Hàn Mặc hay Hàn Mạc

Những người không quan tâm lắm về văn học, nhất là chỉ ưa nghe bài hát Hàn Mặc Tử của Trần Thiện Thanh, chắc là không để ý gì Hàn Mặc hay Hàn Mạc.

Vừa đây, khi tôi tìm bài thơ “Ký Nội” của Cụ Phan trên ThiViện.net mà không thấy, bèn “đi” lang thang qua Hàn Mặc Tử, đọc lại các bài viết về Hàn Mặc Tử, trong đó có bài của Quách Tấn – bạn thân của Hàn Mặc Tử – viết từ hồi 1956 -, thì thấy vừa buồn cười, vừa vui cho cái thời tôi còn ngồi trên ghế nhà trường, làm “mầm non văn nghệ” cho báo Mùa Lúa Mới và Ý Dân ở Huế.

Hồi đó, Hội Văn Hóa Thành Phố Huế bắt đầu hoạt động, thường tổ chức nhiều buổi “lễ kỷ niệm” các vị văn nhân, lịch sử đã qua đời như “Kỷ Niệm Nguyễn Du”, “Kỷ niệm Phan Bội Châu… Nhiều nhân vật nổi tiếng của Huế trong giới trí thức và văn học, giáo dục… làm diễn giảng, như linh mục Cao Văn Luận, bác sĩ Lê Khắc Quyến, giáo sư Lê Hữu Mục, Võ Long Tê, thi sĩ Quách Tấn, thi sĩ Hoàng Diệp (anh bà Hoàng Thị Kim Cúc – một trong “Những người đàn bà kinh qua cuộc đời Hàn Mặc Tử” tên một đề tài thuyết trình trong buổi lễ kỷ niệm Hàn Mặc Tử – tôi không nhớ tên tác giả – v.v…

Dĩ nhiên, Hội Văn Hóa Thành Phố Huế có tổ chức “Lễ Tưởng Niệm Hàn Mặc Tử” nhân ngày ông qua đời. Hình như ông qua đời năm 1941, tôi không nhớ ngày ông vĩnh viễn “ra đi”.

Nhiều người lên diễn đàn nói hay lắm – dĩ nhiên tôi phải đi nghe chớ! – Thi sĩ Hoàng Diệp thì nói về “chuyện tình” giữa Hàn Mặc Tử và em gái ông, thi sĩ Quách Tấn nói về những kỷ niệm thân thiết về tình nghĩa bạn thơ giữa hai ông thi sĩ.

Và giáo sư Lê Hữu Mục thì nói về bài thơ “Maria linh hồn tôi ớn lạnh…”, v.v… Và mấy vị khác thì nói về Hàn Mặc Tử trở về với Thiên Chúa, được Chúa cho về “Nước Thiên Đàng” (Chớ không cho hết bệnh cùi – câu nầy tôi mới viết thêm mà thôi).

Hồi đó, tôi không biết gì, nghe hay thì thấy hay, và cảm động, và nhất là thương cho Hàn Mặc Tử khi ông sống “cô đơn” trên bãi biển Qui Hòa, lây lất qua ngày tới khi bệnh đã nặng lắm rồi thì đành phải vô “Nhà Thương Phung”.

Chuyện tình giữa ông với Mộng Cầm, với Mai Đình, với Kim Cúc… bây giờ nghĩ lại, “thấy” là chuyện “tào lao”, “lãng mạn cũng như lãng xẹt” vậy thôi mà “Thế nhơn ơi!”

Gia đình Nguyễn Trọng Trí, tên thiệt của Hàn Mặc Tử, mới “theo đạo” từ đời ông thân sinh, trước đó là người lương, cũng có lẽ có cái truyền thống đạo Phật như nhiều người Việt Nam khác, của dân tộc Việt Nam mà không thuộc thành phần vô sản. Vì vậy, trong thơ Hàn Mặc Tử, có ít nhiều tư tưởng nhà Phật, như “từ bi” chẳng hạn… Ví dụ trong bài thơ “Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh!…” lại có câu “Chiếu rọi khắp ba ngàn thế giới!” Ba ngàn thế giới là quan điểm của Phật về vũ trụ quan.

