HỒ NGỌC ĐẠI SAI TỪ CĂN BẢN CỦA TIẾNG VIỆT

Rất đáng tiếc chúng tôi phải nói ngay ở đây là Hồ Ngọc Đại
đã sai từ đầu, sai từ căn bản của tiếng Việt. Hồ Ngọc Đại
đã quên hay đã không biết rằng TIẾNG VIỆT LÀ TIẾNG ĐƠN ÂM.
Tất cả người Việt mỗi ngày nói tiếng Việt có lẽ biết chắc
rằng tiếng Việt của họ là tiếng đơn âm, mỗi chữ mỗi tiếng
chỉ có một âm, một vần hay âm tiết. Tiếng Việt không giống
với tiếng Anh, tiếng Pháp là loại tiếng nói ĐA ÂM, mỗi chữ
mỗi tiếng có nhiều âm, nhiều vần.  Như vậy, tiếng Việt không
cần phải sử dụng các ô vuông, hình tròn, hoặc hình tam giác làm
phương pháp đếm số vần hay số âm tiết, gọi là counting syllables.
Thí dụ cụ thể “Tháp mười đẹp nhất bông sen” được tách ra
thành sáu tiếng rời. Tương đương với chữ Anh “Internationalism”
được tách ra đếm thành sáu vần hay sáu âm tiết là
(in-ter-na-tion-al-lism). Tiếng Việt đơn âm cả một câu “Tháp
Mười đẹp nhất bông sen” bằng với tiếng Anh đa âm chỉ một chữ
với sáu âm tiết hay sáu vần “Internationalism”.
Tiếng Việt có đặc tính cấu trúc ghép chữ hay ghép tiếng.
Trong cách nói và cách viết người Việt ghép một chữ với
một số chữ khác nhau để làm nên những chữ mới. Thí dụ, chữ
“như” ghép với những chữ khác để thành những chữ mới có ý
nghĩa khác nhau là “như ai”, “như chơi”, như hệt”, “như in”, “như
không”, “như là”, “như nguyện”, “như quả”, “như sau”, “như thế”,
“như thể”, “như thường”, “như trên”, “như tuồng”, “như vầy”, “như
vậy”, “như ý”; nếu người Việt cắt xén bớt chữ thì chúng ta
không biết được chữ “như” là “như nào?”
Hồ Ngọc Đại đưa ra cách dạy các học sinh mẫu giáo và lớp 1
bằng cách “từ âm đến chữ”; như vậy, rất khác với cách dạy
hiện tại là “từ chữ đến âm”.  Cách dạy “từ âm đến chữ” có
trở ngại ở một số chữ “đồng âm dị nghĩa” phát âm của chúng
giống nhau, nhưng có những ý nghĩa khác nhau. Thí dụ, chữ
“ba” cùng một âm tiết, nhưng có những nghĩa khác nhau như “cha,
bố, tên gọi, thứ bậc, con số”.  Cũng như chữ “hồ” cùng cách
phát âm giống nhau, nhưng có những nghĩa khác nhau là “bác
Hồ, họ Hồ, ao hồ, bình đựng rượu, hồ để dán, bã hồ xây
dựng, cổ áo có hồ cho cứng, chồn cáo, tiền xâu các con bạc
phải trả cho chủ xòng bạc. Có rất nhiều thí dụ cụ thể,
nhưng chỉ nêu ra đây vài thí dụ tiêu biểu thôi. Để khắc phục
trở ngại trong cách dạy tiếng Việt “từ âm đến chữ”, từ rất
lâu hệ thống giáo dục Việt Nam vẫn giữ vững cách dạy tiếng
Việt “từ chữ đến âm”. Học sinh có khả năng nhận dạng mặt
chữ trước khi nghe và biết âm thanh của chữ đó ra sao.
