặt.

Nhóm cố vấn Trung Quốc đứng đầu Vi Quốc Thanh (Wei Guoqing-韦国清) (hàng thứ hai từ trái sang) và những thành viên quân sự trên chiến trường Đông Khê tỉnh Cao Bằng Việt Bắc.
Nhóm cố vấn Trung Quốc đứng đầu Vi Quốc Thanh (Wei Guoqing-韦国清) (hàng thứ hai từ trái sang) và những thành viên quân sự trên chiến trường Đông Khê tỉnh Cao Bằng Việt Bắc.

Trung Cộng lấy quyết định cướp nước Việt Nam qua hình thức chống quân Pháp.

Mao Trạch Đông trả lời trước báo chí: “Lúc trước tôi có ý định không muốn gửi đồng chí Hồ Tập Chương (Hồ Chí Minh) đến công tác ở Việt Nam vì có nhiều lý do tác động của Quốc tế Cộng sản, cuối cùng tôi lấy quyết định để đồng chí Hồ lãnh đạo Việt Nam, qua sự cam kết “Đầu tiên phải thực hiện chuyển tiếp tinh thần chủ nghĩa Quốc tế Cộng sản”. Cuộc cách mạng này chúng ta phải chiến thắng. Sau đó, chúng ta muốn giúp đỡ Việt Nam, được gọi là chủ nghĩa Quốc tế”.

Lưu Thiếu Kỳ cho biết: “Trung ương ra quyết định, tạo nguyên nhân chiến tranh Việt Nam là nơi đáng chú ý nhất của thế giới, để thực hiện công này chỉ có đồng chí Hồ Chí Minh đã quyết tâm và nhất định có ý nghĩa thế giới. Công việc này phải được thực hiện. Nếu chúng ta không giúp đỡ Hồ Chí Minh, kẻ thù sẽ ở lại đó, những khó khăn của chúng ta sẽ lớn, lớn hơn những rắc rối”.

Chu Đức cho biết: “Chúng tôi làm nghĩa Quốc tế, phải hỗ trợ cho Việt Nam là nhiệm vụ Quốc tế lớn, giúp tất cả để họ chiến thắng”. Mao cũng nhấn mạnh rằng “Những tập đoàn Cố vấn nên đào tạo cho các đồng chí Việt Nam như sự nghiệp của mình”.

Thứ hai, đồng chí Hồ Chí Minh thể hiện tinh thần đoàn kết, làm tốt công tác của mình. Mao Trạch Đông nói: “Đầu tiên quý đồng chí phải nâng cao tình đoàn kết với các đồng chí Việt Nam, đặc biệt là nâng cao tình đoàn kết với các nhà lãnh đạo Việt Nam. Lưu ý rằng họ có thể đoàn kết nhưng không muốn cộng tác”. Ông nói tiếp “Việt Nam là một quốc gia tốt, tình hình cách mạng phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây, chúng ta đướng trên điểm cao nhìn xuống thấp thấy lúc nhúc người Việt Nam đanh thực hiện cách mạng. Chúng ta cảm xúc chiến thắng đáng tự hào, khi chiến thắng tất cả những thứ ấy là của chúng ta, chúng ta phải đại diện Việt Nam trên trường Quốc tế”.

Lưu Thiếu Kỳ cho biết: “Chúng ta phải cẩn thận, không có bất kỳ dấu hiệu nào trái ngược, mọi người cũng cảnh giác và nhìn thấy. Sau khi quý đồng chí đến Việt Nam, từ trong ra ngoài đều giúp quân đội Việt Nam, chủ yếu khi cần dụng binh biển người, có nhiều nguy cơ gây ra sự hiểu lầm. Chúng ta cần tích cực đưa ra quan điểm để họ quán triệt quân sự, nhưng phải chú ý tránh ít lời chỉ trích, trình diễn là chính. Có cách nào tốt đẹp hơn để mọi người lựa chọn quyết định, họ có thể không lắng nghe ý kiến của chúng ta. Nhưng nếu mối quan hệ được thực hiện tốt, lời nói của chúng ta sẽ được thông qua.

Thứ ba, Mao Trạch Đông thực hiện một Việt Nam của Trung Cộng.

Mao Trạch Đông đề ra chỉ thị “Giúp đỡ Hồ Chí Minh, không dựa vào mơ tưởng hay suy nghĩ tưởng, chúng ta giúp đỡ dựa trên tình hình thích hợp và thực tế. Cần tham khảo ý kiến đúng đắn, trung thực, cẩn trọng với nhiều người, trị liệu những điều thiếu sót và sai lầm của người khác, có thể nói với Việt Nam chúng tôi cũng đã thất bại trong việc giới thiệu cho họ nhiều bài học, và nói ít hơn về “năm trở ngại”. Mao cho rằng “với sự giúp đỡ của người dân trong quá trình này, nên luôn luôn kiểm tra những lời họ nói và hành động, một lần một ngày, ba ngày, ít nhất một lần một tuần. Để xem lại những gì chúng ta đã làm đúng và những gì không làm được”.