Vậy mà trong suốt buổi lễ kỷ niệm, chẳng ai nói về đề tài ấy cả! Người ta “kỵ jeux” hay sao? Bởi vì Hội Văn hóa Thành Phố Huế gồm chủ yếu là linh mục Cao Văn Luận, giáo sư Lê Hữu Mục (Thiên Chúa giáo), Võ Long Lê, giáo sư (Thiên Chúa giáo)… Thời bấy giờ, chủ trương lấy tôn giáo (Thiên Chúa giáo) chống “Cộng Sản vô tôn giáo”! Đạo Thiên Chúa được “quảng bá”, tuyên truyền. chiêu dụ, ép buộc… khắp miền Nam. Người ta còn chủ trương “vì không tôn thờ một đấng tạo hóa” nên “đạo Phật không phải là một tôn giáo”, thậm chí còn cho rằng “đạo Phật không chống Cộng” trong “quốc sách” của Ngô Đình Nhu: “Chống Cộng là yêu nước” nữa mà!

Quả tình hồi đó, tôi “chẳng biết mẹ” gì cả. Nghe có diễn thuyết thì đi nghe, hay thì hoan hô, v.v… Sau nầy, càng ngày càng thấm, vừa qua lịch sử, qua sách báo, và qua kinh nghiệm sống, qua chống Cộng, qua “tù Cải Tạo”, tôi mới “sáng mắt ra”…

Thiên hạ thật là “tào lao” !!!!!!!

Hôm đi nghe về, ngồi ăn cơm với ông chú họ! (tôi làm précepteur nhà nầy. Huỳnh Hữu Tuệ với Huỳnh Hữu Ủy là hai “đứa” thường bị tôi gõ đầu bắt học bài).

Ông chú họ tôi là người sinh vào đầu thế kỷ 20, cái thời mà Trần Tế Xương bảo là “Bỏ bút lông đi nắm bút chì!” , rất thông minh, ông học rất giỏi chữ Nho, nhưng chữ Nho thì triều đình bỏ thi, chữ Quốc Ngữ thì ông học không tới nơi. Ông đúng là con người của “lỡ thời” như Trần Tế Xương vậy.

Tôi không nói “dốc” (?)đâu!!!
Thi sĩ Phan Văn Dật, khi làm giáo sư ở Viện Hán Học Huế, thường bảo học sinh “Đến xin gặp ông Hiến, ông giảng thêm cho.”
Ông Hiến, tên đầy đủ là Huỳnh Hữu Hiến, anh cậu cô của thân phụ tôi. Có lần ông chê thân phụ tôi “dốt” (chữ Nho) hơn ông.

Ông Huỳnh Hữu Hiến là một trong nhóm người “theo cụ Ngô” khi cụ còn “lê gót” nơi quê người (câu trong bài hát “Suy tôn Ngô Tổng Thống” của Nguyễn Hiền). Đứng đầu nhóm nầy là Cụ Võ Như Nguyện, con trai nhà cách mạng Võ Bá Hạp. Tôi gọi là nhóm vì họ chỉ có mấy “ngoe”. (xin lỗi), nghĩa là ít người lắm, ngo ngoe như mấy cái chân con cua, không làm được gì “đại sự”, ngoài việc lo “an táng cụ Phan”, “xây lăng cho cụ Phan”, lo “kỵ giỗ hằng năm cho cụ Phan” (Có thể – tôi nói có thể – trong bụng còn sợ Tây “để ý” khi Tây còn đô hộ nước ta). Họ theo cụ Phan nên từ đó mới “theo Cụ Ngô” vì Cụ Ngô, – qua Cụ Phan- , được Kỳ Ngoại Hầu Cường Để đang lưu vong ở Nhật, chọn làm “đại diện” cho “Hầu” ở Việt Nam. Phần đông nhóm nầy “theo Cụ Ngô” là vì tinh thần cách mạng, nói rõ hơn là chống Tây đô hộ nước ta, không ai là người “có đạo Thiên Chúa” mà lại là Phật Tử, thường đi chùa, như Cụ Võ Như Nguyện. Họ “vô ra” nhà Cụ Ngô, gặp “Cậu Cẩn” là vì lý do hay tình nghĩa như thế! Những buổi họp mặt ít ỏi như thế là dịp giỗ kỵ tại nhà cụ Ngô hay để trao đổi tin tức về Cụ Ngô, chuyện trò khi Cụ Ngô còn ở bên Mỹ, chờ dịp về nước “chấp chánh”. Nhà Cậu Cẩn khi ấy, cũng rất ít người “vô ra”, kể cả “dân có đạo Phú Cam”. Họ sợ Tây. Nhà Cậu Cẩn là mục tiêu theo dõi của Mật Thám Tây!