Hồ Ngọc Đại lập luận rằng “Mỗi lần phát âm chỉ được một
tiếng, thay mỗi tiếng bằng một mô hình để học sinh biết rằng
mỗi tiếng là một khối nguyên và được tách ra từ trong lời
nói.” Tất nhiên “mỗi lần phát âm chỉ được một tiếng, vì
tiếng Việt rõ ràng là tiếng ĐƠN ÂM. Tại sao Hồ Ngọc Đại thay
mỗi tiếng bằng một mô hình vuông, tròn, tam giác, v.v… mà
không thay vào hình vẽ minh hoạ. Thí dụ, Tháp Mười minh hoạ
bằng bản đồ khu vực Tháp Mười; Sen minh hoạ bằng bông sen; Hồ
minh hoạ Hồ Chí Minh, hay ao hồ, chồn cáo, v.v… Hơn nữa, có
quá ít các mô hình vuông, tròn, tam giác không đủ để thể
hiện được hết rất nhiều chữ Việt. Các học sinh nhỏ sẽ thắc
mắc tại sao cùng một hình vuông, tròn, tam giác mà nghe những
tiếng khác nhau?
Vẫn căn cứ theo Hồ Ngọc Đại, bài học đầu tiên là học
“TIẾNG”.  Học sinh mẫu giáo và lớp 1 lần đầu tiên biết được
và biết cụ thể dưới dạng một khái niệm khoa học “tiếng là
một khối âm toàn vẹn được tách ra từ chuỗi lời nói” thành
từng tiếng rời và mô hình hóa dưới dạng các vật thay thế.
Từ lập luận này, tất cả người Việt chúng ta nhận biết rằng
Hồ Ngọc Đại giảo biện. Tiếng Việt là tiếng Đơn Âm, mỗi một
tiếng có một vần hay âm tiết riêng biệt và đầy đủ. Từ rất
lâu hơn một trăm năm Tiếng Việt đã không bị vỡ vụn để Hồ
Ngọc Đại lên giọng trí thức rởm hay dởm nói rằng “tiếng là
một khối âm toàn vẹn”. Hồ Ngọc Đại còn nói “được tách ra
từ chuỗi lời nói”, có nghĩa là được tách ra từ một câu hay
nhiều câu. Quả thật, Hồ Ngọc Đại đã không biết tiếng Việt
có những câu rất ngắn và có một tiếng hay một chữ.  Thí
dụ, câu mệnh lệnh “Đi”, “Đừng”; câu xác định “Rồi”, “Được”;
câu phủ định “Chưa”, “Không”; câu nghi vấn “Hả?”, “Sao?” Với vài
ba câu thí dụ này, Hồ Ngọc Đại lấy đâu ra nhiều “tiếng” để
“tách ra từ một chuỗi lời nói”
Với học sinh mẫu giáo và lớp 1 người Việt, vì tiếng Việt
là tiếng mẹ đẻ nên chúng nói tiếng Việt đúng một cách tự
nhiên. Chúng biết nói đúng tiếng Việt trước khi học biết các
mặt chữ cái, cũng như các nguyên âm, nguyên âm kép, và các
phụ âm. Khi giảng dạy bảng chữ cái tiếng Việt, các thầy cô
giáo sẽ nói những chữ nào là nguyên âm và những chữ nào là
phụ âm. Đến khi học ráp vần, chúng sẽ biết chính xác chữ
cái, hay âm vị nào là nguyên âm hay phụ âm. Trái lại, Hồ Ngọc
Đại đã rất rườm rà khi nói khoa trương rằng “học sinh được
học cách lấy các âm từ trong tiếng với các thao tác phân
tích tiếng thành các đơn vị ngữ âm nhỏ nhất là âm vị.  Thí
dụ, tiếng Ba: b – a => ba”
Thật tức cười khi nghe Hồ Ngọc Đại giảo biện rằng “học sinh
lại được tiếp tục rút ra các khái niệm khoa học từ các thao
tác như phát âm, phân tích bằng tay, bằng miệng, nhận xét
luồng hơi khi phát âm để nhận ra đâu là nguyên âm, đâu là phụ
âm” Quả thật, Hồ Ngọc Đại đã quên rằng các học sinh mẫu
giáo và lớp 1 này là người Việt nói tiếng mẹ đẻ là tiếng
Việt, nên khi chúng phát âm không cần phải múa tay, múa chân,
và một cách tự  nhiên chúng không phải vặn môi, bẻ lưỡi để
nhận xét luồng hơi thở ra khi phát âm là âm vị nguyên âm hay
phụ âm. Rõ ràng Hồ Ngọc Đại còn đi luôn một hơi quá trớn.