Chu Đức phát biểu: “Trong các hành động quân sự, phải xuất phát từ thực tế và tìm kiếm sự thật từ những sự kiện, đừng quá vội vàng, chúng ta nên nói cho Việt Nam biết kinh nghiệm của chúng ta về sự thất bại, để họ lấy cảm hứng từ giáo dục này.

Thứ tư, Trung Cộng hỗ trợ Hồ Chí Minh cướp Việt Nam.

Mao Trạch Đông dạy Hồ Chi Minh rằng: “Lãnh đạo không nên có hành vi sai trái trong bài phát biểu của mình, cần hành động theo kinh nghiệm lịch sử của cách mạng Trung Quốc”. Mao Trạch Đông nói thêm “quan trọng cực kỳ trên con đường tự lực hỗ trợ cho Việt Nam, sự giúp đỡ của chúng ta không phải là cách duy nhất hãy nói với Việt Nam tiến hành tự lực. Kinh nghiệm chiến tranh cách mạng của Trung Quốc tiến hành tốt nhờ vũ khí của kẻ thù chống lại kẻ thù, Việt Nam cần dựa vào sản xuất vũ khí riêng của mình. Tự lực này là cuộc cách mạng của chúng ta để chiến thắng kẻ thù. Chúng ta có lựu đạn, có lòng dũng cảm, ép nó thất bại, hơn là sử dụng máy bay và pháo binh. Chúng ta giành chiến thắng trong cuộc chiến chống Pháp, lấy khẩu súng của đối phương thực hiện chiến thắng”.

Chu Đức cũng nhấn mạnh rằng “trong mọi trường hợp giúp Việt Nam xây dựng khu vực cơ bản ổn định, Việt Nam tuân thủ các nguyên tắc và tinh thần tự lực cánh sinh”.

Thứ năm, chúng ta nên thực hiện chuyển tiếp tinh thần làm việc chăm chỉ.

Mao Trạch Đông nói: “Tôi biết, gửi cho Việt Nam một nhiệm vụ cay đắng, những nhiệm vụ phải đối mặt với một cuộc chiến tranh rất khó khăn, nguy cơ đưa đến sự hy sinh. Vì vậy, suy nghĩ phải vượt qua những khó khăn trong việc chuẩn bị, chúng tôi không có ý định làm cho Việt Nam điêu tàn”. Mao nói tiếp: “Đồng chí Hồ Chí Minh đừng lo lắng khi trở lại Việt Nam, không chỉ để chuẩn bị vượt qua những khó khăn, thời gian quá rất ngắn để chuẩn bị đừng làm cho mọi người thất vọng”.

Lưu Thiếu Kỳ cho biết: “Thời gian cách mạng Việt Nam không quá nhanh, vì đối phương là chủ nghĩa đế quốc, tôi thấy ba năm chuẩn bị là cần thiết”. Chu Đức cũng cho biết: “đồng chí Hồ Chí Minh làm việc rất chăm chỉ, có chuẩn bị tinh thần, chúng ta là người Cộng Sản có thể chịu đựng khó khăn, có kế hoạch công việc khó khăn dài hạn.

Các nhà lãnh đạo Trung Cộng quan tâm thực hiện hỗ trợ tạo ra sứ mạnh cho Tập đoàn Cố vấn quân sự đương đầu trước cuộc chiến tranh chống Pháp. Hành động của Tập đoàn Cố vấn thực hiện hướng dẫn nhiệm vụ đúng chủ nghĩa Quốc tế Cộng sản, hoàn thành một nhiệm vụ lớn trên vai, đóng một vai trò rất lớn trong việc hướng dẫn cách mạng Việt Nam.

Thuyết phục các quân đoàn thực hiện chiến dịch biên giới Đông Khê (Dongxi) cho đến thắng lợi hoàn toàn. Nhóm Cố vấn quân sự Trung Quốc đã hiện diện trong lãnh thổ biên giới Việt Nam, ngay lập tức mở rộng cuộc chiến, quân binh các tuyến đường vận chuyển phục kích tạo ra tình huống thuận lợi chiến đấu chống Pháp.

Trung Cộng lập kế koạch mặt trận Đông Khê tại biên giới Việt Nam.