Đang ăn cơm, ông chú hỏi tôi: “Bựa ni nghe cái chi?”
Tôi trả lời: “Ông Mục, Ông Tê (đang dạy Pháp Văn cho Tuệ ở Trường Nguyễn Tri Phương) nói về Hàn Mặc Tử!” Ông chú tôi cười, không nói gì. Có lẽ ông nghĩ tới việc ông đang bị chiêu dụ “vô đạo Thiên Chúa” hay chăng!? Hôm trước, cũng lúc đang ăn, bỗng ông nói: “Tao theo Cụ Ngô là vì chống Tây. Thằng Tây mắt xanh mũi lõ. Chúa cũng mắt xanh mũi lõ, bắt tao thờ Chúa làm răng (sao) được”. Có tin trong gia đình (chú tôi) nói rằng ông sắp đi làm quận trưởng một quận ở Bình Định, nhưng ông không chịu đi – khi đó, Cụ Võ Như Nguyện đang làm tỉnh trưởng tỉnh nầy, sau đó Cụ Nguyện đắc cử dân biểu tỉnh nầy, rồi Cụ lại xin từ chức dân biểu, về làm giáo sư Viện Hán Học Huế, khi viện nầy mới khai giảng niên khóa đầu tiên.

Không biết Tuệ hay Diêu (chị của Tuệ) học trò Đệ Ngũ Trường Đồng Khánh nói: Cô Như Nguyện giảng cái tên Hàn Mặc Tử là “con muỗi chết trong nghiên mực (Tàu).” Cô giảng đúng như thế thật hay học trò nghe “ba chớp ba nháng”. Tôi không chắc!

Ông chú tôi cười:
-Giảng cho học trò mà giảng bậy không!”
Rồi ông giảng từng chữ:
-“Hàn là nghèo như chữ “Hàn nho” – Người học trò nghèo – (Tôi có học hài “Hàn Nho Phong Vị Phú” của Nguyễn Công Trứ -)
“Mặc” là mực. (Tranh “thủy mặc” – tôi hiểu như thế). “Tử” là con. Ông chú tôi nói. “Ai chẳng biết! Cách đọc chữ Nho đôi khi cũng “trại, trại” khác nhau, nhưng khi viết, phải viết cho đúng.”

Từ đó, khi nào tôi cũng nói hay viết là Hàn Mặc, không bao giờ là Hàn Mạc vì tôi cho rằng, ông Nguyễn Trọng Trí chọn bút danh Hàn Mặc Tử, có nghĩa ông tự cho ông là con (Tử) nhà nghèo (Hàn) nhưng theo đòi nghiên bút, văn chương (Mặc), chớ có con muỗi con ruồi chết trong nghiên mực Tàu như cô giáo văn chương Truơng Đồng Khánh giảng cho học trò đâu. Hàn Mặc Tử là người của tiền bán thế kỷ 20, cũng ít nhiều biết “Nho học”, nên biết cách chọn chữ cho mình khi đặt tên, nhất là khi chọn bút hiệu./

hoànglonghải

Đã xem 1169 lần

Chúng tôi nhận thiết kế website hoặc hướng dẫn tạo website riêng với giá phải chăng.
Xin liên lạc Email: baotoquoc@hotmail.com

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.