Hồ Ngọc Đại nói khoa trương thêm “đồng thời hiểu một cách cụ
thể vì sao nó là nguyên âm và vì sao nó lại là phụ âm. Sau
đó học cách ghi lại các âm đó bằng các kí hiệu.  Ký Hiệu
mà Hồ Ngọc Đại đề cập đến là Chữ Cái mà bây giờ gọi là
Con Chữ. Người ta không nói Chữ Cái là Ký Hiệu. Người ta nói
Ký Hiệu khi đề cập tới những dấu Ký Hiệu Phiên Âm hay dấu
Ký Âm.
Với mục đích cho người nước ngoài tự học giỏi tiếng Việt
và phát âm đúng chuẩn tiếng Việt ở ba miền Bắc, Trung, Nam,
vào năm 2005 đã có xuất bản quyển sách TIẾNG VIỆT DỄ HIỂU
CHO QUÍ VỊ – SIMPLE VIETNAMESE FOR YOU.  Trong cuốn sách này có
một hệ thống dấu Ký Hiệu Phiên Âm tiếng Việt được sử dụng
theo hệ thống dấu ký âm quốc tế của Hiệp Hội Ngữ Âm Quốc
Tế – International Phonetic Association IPA. Bằng một hệ thống
Dấu Ký Âm Quốc Tế – International Phonetic Alphabet rất hoàn
chỉnh. Tiếng Việt trong cuốn sách Simple Vietnamese For You đã
được đưa lên ngang hàng với tiếng Anh, tiếng Pháp.  Sau mười ba
năm được bán trên khắp thế giới, cuốn sách này vẫn còn bán
trên mạng Amazon theo Link :
https://www.amazon.com/s?k=SIMPLE+VIETNAMESE+FOR+YOU&ref=nb_sb_noss_2
Theo chương trình dạy tiếng Việt của Hồ Ngọc Đại, hai tuần
lễ đầu vào học “thầy cô giáo cho một câu thơ, một câu ca dao nào
đó rồi hướng dẫn các em học thuộc lòng theo 4 mức độ: to, nhỏ, nhẩm,
thầm để các em khắc sâu hơn lời nói để tiện tách ra thành từng tiếng
rời nhau”.  Hướng dẫn để học sinh học thuộc lòng là phương
cách Học Vẹt.  Thầy cô giáo và học sinh đã phí thời gian hai
tuần lễ làm việc vô ích; trong khi đó nếu học sinh được học
bảng chữ cái tiếng Việt thì chúng sẽ biết chính xác chữ
cái nào là nguyên âm, chữ cái nào là phụ âm.  Cái độc nhất
vô nhị nhưng độc hại và vô duyên của Hồ Ngọc Đại là yêu cầu
thầy cô giáo dạy tiếng mẹ đẻ cho học sinh nhỏ mới học lớp
vỡ lòng cùng tiếng mẹ đẻ phải “hướng dẫn các em học thuộc
lòng theo 4 mức độ: to, nhỏ, nhẩm, thầm để các em khắc sâu hơn lời
nói”  Đúng là chưa có thời kỳ nào thầy cô giáo lớp mẫu giáo
và lớp 1 ở Việt Nam bị hành hạ khổ sở như vào thời kỳ
này. Đúng là chưa có một nước nào dạy tiếng mẹ đẻ cho con
cháu của mình lại rất hài hước “to, nhỏ, nhẩm, thầm” như Hồ
Ngọc Đại vậy.  Ở đây xin nhắc lại rằng các em học sinh nhỏ
tự nhiên biết nói tiếng Việt mẹ đẻ của chúng trước khi đi
học lớp mẫu giáo và lớp 1.