Tập đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc tích cực lập kế hoạch cho sự xuất hiện quân đội tại biên giới Việt Nam, trước khi bắt đầu trận chiến Hồ Chí Minh liên lạc Quân ủy Trung ương Trung Cộng (CPC) lấy quyết định đưa Quân khu Côn Minh vào chiến tranh do Trần Canh chỉ huy phó tư lệnh với tư cách đại diện Quân ủy Trung ương (CPC) tăng cường tấn công quân Pháp. Ngày 07 tháng 7 lại Côn Minh, Trần Canh gặp gỡ tham khảo thành lập trận chiến. Ngày 14 tháng 8, tăng cường quân đội Quảng Châu, thành lập doanh trại trước mặt biên giới Việt Nam, điều động quân binh do Nhóm Cố vấn quân sự Vi Quốc Thanh (韦国涛), trước hai ngày Hồ Chí Minh đã gặp gỡ lần thứ 28, chiến dịch biên giới nhanh chóng bắt đầu nắm bắt các kế hoạch cụ thể trước khi chuẩn bị chiến tranh.

Trần Canh, và Vi Quốc Thanh (韦国涛) cùng những thành viên ban Cố vấn tại chiến trường Đông Bắc, đang thụ lý một vụ án cưỡng dân liên quan đến tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái (黄文泰).
Trần Canh, và Vi Quốc Thanh (韦国涛) cùng những thành viên ban Cố vấn tại chiến trường Đông Bắc, đang thụ lý một vụ án cưỡng dân liên quan đến tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái (黄文泰).

Tổng lực sức mạnh quân đội Pháp ở Đông Dương có khoảng 23 triệu binh sĩ, trong đó có hơn 40.000 binh sĩ Pháp, phần còn lại là lính đánh thuê. Quân đội Trung Cộng có mặt tại miền Bắc Việt Nam hơn 70.000 quân binh, hơn 100 máy bay (máy bay chiến đấu và máy bay vận tải).

Cố vấn Trung Cộng quyết định tấn công vào mùa xuân, bắt đầu từ Thái Nguyên, cơ bản kiểm soát các khu vực sản xuất ngũ cốc sông Hồng. Quảng Tây, giáp biên giới Việt Nam, có 11.000 quân Pháp, phần lớn tập trung tăng cường phòng thủ dọc theo quốc lộ số 4. Tháng 5, binh sĩ Việt Nam đã đến Cao Bằng, bám vào thành trì nhỏ Đông Khê, giữa tháng 7 tấn công, nhưng không thành công. Kể từ đó, các đơn vị đồn trú của Pháp tăng cường sức mạnh quân sự Pháo binh tại Đông Khê và bảy thành trì khác.

Trung Cộng thành lập thêm những trung tâm huấn luyện tại Vân Nam, Quảng Tây, sau hơn ba tháng đào tạo, trang bị quân sự cho 308 sư đoàn, bổ sung vào năm đơn vị khác nhau, tổng cộng hơn 20.000 cố vấn quân sự trực tiếp kiểm soát cấp tiểu đoàn, tất cả tập trung gần Pháo binh của quân Pháp. Pháp huy động khoảng 2.000 binh sĩ Pháo binh, quân số Việt Cộng-Trung Cộng chiếm ưu thế tuyệt đối, tinh thần chiến đấu cao độ.

Trận chiến đầu tiên tại huyện Cao Bình tỉnh Cao Bằng, quân đội Việt Minh hợp tác với quân Trung Cộng, chuẩn bị thực hiện tấn công chống quân Pháp, trước tiên Trung Cộng vận động dư luận. Bắt đầu nghiên cứu chiến dịch mở, Trần Canh, Vi Quốc Thanh đồng ý với Nhóm Cố vấn, nên đánh chiếm Đông Khê (Dongxi), Đông Khê (Dongxi) bị quân Trung Cộng đánh phá nhưng chưa hoàn toàn thiêu hủy, sáng kiến chiến dịch mở, lòng toàn quân được vững chắc.

Tiếng súng bắt đầu từ xã Cao Bình tiến đến Đông Khê, quân Pháp tăng cường phòng thủ. Để thuyết phục cán bộ, Trần Canh, Vi Quốc Thanh triệu tập Cố vấn quân sự và chính trị họp lần thứ 24, cụ thể lấy Đông Khê làm điểm thuận lợi khởi đầu chiến tranh Đông Dương.

Vào giữa tháng 9, Tập đoàn Cố vấn thành hình kế hoạch chiến dịch biên giới Việt Nam-Trung Quốc, công việc chuẩn bị cơ bản đã hoàn thành. Trần Canh, Vi Quốc Thanh và Võ Nguyên Giáp chuyển về phía Đông của khu vực Đông Khê, lệnh tấn công Đông Khê.