Phương pháp dạy và học một ngôn ngữ, một tiếng nói phải
giản dị, dễ hiểu. Ngược lại, thật sự Hồ Ngọc Đại đã bày
ra nhiều trò làm cho việc dạy và học tiếng Việt trở nên
rườm rà, phức tạp ngay từ bước đầu.  Bởi vì “Sau phần học
TIẾNG mới được tìm hiểu cấu trúc ngữ âm, vần, luật chính tả, nguyên
âm đôi và phần cuối là luyện tập tổng hợp”,
Có lẽ khi soạn chương trình dạy và học Tiếng Việt 1 Công
Nghệ Giáo Dục, Hồ Ngọc Đại đã không tự đặt mình vào vị
trí của các em học sinh nhỏ học mẫu giáo và lớp 1. Trước
hết, trong quá trình phát triển kiến thức của trẻ em, các em
học sinh nhỏ tiếp thu sự hiểu biết trực tiếp bằng hình ảnh
và liên kết hình ảnh với ý nghĩa. Hồ Ngọc Đại đã dùng
hình tròn, hình vuông, hình tam giác để mô hình hoá rất
nhiều tiếng, nhiều chữ khác nhau có ý nghĩa khác nhau; như
vây Hồ Ngọc Đại không đạt mục đích là thể hiện được chính
xác những tiếng, những chữ mà hình tròn, hình vuông, hình
tam giác được dùng đề thể hiện chúng. Tại sao không dùng
những hình ảnh minh hoạ? Những hình ảnh minh hoạ sẽ giúp cho
các em học sinh nhỏ vui mắt, vui miệng khi được thầy cô giáo
nói lên rồi các em học sinh nhỏ lặp lại, và sẽ ghi nhớ ngay
khi liên kết chúng với ý nghĩa thực tế của các đồ vật, sự
việc
Trên thực tế thật đáng tiếc cho Hồ Ngọc Đại đã cóp nhặt,
bắt chước người khác, nhưng làm không đúng mục đích và yêu
cầu. Nếu Hồ Ngọc Đại đã có mục đích và yêu cầu là âm mưu
PHÁ  HOẠI TIẾNG VIỆT, thì việc làm phá hoại đó phải để cho
toàn thể người Việt ở khắp mọi nơi xét xử.  Từ lâu trên thực
tế các trường mẫu giáo và lớp 1 ở Singapore và Malaysia đã
áp dụng phương pháp hình học ô vuông hoặc vòng tròn hoặc tam
giác để dạy các em học sinh nhỏ tách ra đếm số vần hay số
âm tiết của một chữ có nhiều âm, nhiều vần. Tuy nhiên, trẻ em
lớp mẫu giáo và lớp 1 ở Singapore và Malaysia học tiếng Anh
Đa Âm nhiều vần nhiều âm tiết; chúng rõ ràng không học tiếng
Việt Đơn Âm một chữ một âm.
Các thứ tiếng như tiếng Anh có nhiều vần hay âm tiết mới cần
phát âm đúng trọng âm của nó, còn tiếng Việt đơn âm mỗi chữ
có dấu giọng riêng biệt của nó với một ý nghĩa khác nhau,
nên không cần phát âm theo trọng âm.
Tóm lại, Hồ Ngọc Đại đã SAI TỪ CĂN BẢN CỦA TIẾNG VIỆT.
Thật đáng tiếc./.
Nguyễn Thành-Trí, Sài Gòn 13/9/2018

Đã xem 4924 lần

Chúng tôi nhận thiết kế website hoặc hướng dẫn tạo website riêng với giá phải chăng.
Xin liên lạc Email: baotoquoc@hotmail.com

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.