Ngày 16 thang 9, một lần nữa tăng tốc tấn công vào căn cứ Đông Khê (Dongxi), lúc đầu tưởng rằng tiếp cận những công sự của địch sẽ chiến thắng nhanh chóng, nhưng cuộc chiến kéo dài đến 7 giờ sáng, các binh đoàn hậu vệ bao phủ phản công, các vị trí hàng đầu mở trở lại lực lượng tấn công. Tại thời điểm quan trọng này, Trần Canh đề cập cụ thể để hiểu rõ tình hình, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp cho rằng quân đội phải được đặt tại cửa Đông Khê dính liền vào nó như biển người, đề nghị điều chỉnh việc triển khai, sau đó thực hiện bốn vụ tấn công, tập trung vào mặt Bắc và Nam. Tập trung lực lượng tấn công một lần nữa, phát triển theo chiều sâu, chiến đấu đến 18:00 chiều, cuối cùng tiêu diệt quân địch tại đồn Đông Khê trên 270 thiệt mạng, thu giữ số lượng lớn vũ khí, đạn dược và thiết bị quân sự khác. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Cộng và Việt Cộng chiến thắng trước một đơn vị đồn trú của Pháp, các thành trì của đối phương từ đó nối tiếp thua trận. Vào thời điểm đó, Vi Quốc Thanh ngã bệnh với triệu chứng sốt và phải trở về điều trị tại huyện Long Châu. Lệnh từ Bắc Kinh, cố vấn Trần Canh chịu hoàn toàn trách nhiệm chiến đấu tại biên giới, giúp đỡ Hồ Chí Minh bảo vệ lực lượng Việt Minh. Cuối cùng cuộc chiếm Đông Khê được chiến thắng theo kế hoạch mở của Trung Cộng. Cho đến sau này người Việt Nam không thể hiểu trận chiến Đông Khê do Trung Cộng đánh bại quân Pháp, bởi vì trong quân sử Việt Cộng không ghi trận chiến này.

Sau trận chiến Đông Khê (Dongxi), Trần Canh, Hồ Chí Minh tìm kiếm các quan điểm trong trận chiến, Trần Canh trả lời: “Đông Khê chiến thắng xem đây là mẫu mực quan trọng, nhưng nó cần phải nói rằng đây không phải là một trận chiến thành công, quân Trung Quốc thương vong 587 binh sĩ, Việt Minh thương vong trên 1241 binh sĩ, tiêu diệt hơn 241 địch quân, một giá quá đắt “khi nói đến chiến đấu với vấn đề lực lượng quân sự không tương quan, như vậy không thể nói chiến thắng”, Trần Canh nói tiếp: “Một người lính dũng cảm, chính là sự thiếu kinh nghiệm chiến đấu sẽ tiêu hao binh sĩ, cho thấy trong danh sách có rất nhiều cán bộ chỉ huy quá kém, việc lựa chọn cán bộ cần phải có kinh nghiệm thực tế, cựu chiến binh chiến đấu là xương sống của chiến thắng.” Hồ Chí Minh nghe qua gật đầu.

Kế hoạch khởi đầu Thất Khê (七溪) đặt Đông Khê vào cuộc chiến Đông Dương, sau khi chiến thắng Trần Canh phối trí lại lực lượng, đội hình Thất Khê (七溪), lực lượng quân đội tấn công Đông Khê rõ ràng là khó khăn. Như vậy, sau khi Trần Canh và Hồ Chí Minh, nghiên cứu. Trái lại Võ Nguyên Giáp, hủy bỏ kế hoạch tấn công Thất Khê (七溪), phía Nam thay đổi phục kích Đông Khê, để quét sạch kẻ thù. Tại thời điểm này Năm tiểu đoàn quân Pháp tấn công Thái Nguyên, trực tiếp đe dọa sự an toàn của chiến khu, nơi đây cơ quan đầu não Việt Minh cũng là nơi đồn trú của chính phủ Hồ Chí Minh. Một số cán bộ đề xuất đánh du kích. Trần Canh dứt khoát không để Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp đánh theo lối tấn công du kích, dùng mưu mẹo để chiến thắng. Trần Canh phản đối: “Như thế quân đội ta có tính đảm bảo sự an toàn cho đối phương để rút về phía Nam Cao Bình, chiến tranh không lừa được địch, khác nào nhiệm vụ của sư đoàn làm sơ đồ hành động của địch”. Trần Canh đã dự kiến, kẻ thù nhất định rơi vào Thất Khê (七溪). Trần Canh cam kết, ngày 30 tháng 9 – 30 tháng 10 kẻ thù ở phía Bắc sẽ từ bỏ thị trấn Cao Bình. Quân đội Pháp nỗ lực chiến đấu sau bảy ngày bỏ Đông Khê được xem xóa sổ tại đây.

Ngày 04 tháng 10 năm 1950, tại Tây Nam thung lũng núi Đông Khê. Trung Cộng đụng độ với quân Pháp, trong vụ tấn công lần này liên tục bốn ngày thương vong 308 binh sĩ, phải đối mặt với một cuộc chiến tranh khó chịu hoặc bị Pháp kiên quyết nghiền nát. Tại thời điểm quan trọng này, Trần Canh điện đàm với Võ Nguyên Giáp: “Cuộc chiến này không chiến đấu không chiến đấu để chiến đấu,” ngay lập tức Trần Canh chửi Giáp “Nếu lệnh bị rung động sẽ làm hỏng cuộc chiến trước giờ chiến thắng.” Sau khi treo điện thoại, ngay lập tức ông báo cáo với Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh hy vọng sẽ khuyến khích các sĩ quan, và xác định tồn tại để chiến thắng cuối cùng, tập trung xóa sổ quân Pháp, sau đó quét sạch quân Pháp tại Đông Sắc, thắng lợi hoàn toàn giành chiến thắng trong trận chiến. Hồ Chí Minh hoàn toàn đồng ý với quan điểm của Trần Canh, ngay lập tức ban hành một cuộc gọi khuyến khích “Luôn luôn kiên quyết quét sạch kẻ thù và chiến thắng.” Trong chiến đấu quân đội cần kiên quyết đến cùng, không để tình hình chiến trường trở nên tồi tệ. Đến tháng 7, Việt Minh-Trung Cộng chia sẻ một kẻ thù đứa đến quân Pháp hoàn toàn bị xóa sổ trại quân Giả-Đốc Cao Bằng. Đầu tiên tập trung xóa sổ quân Pháp, sau đó lập tức quét sạch quân đoàn Đông Sắc, hoàn chỉnh chiến thắng giành chiến thắng.

Tại biên giới có tám tiểu đoàn quân Pháp bị xóa sổ, hơn 8.000 binh sĩ, quân Trung Cộng giải phóng khu vực rộng lớn tại biên giới Trung-Việt, các tuyến đường giao thông tiếp tục mở sang Trung Quốc, phá vỡ bao vây của các căn cứ quân sự Pháp ở Bắc Việt Nam, Quân đội Trung Cộng có một biên phòng lớn và cơ động. Đến ngày 23 tháng 10, đóng quân trên một trăm km biên giới, quân Pháp đã rút khỏi Lạng Sơn, Cao Bằng, Đình Lập, An Châu, và những nơi khác đã được sơ tán đến nơi an toàn gần bờ biển. Tình hình chiến tranh Việt Nam theo đó bước vào ngoặt lớn, từ phòng thủ thụ động để tấn công bởi các du kích quân, mở ra một giai đoạn chiến dịch du kích với sự kết hợp của chiến lược chủ động và hành động.

Đặc biệt Hồ Chí Minh rất hài lòng, tổng kết các cuộc trận chiến, ông cho biết: Trung Cộng đã thực hiện được hai chiến thắng, một là tiêu diệt địch, giải phóng Cao Bằng, Đông Khê, và những nơi khác. Thứ hai Trung Cộng đã thấy những ưu điểm và nhược điểm riêng của mình. Trần Canh nhấn mạnh rằng: “Chiến thắng trong trận chiến biên giới là một trong những chiến thắng lớn nhất kể từ cuộc chiến tranh Việt Nam, chiến thắng của chủ nghĩa quốc tế vô sản”. Tập đoàn Cố vấn quân sự Trung Cộng hoạt động đầu tiên tại Việt Nam, sau khi chiến thắng được sự tín nhiệm của Quân đội Việt Minh, Cố vấn Trung Quốc cùng làm việc chung với Việt Minh. Ngày 01 tháng 11, đánh dấu Trần Canh hoàn thành nhiệm vụ đầu tại Việt Nam.

Sau bốn cuộc chiến tranh đồng bằng Tây Bắc, Trung Cộng chỉ đạo định hướng chiến lược.

Theo báo cáo trận chiến biên giới đã đạt được một chiến thắng vĩ đại. Trung Quốc manh nha quan điểm vùng tự trị Việt Nam, tuy quân đội Pháp vẫn còn trên đất nước Việt Nam và chiếm rất nhiều lợi thế, kiểm soát phần lớn của khu vực phía Nam và miền Trung, ở phía Bắc vẫn đang kiểm soát các khu vực sản xuất ngũ cốc tại đồng bằng đông dân và chiến lược miền núi Tây Bắc. Quân Pháp đã cố gắng để tái chiếm các khu vực biên giới phía Đông Bắc để duy trì một cuộc chiến tranh với Trung Cộng đang khởi đâu xâm lược Việt Nam, nhưng Pháp đã bất lực.

Ngày 06 tháng 12 năm 1950, Pháp gửi quân đội Liên minh Tây Âu, Jean de Lattre de Tassigny, Tư lệnh quân đội chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp. Tướng Tassigny vừa nhậm chức ngay lập tức ném ra một “kế hoạch bốn điểm” làm trung tâm tập trung đội quân tinh nhuệ Châu Âu, thành lập một lực lượng cơ động mạnh, ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, và xây dựng công sự vùng đồi để ngăn chặn quân đội Trung Cộng tấn công, các vùng lãnh thổ bị Trung Cộng chiếm đóng và tăng cường các cuộc tấn công du kích, thực hiện cái gọi là “chiến tranh toàn diện”.

Dưới tình hình đoàn kết các nhà lãnh đạo Việt Minh và các nhà lãnh đạo của Tập đoàn Cố vấn Trung Cộng đồng nghiên cứu chung một chiến thuật, xác định các vùng đồng bằng Bắc Bộ và vùng đồi núi, sau đó chọn phần yếu của địch, thực hiện tấn công kẻ thù. Kế hoạch được thực hiện thông qua đồng ý của Quân ủy Trung ương Trung Cộng (CPC), và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Thứ nhất trận chiến vào ngày 25 tháng 12 năm 1950, trận đầu tiên chiến đấu tại vùng trung lưu đồng bằng sông Hồng (gọi là trận chiến Trần Canh), rộng 30 km phía Bắc Hà Nội, tấn công kẻ thù tại Vĩnh Phúc và ngã ba tỉnh Bắc Ninh, sử dụng chiến thuật nhanh chóng tấn công, thậm chí một khắc, kẻ thù bất ngờ, sau đó tập trung vào năm nhóm mở cuộc tấn công mới vào cánh trái khu vực phía Bắc, đến ngày 17 tháng 1 năm 1951 kết thúc. Chiến dịch xóa sổ ba tiểu đoàn địch quân, hơn 1.547 binh sĩ, thương vong. Quân đội Trung Cộng-Việt Cộng 2957 binh sĩ thương vong, gọi là “chiến dịch Trần Canh”.

Thứ hai trận phía Đông Bắc gọi là (Trận chiến thăm dò vàng). Từ ngày 20 tháng 3 – ngày 7 tháng 4, mở rộng trên 30 km về phía Bắc Quốc lộ 18 Hải Phòng và lân cận, bắt đầu bí mật tiến hành một số vị trí tấn công vào quân đội Pháp vì muốn bảo đảm hậu cần trong trận đánh, Trung Cộng thiệt hại thương vong hơn 1.700 binh sĩ, và 1175 tù binh.

Thứ ba trận chiến ngày 28 tháng 5 – ngày 20 tháng 6 (phía Việt Nam gọi là chiến dịch ánh sáng) diễn ra tại Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, ngoài địa lý khu vực Ninh Bình, tiến quân chiếm được 10 thành trì từ đoạn Nam đến Ninh Bình, giai đoạn tấn công thứ hai của các vị trí không thành công, bị nhiều thương vong. Cuộc chiến tranh đã quét sạch 3100 binh sĩ, hơn 22 thành trì bị thất thủ.

Chiến trường giữa dòng, Đông Bắc và Ninh Bình, Quân đội Trung Cộng tung ra lực lượng đầu tiên tấn công quân Pháp khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam, Trung Cộng tăng cường mạnh mẽ trong những ngọn đồi và đồng bằng Bắc Bộ, trong đó xóa sổ hơn 6.045 quân binh, quân Pháp cũng tiêu thụ rất nhiều năng lượng của phía Trung Cộng. Bởi vì người Pháp có một dòng mạnh mẽ của thành trì quốc phòng và cơ sở, trang thiết bị kỹ thuật tuyệt vời và điều kiện giao thông, cung cấp súng đầy đủ cho chiến tranh, ưu thế trên nhờ vào quân kỵ binh, tập trung bổ sung lực lượng kịp thời chiến đấu. Trung Cộng chiến đấu yếu kém hoặc do tình hình không kịp thời nắm bắt đưa đến sự tiêu hao binh mã, hoặc dân tộc VN không hưởng ứng lực lượng Hán có tính xăm lăng, quân Pháp làm thay đổi tương quan lực lượng, Trung Cộng không thể hoàn thành đúng tiến trình như Bắc Kinh mong đợi, tất nhiên trận chiến tự nó xa lý tưởng biển người của Trung Cộng.

Quân đội nhân dân Trung Quốc tổ chức lại tư lệnh chiến trường Việt Nam, mở ra nhiều chiến dịch, do các nhà lãnh đạo Tập đoàn Cố vấn chỉ huy như Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sanh (Mei Jiasheng), Đặng Nhất Phàm, Nguyễn Sơn. Theo bản tóm tắt trận chiến của Tập đoàn Cố vấn quân sự, Trụ sở chính được phân phối bí mật, đồng thời khẳng định những thành tựu và kinh nghiệm thành công, tập trung rút ra bài học hữu ích từ một số trở ngại. Trong sự hiểu biết của Tập đoàn Cố vấn, nắm bắt được luật khách quan từ chiến trường Việt Nam, có ý nghĩa lớn để hiểu rõ thêm quân đội nhân dân Trung Quốc, hiên trên vùng địch có đồng bằng, địch nặng về bảo vệ có kinh nghiệm chiến đấu quy mô tinh thần nhạy cảm. Trung Cộng giúp phía Việt Nam để thực hiện chiến trường thực tế, hướng dẫn chiến lược để hiển thị thêm đạt được chiến thắng lớn.

1

Sau bốn cuộc giao tranh với quân Pháp tại đồng bằng Sông Hồng. Tập đoàn Cố vấn quân sự giúp đỡ quân đội Việt Nam tiến hành đào tạo những đơn vị thiện chiến, đồng thời mở rộng vùng quân sự, Việt Cộng sẽ bố trí lại quân số, lực lượng chính quy đằng sau chiến trường của dòng kẻ thù tại đồng bằng Sông Hồng, khôi phục lại cơ sở du kích, mạnh mẽ thực hiện chiến tranh du kích. Phía quân đội Việt Nam thông qua đề nghị này, các vùng đồng bằng phía sau chiến tuyến địch, nay phát triển du kích.

Tháng 1 năm 1952, Pháp gửi Sharon sang Việt Nam thay nhiệm vụ của Tasini, chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, cuối tháng 12 năm 1951 đến cuối tháng 2 năm 1952, Quân đội nhân dân Trung Cộng tổ chức “chiến dịch hòa bình”, nhằm phục hồi và phát triển các căn cứ du kích, tiêu diệt một số phần quân đội Pháp. Quân Pháp nỗ lực nghiền nát, cắt đứt các đường chiến lược phiá Bắc đến phía Nam, trận chiến thắng lợi đáng kể nghiêng về quân Pháp. Sau đó Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sanh (梅嘉生) tiếp tục đào tạo Việt Minh, hơn 3 tháng tổng hợp công tác thành quả, nhờ sự giúp đỡ mặt trước chiến trận Trung Cộng an tâm. Những cố vấn Trung Cộng vẫn tiếp xúc đào tạo cán bộ Việt Minh, thấu hiểu tình hình cuộc chiến và thực hiện các khuyến nghị cần thiết.

Cuối năm 1951 đến đầu năm 1952, theo chuyên gia cố vấn Trung ương và các hướng dẫn Quân ủy Trung ương Trung Cộng (CPC), ràng buộc miền đồng bằng Việt Nam và bốn khu giải phóng tiếp tục nghiên cứu sự phát triển, thay đổi chiến thuật trên chiến trường Việt Nam, Quân ủy Trung ương Đảng, Ủy ban quân sự Trung ương đề xuất di chuyển chiến lược về phía Tây Bắc khu vực, đề nghị “nghiên cứu trường hợp tiếp cận kẻ thù phía Bắc”, đến “1952 nhiệm vụ cuối cùng hướng dẫn dư luận chiến tranh.

Tây Bắc Việt Nam có dân tộc thiểu số sinh sống, núi cao, rừng rậm, dân cư thưa thớt, làm cho Việt Nam và Lào, bị tắc nghẽn trong tam giác ba biên giới, ở đây có một vị trí chiến lược quan trọng. Tập đoàn Cố vấn tin rằng sự giải phóng vùng Tây Bắc có thể nâng các mối đe dọa của các cơ sở Bắc Việt Nam, không thể tiếp cận chiến tranh trong khu vực rộng lớn hơn. Hỗ trợ hậu cần chiến đấu phía Tây Bắc, di chuyển quân nhất định khó khăn, hướng dẫn và vận động quân đội cẩn thận, lên kế hoạch cho công việc chuẩn bị, vấn đề này có thể được giải quyết. Người Pháp đã luôn luôn coi Tây Bắc như một “vùng an toàn”, quân đội đồn trú thậm chí có tám tiểu đoàn, đơn vị đồn trú tại 141 địa điểm, mỗi cơ sở hơn 1-2 tiểu đội, thậm chí ít hơn bởi chỉ 1-2 tiểu đội, hầu hết quân binh con rối, đánh nhau không mạnh.

Các khuyến nghị của Tập đoàn Cố vấn cho rằng nhiều cán bộ, báo chí, bao gồm cả một số lãnh đạo cấp cao có quan điểm khác nhau, nhấn mạnh nhiều khó khăn, nhưng cũng có rất nhiều mối quan tâm. Tập đoàn Cố vấn Trung Quốc và Hồ Chí Minh xác nhận một cách rõ ràng, trong các cuộc họp cần nắm lấy chủ động, các mối quan tâm, kiên nhẫn thuyết phục, cuối cùng đạt được sự đồng thuận từ trên xuống dưới. Tháng 4 năm 1952, Đảng Bộ Chính trị Trung Cộng tạo ra một lực lượng hướng chiến lược chuyển đến vùng núi Tây Bắc, tổ chức chiến đấu giải quyết Tây Bắc. Đồng chí Hồ Chí Minh yêu cầu Cố vấn thực hiện chiến thuật càng sớm càng tốt, hầu giúp Trung Quốc xây dựng kế hoạch chuẩn bị hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu Tây Bắc. Quân ủy Trung ương (CPC) thông qua phục hồi chiến tranh, chỉ thị: Tây Bắc tiếp cận nhân dân “ổn định trước khi chiến tranh”. Tập đoàn Cố vấn hỗ trợ tiền trạm thiết lập nơi đồn trú cho quân đội, và công binh Sơn La, sau khi giải phóng Lai Châu có kế hoạch hoạt động tâm lý chiến trong dân, báo chí giúp huy động giáo dục, đào tạo, hỗ trợ hậu cần và các chế phẩm chiến tranh.

Ngày 10 tháng 10, các bộ phận báo cáo, có 30.8312 binh sĩ của tám trung đoàn tiến quân về phía căn cứ Tây Bắc. Lãnh đạo Tập đoàn Cố vấn bí mật di chuyển quân đến khu vực lắp ráp quân đội, rải lưới tấn công quân Pháp, giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh vào ngày 23, kiểm soát 31 vị trí, 1.012 kẻ thù bị giết và thương, hơn 700 tù binh. Quân đội nhân dân Trung Cộng bị thương vong 947 binh sĩ.

Mối đe dọa mới chưa dỡ bỏ tại Yên Bái, Phú Thọ, vẫn còn yên tĩnh, cũng là nơi mở cửa vào biên giới Lào, những địa danh này đang thực hiện chiến tranh du kích. Phía Bắc vùng Hắc Thủy, Quân đội nhân dân Trung Cộng đã bắt đầu giai đoạn hai, hoạt động theo chiến dịch Tây Bắc, từ ngày 15-ngày 06 tháng 11 vượt sông Hắc Thủy, sau sáu ngày đêm chiến đấu tiêu diệt nhiều kẻ thù, giải phóng thị trấn Bằng Gỗ, An Châu, Thuận Châu.

Ngày 22 tháng 11, quân Pháp từ bỏ Sơn La, tám tiểu đoàn rút lui dài 20 km về phía Nam của Sơn La. Sau đó, quân Pháp bổ sung hai tiểu đoàn dù, hậu vệ có 7.000 binh sĩ, nhằm cố gắng không để bị tiêu thụ quân số, có cơ may tạo ra sức mạnh mới. Vi Quốc Thanh cho rằng trận chiến mới đang diễn ra chưa thuận lợi, cần tham khảo ý kiến với Quân ủy Trung ương Trung Cộng (CPC)và phía Việt Nam, tạm ngừng các cuộc tấn công, đến ngày 10 tháng 12, trận chiến Tây Bắc kết thúc trong chiến thắng.

Trong cuộc chiến ở phía Tây Bắc Quân đội nhân dân Trung Cộng đã bị xóa sổ 380.000 binh sĩ, giải phóng khoảng 28.500 cây số vuông vùng núi, và 25 triệu nhân dân Việt Nam (1950), giải phóng được vùng Tây Bắc, thêm vào đó tại tỉnh Sơn La và nửa phía Bắc của tỉnh Lai Châu, tất cả dưới sự kiểm soát của quân đội nhân dân Trung Cộng-Việt Cộng. Tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho Lào trong chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến thắng tiếp theo trong nhiều chiến trận.

Huỳnh Tâm

Tham khảo:

[1] http://www.wenxue100.com/baokan/33551.thtml

Huỳnh Tâm - Giải mã nhân vật Hồ Chí Minh